Đề tài: Giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT hiện nay trong dạy học môn Giáo dục
công dân
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình lịch sử của mỗi dân tộc, giá trị bao giờ cũng đóng
một vai trò chỉ đạo và định hƣớng cho xã hội theo những mục tiêu to lớn
đƣợc coi là có ý nghĩa cho sự tồn tại và phát triển của dân tộc ấy. Tuy
nhiên, do sự phát triển nhanh chóng và nhiều mặt của thế giới ngày nay và
nền kinh tế thị trƣờng đang tác động trực tiếp đến mọi quốc gia, đã và đang
dẫn tới nguy cơ làm xói mòn nhiều giá trị tinh thần nói chung và giá trị đạo
đức nói riêng, vốn đƣợc xem là truyền thống đạo đức của các dân tộc và
của toàn thể nhân loại.
Lịch sử Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc,
quá trình đó đã rèn luyện và hun đúc nên những thế hệ con ngƣời Việt Nam
giàu lòng yêu nƣớc, thƣơng yêu con ngƣời, thƣơng yêu đồng loại, có tinh thần
bất khuất, chịu đựng gian khổ, khó khăn… Những đức tính đó đã trở thành
truyền thống mà hàng ngàn đời nay, những thế hệ con ngƣời Việt Nam đã
cùng nhau nâng niu và gìn giữ. Bên cạnh đó, quá trình toàn cầu hóa đã và
đang đem lại cho dân tộc ta cơ hội tiếp thu và chia sẻ các giá trị đạo đức mới.
Điều đó có nghĩa là, giá trị truyền thống hoàn toàn có cơ hội tìm đƣợc vị thế
của mình trong hệ giá trị hiện đại của dân tộc, có cơ hội đƣợc làm phong phú
thêm bằng việc tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Nhƣng cũng
đồng thời với quá trình mở cửa hội nhập đó, sự xâm nhập của văn hóa và lối
sống ngoại lai cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với hệ giá trị
truyền thống. Trong đời sống xã hội, đã có những biểu hiện coi nhẹ những giá
trị truyền thống, chạy theo thị hiếu không lành mạnh, nhất là trong giới trẻ.
Nhận thức đƣợc điều đó, tại Hội nghị Trung Ƣơng 7 khóa X, Đảng ta đã
khẳng định “Từ nay đến năm 2020, tiếp tục xây dựng thế hệ thanh niên Việt
Nam giàu lòng yêu nước, tự cường dân tộc; kiên định lý tưởng độc lập dân
2. Lịch sử nghiên cứu
Trong bất cứ xã hội nào, thời đại nào cũng đều tồn tại các mối quan hệ
giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng, xã hội. Việc giải quyết
những vấn đề nảy sinh trong các mối quan hệ đó đòi hỏi phải có quá trình giáo
2
Đề tài: Giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT hiện nay trong dạy học môn Giáo dục
công dân
dục đạo đức, giáo dục giá trị. Ngày nay, Tâm lí học và Giáo dục học hiện đại
đã chỉ ra rằng, con ngƣời chỉ có đạo đức và thực hiện hành vi đạo đức khi họ
biết sống thực với những giá trị của mình và thể hiện những giá trị đó một cách
tích cực trong mối quan hệ với ngƣời khác, với xã hội. Do vậy, giáo dục giá trị
vừa là nền tảng, vừa là nội dung của quá trình giáo dục đạo đức cho con ngƣời.
Ở Việt Nam, giáo dục giá trị sống còn là một vấn đề khá mới mẻ. Tuy
nhiên, việc đƣa nội dung này vào giáo dục trong các trƣờng phổ thông đã
bƣớc đầu có sự quan tâm của Bộ Giáo dục và đào tạo cũng nhƣ các nhà
nghiên cứu tâm lý, giáo dục học và các lực lƣợng giáo dục trong toàn xã hội.
Trong số các công trình nghiên cứu về vấn đề này phải kể đến:
Công trình “Giá trị - định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị”
thuộc đề tài khoa học cấp nhà nƣớc mã số KX – 07 – 04, 1995 do GS.
Nguyễn Quang Uẩn làm chủ nhiệm đã trình bày tƣơng đối đầy đủ, toàn diện
về hệ thống thang bậc giá trị, sự hình thành định hƣớng giá trị nhân cách cũng
nhƣ quá trình giáo dục giá trị.
