truyền tải giá trị sống cho học sinh trung học phổ thông nội thành hà nội thông qua nghệ thuật điện ảnh - Pdf 24

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
TRƯỜNG THPT CHU VĂN AN – TÂY HỒ - HÀ NỘI
**************
ĐỀ TÀI DỰ THI KHOA HỌC, KỸ THUẬT
DÀNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CẤP THÀNH PHỐ
LẦN THỨ TƯ (NĂM HỌC 2014 - 2015).
Tên đề tài: TRUYỀN TẢI GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG NỘI THÀNH HÀ NỘI THÔNG QUA NGHỆ THUẬT ĐIỆN ẢNH
Lĩnh vực: Khoa học xã hội và hành vi
NGƯỜI HƯỚNG DẪN
- NSƯT Nguyễn Hữu Phần
- Đơn vị công tác Hội Điện ảnh
Việt Nam
TÁC GIẢ:
1.Nguyễn Thị Bằng Thi Lớp: 11D3
Trường: THPT Chu Văn An
2. Trần Thu Thảo Lớp: 11 Văn
Trường: THPT Chu Văn An
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
1
MỤC LỤC
Phần I: Lí do chọn đề tài………………………………………….……… 2
Phần II: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và điểm mới………………………3
Phần III: Quá trình nghiên cứu và kết quả…………………………………4
Phần IV: Kết luận………………………………………………………….24
Tài liệu tham khảo…………………………………………………………25
PHẦN I: LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chương trình giáo dục đã được cải tiến, điều kiện sống, học tập của học sinh
ngày một nâng cao, nhưng nhiều vấn đề tiêu cực như bạo lực, tệ nạn xã hội vẫn gia
tăng, xâm nhập vào trường học. Nguyên nhân cơ bản là do Giới trẻ đang sống
không đúng với Giá trị sống bao gồm các giá trị Hoà Bình, Tôn trọng, Yêu

thành Hà Nội với các tiêu chí giáo dục Giá trị sống.
a. Xã hội phát triển – Hội nhập đã có nhiều thành tựu về Kinh tế, Văn hóa, Xã
hội, Giáo dục, nhưng cũng xuất hiện nhiều vấn đề tiêu cực (mặt trái của cơ chế thị
trường)
b. Ảnh hưởng tiêu cực của xã hội và nhà trường, sự yếu kém về nhân cách,
đạo đức của học sinh và những tiêu chí Giá trị sống.
c. Vấn đề giảng dậy Giá trị sống trong Nhà trường hiên nay. Sự cần thiết phải
bổ xung các hình thức giáo dục để truyền tải Giá trị sống cho học sinh.

2. Những đặc điểm của Nghệ thuật Điện ảnh. Nhu cầu và thực tế tiếp cận Nghệ
thuật Điện ảnh của giới trẻ.
a. Những đặc điểm, khả năng tiếp cận của NT Điện ảnh với xã hội và thanh
niên học sinh.
b. Nhu cầu của học sinh THPT - Những tác động tích cực, tiêu cực của hoạt
động Điện ảnh ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng. Hoạt động phát hành,
phổ biến phim trong sự phát triển của kinh tế thị trường hiện nay.
c. Nâng cao khả năng cảm thụ Nghệ thuật Điện ảnh cho học sinh THPT để
truyền tải Giá trị sống (hướng dẫn cách lựa chọn phim, cách nhận thức đúng đắn
với tác phẩm điện ảnh).
3. Nghiên cứu thực nghiệm về truyền tải, nâng cao giá trị sống của học sính
trường THPT Chu Văn An thông qua nghệ thuật điện ảnh
a. Phương pháp nghiên cứu
b. Kết quả nghiên cứu
4. Tính mới:
Sử dụng các thế mạnh của nghệ thuật điện ảnh để truyền tải thông điệp giáo
dục Giá trị sống là một hình thức giáo dục bổ sung tối ưu nhất hiện nay trong việc
giáo dục phẩm chất đạo đức cho thanh niên học sinh THPT nội thành Hà Nội.
5. Tính sáng tạo:
- Lần đầu tiên thực hiện việc đo giá trị sống của học sinh THPT tại Việt Nam
- Sử dụng câu lạc bộ điện ảnh để nghiên cứu thực nghiệm, giải quyết bài toán về