Hội nghị khoa học “Nghiên cứu con người, giáo dục phát triển và thế kỷ
XXI” tổ chức tháng 7 năm 1994 tại Hà Nội và chƣơng trình khoa học cấp nhà
nƣớc do GS.TSKH Phạm Minh Hạc chủ nhiệm đề tài KX – 07: “Con người
Việt Nam – Mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội” đã đề cập
đến vấn đề giá trị và định hƣớng giá trị của con ngƣời Việt Nam hiện nay.
- Luận văn thạc sĩ của Lê Thị Thanh Huyền “Định hướng giá trị nhân
cách của sinh viên trường Đại học Hải Phòng”, trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà
Nội, 2007.
- Tác giả Phạm Minh Hạc: “Giáo dục giá trị”, tạp chí Nghiên cứu con
ngƣời, số 37, 2008.
- Tác giả Văn Thị Hằng với luận văn thạc sĩ Giáo dục học “Biện pháp
giáo dục truyền thống hiếu học cho học sinh THCS thị xã Sầm Sơn – Thanh
Hóa”, trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 2008.
Nhìn chung các công trình đi trƣớc đã có những phân tích và luận giải
sâu sắc và có hệ thống về giáo dục giá trị. Những kết quả của các công trình
nghiên cứu đó sẽ là những gợi ý, chỉ dẫn cho cơ sở lý luận của luận văn. Việc
4
Đề tài: Giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT hiện nay trong dạy học môn Giáo dục
công dân
tác giả lựa chọn đề tài “Giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT hiện nay
trong dạy học môn Giáo dục công dân” có sự kế thừa các kết quả ở các công
trình nghiên cứu đi trƣớc nhƣng không trùng lặp với các công trình đó.
3. Mục đích của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng giáo dục giá trị sống cho học sinh trong nhà trƣờng,
từ đó đề xuất một số phƣơng pháp giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT
hiện nay trong dạy học môn GDCD.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài.
- Xây dựng một số phƣơng pháp giáo dục giá trị sống cho học sinh
THPT trong dạy học môn Giáo dục công dân hiện nay.
- Thực nghiệm sƣ phạm để kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài.
- Phƣơng pháp xử lý kết quả thực nghiệm
- Phƣơng pháp logic – lịch sử
- Phƣơng pháp phân tích – tổng hợp
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo,
phụ lục, kết cấu của luận văn gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của giáo dục giá trị sống cho học
sinh THPT hiện nay
Chƣơng 2. Quy trình và điều kiện thực hiện giáo dục giá trị sống cho học
sinh THPT hiện nay trong dạy học môn Giáo dục công dân
Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm
6
Đề tài: Giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT hiện nay trong dạy học môn Giáo dục
công dân
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA GIÁO DỤC GIÁ
TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH THPT HIỆN NAY
1.1. Cơ sở lý luận của giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT hiện nay
1.1.1.Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Giá trị
Lí luận về giá trị đã có từ thời xa xƣa nhƣng lại gắn liền với sự ra đời,
phát triển của triết học. Chỉ đến cuối thế kỷ XIX, giá trị học mới tách thành
một lĩnh vực khoa học độc lập và từ đây, thuật ngữ giá trị mới đƣợc sử dụng
với tƣ cách là một khái niệm khoa học.
Giá trị là khái niệm còn nhiều tranh cãi. Đã có rất nhiều quan điểm đƣa
ra khi nói về giá trị:
mà không phụ thuộc vào nhu cầu, ý muốn của con ngƣời.
- Khác với chủ nghĩa duy tâm khách quan, các nhà Triết học theo trƣờng
phái duy tâm chủ quan lại coi giá trị là hiện tƣợng của ý thức, là biểu hiện của
thái độ chủ quan của con ngƣời đối với sự vật, hiện tƣợng. Theo các nhà Triết
học này, mức độ giá trị của sự vật đến đâu là do ý muốn chủ quan của ngƣời
đang xem xét nó. Nhƣ vậy, cùng là một sự vật, hiện tƣợng nhƣng với ngƣời
này là có giá trị còn với ngƣời khác thì không.
- Chủ nghĩa Mác – Lênin đã đƣa ra quan điểm đúng đắn về giá trị. Theo
đó, giá trị là những hiện tƣợng xã hội đặc thù, mọi giá trị đều có nguồn gốc
từ quá trình lao động sáng tạo của quần chúng trong thực tiễn. Giá trị đƣợc
xác định không phải ở các thuộc tính của sự vật mà ở sự cuốn hút của các
thuộc tính ấy vào các lĩnh vực hoạt động khác nhau của con ngƣời, vào hứng
thú và nhu cầu của con ngƣời. Giá trị xuất hiện khi sự vật tham gia vào các
hoạt động của con ngƣời và biểu hiện cƣờng độ của nó trong việc gây ra
những thái độ nhất định ở chủ thể hoạt động. Thực tiễn là tiêu chuẩn khách
quan của giá trị, đồng thời là cơ sở để xác định bản chất của giá trị.
Đạo đức học nghiên cứu khái niệm giá trị trong một khuôn khổ hẹp hơn,
đó là đời sống đạo đức của con ngƣời trong các mối quan hệ xã hội. Theo
quan điểm của các nhà Đạo đức học, phạm trù “đạo đức” chính là giá trị và
giá trị nào cũng đƣợc hình thành trong các mối quan hệ đạo đức. Giá trị
8
Đề tài: Giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT hiện nay trong dạy học môn Giáo dục
công dân
trong Đạo đức học luôn gắn liền với những khái niệm trung tâm nhƣ: cái
thiện, cái ác, công bằng, bình đẳng, bác ái.
Dƣới góc độ của Giáo dục học, có thể hiểu giá trị là phẩm chất tốt hay
xấu, tác dụng lớn hay nhỏ của sự vật hay của con ngƣời, là cái làm cho vật
- Đƣợc hiểu theo hai góc độ: vật chất và tinh thần. Giá trị vật chất là giá
trị đo đƣợc bằng tiền bạc dƣới góc độ kinh tế, còn giá trị tinh thần tạo cho con
ngƣời khoái cảm, hứng thú và sảng khoái.
- Là một phạm trù lịch sử vì giá trị thay đổi theo thời gian, theo sự biến
động của xã hội, phụ thuộc vào tính dân tộc, tôn giáo và cộng đồng.
1.1.1.2. Giá trị sống và giáo dục giá trị sống
Giá trị sống
Vấn đề giáo dục giá trị sống đã đƣợc một số nƣớc chú ý từ vài thập kỷ
cuối của thế kỷ XIX. Đến đầu thế kỷ XX, một số tổ chức quốc tế và nhiều
quốc gia đã có chƣơng trình, tổ chức chuyên trách về giáo dục giá trị sống.
Vào tháng 8 năm 1996, 20 nhà giáo dục trên khắp thế giới đã tập hợp tại trụ
sở của UNICEF ở thành phố New York để thảo luận về nhu cầu của trẻ em,
những trải nghiệm khi tiếp xúc với các giá trị của chúng và các nhà giáo dục
có thể kết hợp các giá trị này nhƣ thế nào để chuẩn bị cho tất cả mọi ngƣời
một cách tốt hơn cho sự học tập suốt đời. Từ đó, chƣơng trình “Các giá trị
sống: Một sáng kiến giáo dục” (tên viết tắt tiếng Anh là LVEI) đƣợc ra đời.
Hƣởng ứng hội thảo này, năm 1998, một số nhà Giáo dục học và Tâm lý
học thuộc một số bang của Mỹ đã tổ chức các hoạt động giáo dục giá trị sống,
tập trung vào bậc tiểu học và trung học cơ sở. Năm 2000, Mỹ lập ra một
chƣơng trình và tổ chức phi lợi nhuận về vấn đề này gọi là “Chương trình
giáo dục các giá trị sống” (Living Values Education Program - LVEP). Trên
cơ sở đó, khái niệm giá trị sống đã đƣợc quan niệm nhƣ sau:
Giá trị sống (living values) là những điều chúng ta cho là quý giá, là
quan trọng, là có ý nghĩa đối với cuộc sống của mỗi người.
Giá trị sống trở thành động lực để ngƣời ta nỗ lực phấn đấu để có đƣợc
nó. Giá trị sống mang tính cá nhân, không phải giá trị sống của mọi ngƣời đều
giống nhau.
10
bao gồm những giá trị sống cho trẻ từ 3 đến 7 tuổi; những giá trị sống cho trẻ
từ 8 đến 10 tuổi; những giá trị sống dành cho tuổi trẻ trong đó giai đoạn vị
thành niên (9 – 10 tuổi đến 17 – 18 tuổi) là giai đoạn có ý nghĩa nhất.