dân tộc, tôn giáo và cộng đồng.
Giá trị sống: Khái niệm giá trị, Giá trị sống không có sự đối lập hay khác biệt về
bản chất. Giá trị sống (theo Living Values) là tất cả những cái gì có ích lợi, đáng
ham chuộng, quý giá, quan trọng, có ý nghĩa đối với cuộc sống, khiến mỗi người
mong muốn lĩnh hội, thể hiện ra để cuộc sống của mình tốt đẹp hơn và góp phần
cải thiện cuộc sống chung. (theo Diane TillMan –Những giá trị sống tuổi trẻ -
NXB trẻ 2010)
Giá trị sống cũng có nguồn gốc hình thành, biến đổi, duy trì… theo những quy
luật xã hội như giá trị nói chung. Nhưng trong giáo dục hay sự đánh giá Giá trị
sống người ta chủ yếu hướng vào bình diện cá nhân.
Giá trị sống chủ yếu hướng vào những giá trị tinh thần (không đề cập giá trị tiền
bạc, giàu sang, sức khỏe…) và chú ý vào các bình diện:
- Những giá trị phẩm chất nhân cách, đạo đức bản thân. (khoan dung, khiêm tốn,
giản dị, trung thực, yêu thương, hạnh phúc).
- Những giá trị quan hệ liên nhân cách, quan hệ với nhóm, với cộng đồng… (tôn
trọng, hợp tác, đoàn kết, trách nhiệm).
- Đồng thời cũng quan tâm đến một số giá trị chung (Hoà bình, tự do…).
Theo PGS.TS Mạc Văn Trang, có thể hình dung các Giá trị sống được cấu trúc
thành ba vòng tròn: Bên trong cùng (vòng một) là những giá trị phát triển phẩm
chất cá nhân; Vòng tròn hai là những giá trị phát triển quan hệ liên nhân cách;
Vòng ngoài cùng (vòng ba) là những giá trị xã hội, nhân loại rộng lớn. (tất nhiên
cần hiểu một cách tương đối, vì tất cả các Giá trị sống đều hòa trộn vào nhau,
tương tác lẫn nhau, tồn tại trong từng con người cụ thể với tư cách là chủ thể biểu
hiện các Giá trị sống. Giá trị sống là “linh hồn” bên trong, kỹ năng sống là năng
lực biểu hiện giá trị sống ra hành vi bên ngoài. Cho nên giáo dục giá trị sống và
kỹ năng sống không thể tách rời nhau.

o Giới trẻ là cách gọi một bộ phận người được phân biệt bằng độ tuổi. Nhiều
tài liệu xác định giới trẻ là những người có độ tuổi từ 10 đến 29 tuổi, có những tài
12

Nếu phát triển đề tài nghiên cứu và thực nghiệm dựa theo những chỉ dẫn, yêu
cầu của chương trình Giáo dục giá trị sống đã và đang được quốc tế hóa, lại mang
được theo những bản sắc của dân tộc Việt Nam, chắc chắn hoạt động giáo dục sẽ
đạt các kết quả to lớn, sẽ hướng đến sự tôn trọng nhân cách của mỗi người và mọi
người.
b. Cơ sở lý luận được sử dụng trong đề tài.;
Mục tiêu giáo dục phổ thông và mô hình phát triển nhân cách được thể hiện trong
các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước dưới đây: Điều 23 luật giáo dục
của nước CHXHCN VN đã khẳng định: Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp
học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, và các kỹ năng
cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách
và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc
sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Mô hình phát triển nhân cách toàn diện con người Việt Nam thời kỳ Công
nghiệp hóa - Hiện đại hóa là: “Phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH, HĐH
thì mô hình nhân cách đó là một nhân cách phát triển toàn diện. Một nhân cách
gắn bó nhịp nhàng, hài hòa giữa 3 mặt: nội tâm thống nhất, lành mạnh, ổn định,
tích cực ; quan hệ với người khác một cách nhân ái hữu nghị hợp tác; quan hệ
với công việc và sự nghiệp một cách say mê và nhiệt tình, thích ứng và sáng tạo,
hiệu quả và thành đạt”.
- Có thể thêm vào một mục tiêu nữa trong việc giáo dục nhân cách là: Mối quan
hệ giữa mỗi người, mỗi cộng đồng với môi trường sống, sự bình ổn, an toàn cuả
trái đất. Con người cần phải tôn trọng, bảo vệ, tạo sự cân bằng hài hòa cho môi
trường sống của toàn nhân loại.
2. Cơ sở thực tiễn của đề tài.
a. Môi trường xã hội và giới trẻ ngày nay.
Từ gần 30 năm nay, chủ trương Đổi mới – Phát triền – Hội nhập quốc tế và xây
dựng nền kinh tế, xã hội theo cơ chế thị trưởng định hướng XHCN… đã làm cho
đời sống, sinh hoạt của người dân VN ngày càng được nâng cao. Đáng tiếc, một bộ
phận giới trẻ, yếu tố quan trọng quyết định tương lai của đất nước, đang trong giai