11
Đề tài: Giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT hiện nay trong dạy học môn Giáo dục
công dân
Phân loại giá trị sống
Có nhiều cách phân loại giá trị sống, tùy theo cách tiếp cận mà nó đƣợc
phân loại thành nhiều cách khác nhau.
Theo cách tiếp cận của PGS.TS. Nguyễn Công Khanh, ông đã đƣa ra
những giá trị sống có vai trò rất quan trọng, không thể thiếu hụt ở lứa tuổi học
sinh bao gồm 10 giá trị sống:
1. Giàu tình yêu thƣơng
2. Trung thực
3. Biết quan tâm đến ngƣời khác
4. Ham học hỏi
5. Siêng năng
6. Sống tôn trọng luật pháp
7. Yêu hòa bình
8. Biết nhận lỗi và biết tha thứ
9. Sống chủ động, tự tin
10.Chấp nhận thử thách và luôn vƣợt khó
Theo nhà tâm lý học xã hội Rokeach.M đã phân chia hệ thống giá trị
sống bao gồm 36 giá trị:
23. Dũng cảm (luôn có niềm tin vững vàng)
24. Tha thứ (rộng lƣợng trƣớc lỗi lầm của ngƣời khác)
25. Hữu ích (làm việc vì lợi ích của ngƣời khác)
26.Trung thực
27. Giàu trí tƣởng tƣợng (tái tạo và sáng tạo)
28.Tự lập (tự lực cánh sinh và không phụ thuộc vào ngƣời khác)
29. Trí tuệ (thông minh và phản ứng nhanh)
30. Phù hợp, hợp lý
31.Tình yêu thƣơng (tình cảm và dịu dàng)
32. Trung thành (luôn trung thành với bạn bè và nhóm của mình)
33. Lễ phép (hiếu thảo và tôn trọng)
13
Đề tài: Giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT hiện nay trong dạy học môn Giáo dục
công dân
34. Lịch sự
35. Có trách nhiệm (con ngƣời đáng tin cậy)
36. Tự kiểm soát (tự hạn chế và tự kỷ luật)
Theo những tài liệu về giáo dục giá trị sống của Liên Hợp Quốc, Diane
Tillman chia thành 12 giá trị sống cơ bản dành cho tuổi trẻ gồm:
1. Giá trị hòa bình
2. Giá trị hợp tác
3. Giá trị hạnh phúc
4. Giá trị yêu thƣơng
5. Giá trị khoan dung
6. Giá trị khiêm tốn
7. Giá trị trách nhiệm
8. Giá trị trung thực
kỳ khiến cho lý tƣởng của các nhà giáo dục trở thành hiện thực, song nó là
con đƣờng cơ bản để thế hệ trẻ vừa có đƣợc cuộc sống hạnh phúc hơn trong
hiện tại đồng thời xây dựng cho mình một tƣơng lai bền vững và an toàn.
Nói về giáo dục giá trị nói chung, tác giả Phan Thanh Long định nghĩa:
“Giáo dục giá trị là quá trình nhà giáo dục tổ chức, hướng dẫn, điều khiển,
định hướng, kích thích hoạt động tự giác, tích cực và chủ động của người
được giáo dục; qua đó giúp họ lĩnh hội được các giá trị xã hội, hình thành
nên hệ thống giá trị của cá nhân phù hợp với mong đợi của xã hội” [6, 138].
Giáo dục giá trị có mục tiêu là làm cho ngƣời đƣợc giáo dục:
- Nhận thức đƣợc kiến thức văn hóa, khoa học, kỹ thuật nghề nghiệp mà
họ đang học trong trƣờng là hết sức cần thiết, có ý nghĩa thiết thực với họ
trong sự phát triển tiếp tục cũng nhƣ ứng dụng trong đời sống.
- Có thái độ trân trọng, yêu quý, cố gắng lĩnh hội và thực hiện đƣợc các
giá trị nêu trên, đồng thời không tán thành, không chấp nhận những giá trị
phản lại các giá trị đó, đấu tranh bảo vệ những giá trị chân chính, đích thực
của xã hội.
- Có hành động thực tiễn thể hiện ở việc học tập, nghiên cứu, chiếm lĩnh
bằng đƣợc kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo văn hóa, khoa học, nghề nghiệp… thể
15
Đề tài: Giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT hiện nay trong dạy học môn Giáo dục
công dân
hiện ở sự quan tâm, gắn bó với công việc, sự nghiệp của cá nhân và có trách
nhiệm với xã hội…
Mục đích và nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục giá trị đòi hỏi phải làm cho hệ
thống giá trị mà xã hội mong đợi chuyển thành hệ giá trị trong mỗi cá nhân
ngƣời đƣợc giáo dục để tạo ra các hành vi, hành động, hoạt động thống nhất với
hệ giá trị đó. Mặt khác, nhân cách chính là sự biểu thị mối quan hệ, mức độ phù
sống là quá trình nhà giáo dục tác động, kích thích, hướng dẫn người được
giáo dục, giúp họ tự nhận thức, có thái độ trân trọng và tích cực thể hiện
những giá trị sống của bản thân với người khác và với cộng đồng.”
1.1.2. Những giá trị sống cơ bản cần thiết cho học sinh Trung học phổ thông
Nội dung giáo dục giá trị sống đã đƣợc tổ chức UNESCO quan tâm từ
rất sớm trong Chƣơng trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Trong bốn
trụ cột giáo dục đƣợc tổ chức này đƣa ra (Learning to know – Học để biết,
Learning to do – Học để làm, Learning to be – Học để làm ngƣời, Learning to
live together – Học để cùng chung sống) thì nội dung “Học để cùng chung
sống” là nội dung cốt lõi nhất, đƣợc các nhà giáo dục thuộc tổ chức UNESCO
rất coi trọng. Nội dung giáo dục giá trị sống đƣợc xác định là nội dung cơ bản
trong trụ cột giáo dục này với mục tiêu nhƣ sau:
- Về kiến thức: Cần làm cho học sinh biết đƣợc những biểu hiện của các
giá trị truyền thống và hiện đại nhƣ lòng yêu nƣớc, tình thƣơng yêu, lòng
khoan dung, tinh thần trách nhiệm, sự hòa hợp và sự quan tâm, chia sẻ trong
cuộc sống hàng ngày; biết đƣợc ý nghĩa của các phẩm chất này trong việc
chung sống hòa bình với mọi ngƣời và với thiên nhiên.
- Về kỹ năng: Học sinh biết thể hiện lòng yêu nƣớc, tình yêu thƣơng,
lòng khoan dung, tinh thần trách nhiệm, sự hòa hợp và sự quan tâm, chia sẻ
với mọi ngƣời xung quanh và với thiên nhiên.
- Về thái độ: Học sinh đồng tình, ủng hộ những hành vi, việc làm thể
hiện lòng yêu nƣớc, tình yêu thƣơng, lòng khoan dung, tinh thần trách nhiệm,
sự hòa hợp và quan tâm, chia sẻ với mọi ngƣời xung quanh và với thiên nhiên.
Với những mục tiêu đó, nội dung giáo dục giá trị sống dành cho học sinh
trung học cơ sở và trung học phổ thông bao gồm các chủ đề sau đây:
17
Đề tài: Giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT hiện nay trong dạy học môn Giáo dục
Giản dị, tiết kiệm
Định hƣớng tƣơng lai
Bên cạnh những nội dung giáo dục giá trị sống mà tổ chức UNESCO
đƣa ra, Chƣơng trình giáo dục những giá trị sống (LVEP) với sự hợp tác của
các nhà giáo dục trên thế giới, đƣợc sự hỗ trợ của UNESCO, Ủy ban quốc gia
về UNICEF của Tây Ban Nha và các tổ chức quốc tế khác cũng đã tổng kết và
đƣa ra 12 giá trị sống cơ bản cho trẻ em trên toàn cầu. Đó là các giá trị: hòa
bình, hợp tác, hạnh phúc, yêu thương, khoan dung, khiêm tốn, trách nhiệm,
trung thực, tự do, tôn trọng, giản dị và đoàn kết. Trong những nội dung đó
có ba giá trị sống cốt lõi nhất là giá trị hòa bình, tình yêu thương và tôn trọng.
Học sinh trong quá trình phát triển nhân cách nếu đƣợc sớm hình thành và tôn
vinh các giá trị đích thực của mình thì các em sẽ có một nhân cách phát triển
18
Đề tài: Giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT hiện nay trong dạy học môn Giáo dục
công dân
toàn diện bền vững, có khả năng thích ứng và chống chọi với mọi biến động
xã hội, biết tự khẳng định mình trong cuộc sống bằng chính những giá trị cốt
lõi đƣợc các em cảm nhận.
Nhƣ vậy, giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT không phải là một sự
giáo dục lan man, không có chủ đề, định hƣớng giá trị mà đó là một sự giáo
dục có chọn lọc, có xác định mục tiêu trọng tâm và giá trị cốt lõi, phù hợp với
đặc điểm tâm sinh lý của các em, sát với các chủ đề trong nội dung giáo dục
giá trị sống cho học sinh THPT: Hòa bình; Quyền con ngƣời; Dân chủ; Sự
phát triển bền vững.
1.1.3. Các phương pháp giáo dục giá trị sống cho học sinh Trung học
suy nghĩ.
Những điều Nên đối với nhà giáo dục giá trị sống:
- Tin tƣởng vào học sinh và năng lực của họ.
- Kiên nhẫn và có kỹ năng lắng nghe tốt.
- Ý thức về bản thân và sẵn sàng học những kỹ năng mới.
- Tự tin nhƣng không kiêu căng.
- Có kinh nghiệm sống và biết suy xét.
- Tôn trọng ý kiến của ngƣời khác, không áp đặt ý kiến của mình.
- Thực hành tƣ duy sáng tạo và khai phá.
- Có khả năng tạo bầu không khí tin tƣởng lẫn nhau.
- Linh động trong việc sử dụng các kỹ thuật điều động nhóm.
- Có kiến thức về tâm lý phát triển nhóm, bao gồm khả năng nắm bắt
bầu không khí nhóm, để kịp thời thay đổi phƣơng pháp.
- Biết sắp xếp phòng ốc, thiết bị để tạo bầu không khí hấp dẫn.
Đặc biệt ngƣời dạy phải nắm vững “tính năng động của nhóm” và có
những kỹ năng tác động vào nhóm để:
- Tạo bầu không khí dân chủ, thoải mái để nhóm viên đƣa ra những kinh
nghiệm, những nhận thức mới hay những quyết định hành động.
- Tác động kịp thời khi nhóm bế tắc, để thay đổi quy trình nhóm cho
phù hợp.
- Biết tạo bầu không khí tranh luận sôi nổi để cọ xát các giá trị, các lập
trƣờng khác nhau nhằm giúp học viên chấp nhận hay không chấp nhận những
ý kiến khác biệt.
20
Đề tài: Giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT hiện nay trong dạy học môn Giáo dục
công dân
- Biết nắm phản hồi của nhóm khi sinh hoạt kết thúc.
Đề tài: Giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT hiện nay trong dạy học môn Giáo dục
công dân
nó phải tƣơng đối phức tạp, với các dạng nhân vật và những hoàn cảnh khác
nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản.
Tình huống đƣợc xây dựng hay tuyển chọn cần sát với mục tiêu cần hình
thành ở học sinh. Giáo viên là ngƣời hiểu rõ tình huống và mục đích giáo dục
có thể đạt đƣợc từ tình huống.
1.1.3.5. Phương pháp trò chơi
Phƣơng pháp trò chơi cũng là phƣơng pháp hiệu quả, là sự tổ chức cho
học sinh chơi một trò chơi nào đó để thông qua đó mà tìm hiểu một vấn đề,
biểu hiện thái độ hay thực hiện hành động, việc làm.
Phƣơng pháp trò chơi có ƣu điểm sau:
- Qua trò chơi, học sinh có cơ hội để thể nghiệm những thái độ, hành vi,
bởi cá nhân thể hiện nhƣ thế nào trong trò chơi thì phần lớn cá nhân đó thể
hiện nhƣ thế trong cuộc sống thực. Chính nhờ sự thể nghiệm này sẽ hình
thành đƣợc ở học sinh niềm tin vào những thái độ, hành vi tích cực, tạo ra
động cơ bên trong cho những hành vi ứng xử trong cuộc sống.
- Qua trò chơi, học sinh sẽ đƣợc rèn luyện khả năng quyết định lựa chọn
cho mình cách ứng xử đúng đắn, phù hợp trong tình huống.
- Qua trò chơi, học sinh đƣợc hình thành năng lực quan sát, đƣợc rèn
luyện kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi.
- Bằng trò chơi, việc học tập đƣợc tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh
động, không khô khan, nhàm chán. Học sinh đƣợc lôi cuốn vào quá trình học
tập một cách tự nhiên, hứng thú và có tinh thần trách nhiệm, đồng thời giải trừ
đƣợc những mệt mỏi, căng thẳng trong học tập.
- Trò chơi còn giúp tăng cƣờng khả năng giao tiếp giữa học sinh với học
sinh, giữa giáo viên với học sinh.
1.1.3.6. Phương pháp hoạt động nhóm
pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách
tập trung vào một sự kiện cụ thể mà họ quan sát đƣợc. Việc “diễn” không
phải là phần chính của phƣơng pháp này, mà hơn thế, điều quan trọng là sự
thảo luận sau phần diễn ấy.
Thay đổi hành vi luôn luôn là việc khó. Nếu chỉ dừng lại ở việc học và
thực hành trải nghiệm các giá trị trong các tình huống giả định đƣợc ra trong
khi học thì chƣa thể đảm bảo học sinh sẽ có hành vi tích cực bền vững. Do đó,
23
Đề tài: Giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT hiện nay trong dạy học môn Giáo dục
công dân
quá trình học này còn tiếp nối trong quá trình vận dụng những điều học vào
thực tiễn, duy trì những hành vi lành mạnh, tránh tái phạm những thói quen cũ.
Vì vậy, giáo dục giá trị sống đòi hỏi học sinh luôn có ý thức vận dụng, củng
cố những hành vi tích cực, đồng thời tránh lặp lại những thói quen, hành vi
tiêu cực. Điều này càng đòi hỏi vai trò chủ thể, tích cực cao hơn ở học sinh
trong quá trình học về giá trị sống.
1.1.3.8. Phương pháp tưởng tượng/nội suy
Các hoạt động tập trung tƣởng tƣợng và suy ngẫm yêu cầu học sinh đƣa
ra những ý tƣởng của riêng mình. Ví dụ, học sinh đƣợc yêu cầu hình dung về
một thế giới hòa bình. Khi mƣờng tƣợng ra những giá trị đƣợc ứng dụng, học
sinh có thể trải nghiệm và suy ngẫm về những ý tƣởng của mình.
Hình thức hoạt động tập thể này hƣớng mọi ngƣời tập trung vào mục
đích chung. Con ngƣời với mục đích chung có thể học cách giữ sự cam kết
trong nhóm bằng cách tạo những hình ảnh tƣởng tƣợng về tƣơng lai và hình
thành những nguyên tắc hành động. Những bài luyện tập này chính là hạt
giống suy nghĩ ban đầu sẽ giúp mọi ngƣời đạt đƣợc điều mình mong muốn
Nghệ thuật là phƣơng tiện tuyệt vời để thể hiện những ý tƣởng, cảm
nhận các giá trị một cách sáng tạo, và biến những giá trị ấy thành của mình.
Chẳng hạn có thể kết hợp giữa vẽ, chơi trò chơi với trình diễn nghệ thuật,
hoặc nhảy múa kết hợp với âm nhạc… Điều này rất tốt cho việc biểu lộ và
phát huy tinh thần tập thể. Thông qua các hoạt động ấy, học sinh sẽ tự liên hệ
với những giá trị vốn có sẵn của bản thân để nhận ra những gì mình thực sự
muốn nói. Sự đa dạng của các loại hình nghệ thuật có thể giúp học sinh hứng
thú hơn. Một môi trƣờng học tập nhƣ thế sẽ tạo điều kiện cho mỗi ngƣời tỏa
sáng, giúp các em biết khai thác những tiềm năng to lớn ẩn chứa trong mình.
Giáo dục giá trị sống là giúp học sinh nâng cao năng lực để tự lựa chọn giữa
những giải pháp khác nhau. Quyết định phải xuất phát từ học sinh. Vì thế học phải
hết sức gần gũi với cuộc sống hay ngay trong cuộc sống. Nội dung học phải xuất
phát từ chính nhu cầu và kinh nghiệm của học sinh. Học sinh cần có điều kiện để
cọ xát các ý kiến khác nhau, trao đổi kinh nghiệm, tập tành, thực hành, áp dụng.
Học sinh phải tham gia chủ động, vì có thế học sinh mới thay đổi hành vi.
Nhƣ vậy, việc vận dụng phối hợp và linh hoạt các phƣơng pháp trên sẽ
mang lại hiệu quả cao trong giáo dục giá trị sống cho học sinh, giúp các em
nhận thức về những giá trị truyền thống và nhân loại và dần dần những giá trị
ấy hình thành trong nhân cách của học sinh.
25