b. Giáo dục giá trị sống trong các nhà trường Trung học phổ thông hiện nay.
Từ nhiều năm nay, trong hoạt động giáo dục, chương trình giáo dục giá trị
sống đã được triển khai đồng bộ ở tất cả các ngành học, cấp học, tạo môi trường
giúp cho thanh niên học sinh được “lớn lên trong bầu không khí lấy giá trị làm
nền tảng”;
Giáo dục Giá trị sống là nền tảng để hướng thượng, hướng thiện con người,
định hướng cho ta đến với những giá trị tốt đẹp, rời xa những thói xấu đề tự hoàn
thiện bản thân, góp phần xây dựng môi trường sống xung quanh trở nên tốt đẹp
hơn. Nếu những điều trên đây được nhà trường thực hiện có hiệu quả chắc chắn
trong môi trường giáo dục, tập thể, cá nhân học sinh và cộng đồng xã hội sẽ giảm
thiểu, tiến tới xóa bỏ nạn bạo lực học đường, vi phạm pháp luật và các vụ án hình
sự mà thanh niên học sinh là đối tượng gây án. Hơn thế nữa, nếu tiến hành chương
trình giáo dục Giá trị sống đúng cách và có tác động thực sự, sâu sắc với học sinh,
ta sẽ tạo ra được bầu không khí bình ổn, xây dựng được những trường học thân
thiện, đổi mới thật sự.
Thực tế Giáo dục Giá trị sống trong nhà trường hiện nay: Nhà trường luôn
quan tâm đến giáo dục tri thức KHTN, KHXH, Luật pháp, Giáo dục Công dân,
Sinh hoạt đoàn TNCS… là những nội dung mang tính chính khóa, ngoại khóa của
chương trình giáo dục PTTH. Môn học Đạo đức (cấp Tiểu học) hay Giáo dục công
dân (cấp Trung học cơ sở, Trung học phổ thông) luôn nằm trong chương trình
giảng dậy của thầy cô giáo với đối tượng là học sinh.
Tuy nhiên số giờ dạy, cách thức truyền đạt giá trị sống trong nhà trường còn
chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.
Phân phối chương trình và các hình thức giáo dục Giá trị sống trong
nhà trường THPT
TT
Các hoạt động
trong Nhà trường
Số tiết
trong 1

10 Sinh vật 45 10% Kiến thức về môi
trường
11 Thể dục - Thể thao 45 15% Rèn luyện thể chất
B Các sinh hoạt
ngoại khóa

Số lần
trong 1
năm học
Tỷ lệ % kiến
thức GD
GTS
Hình thức giáo dục
1 Sinh hoạt đoàn
TNCS HCM
10 kỳ 50% Giáo dục lý tưởng và
nhiệm vụ xã
2 Tham quan thực tế 2-4 35% Tìm hiểu đời sống xã
hội và con
3 CLB Mỹ thuật 8 20% Hiểu biết về cái
4 CLB Âm nhạc 8 20% Hiểu biết về cái
5 Tổ chức lễ hội, văn
nghệ
2 30% Tính tập thể đoàn kết,
cái
6 Tổ chức thi đấu
TDTT
2 30% Tính kiên trì, đoà kết,
ý chí rèn luyện, tinh
thần thể

Nghệ thuật Điện ảnh.
1. Nghệ thuật và Nghệ thuật điện ảnh.
a. Nghệ thuật:
Là những hoạt động sáng tạo khác nhau của loài người và những thành quả
được tạo ra trong quá trình sáng tạo đó. Nghệ thuật là "một lĩnh vực đặc biệt của
tâm thức con người” nhằm đưa tới cho nhân loại những hình tượng của hiện thực
cuộc sống với góc nhìn mỹ học mang tính cá thể của chủ thể sáng tạo nghệ thuật.
Nghệ thuật có chức năng chủ yếu là tác động, tạo cảm xúc đồng thời đưa
đến các đối tượng thưởng thức nghệ thuật: Nhận thức – Thẩm mỹ và Giáo dục.
Như vậy có thể nói Tác phẩm Nghệ thuật có những đóng góp tích cực vào
nhu cầu giáo dục và tự giáo dục của con người bằng con đường riêng của Nghệ
thuật.
2. Nghệ thuật Điện ảnh.
Là loại hình nghệ thuật thứ bảy của Nhân loại, Nghệ thuật Điện ảnh tạo ra
những sản phẩm sáng tạo của các nghệ sỹ điện ảnh nhằm tái hiện hiện thực cuộc
sống bằng ngôn ngữ Hình ảnh, Âm thanh và hệ thống công nghệ hiện đại.
Ngay từ khi ra đời (năm 1895) và suốt hơn một thế kỷ phát triển, Điện ảnh đã
khảng định được những đặc điểm ưu việt của nó (là một nghệ thuật tổng hợp, nghệ
thuật Thính - Thị giác, được thực hiện và giao tiếp với khán giả/đối tượng thưởng
thức nghệ thuật bằng hệ thống công nghệ hiện đại) dễ tạo cảm xúc, hình thành ấn
tượng trong tâm thức người xem.
Trong quá trình phát triển (về mặt kỹ thuật) Điện ảnh liên tục phát triển bằng sự
cập nhật những tiến bộ của khoa học kỹ thuật để sáng tạo tác phẩm (từ phim nhựa
đen trắng không tiếng, phim Nhựa đen trắng có tiếng, phim Nhựa mầu, Âm thanh
lập thể, Ấm thanh vòm, phim Video, phim Kỹ thuật số, v.v…). Điện ảnh cũng đã
có nhiều thay đổi trong việc tiếp cận với khán giả qua hệ thống chiếu phim (máy
chiếu phim nhựa hình thức chiếu ở rạp, bãi, phòng chiếu, chiếu phim trên sóng
truyền hình và gần đây được truyền tải trên mạng Internet…).
Nghệ thuật Điện ảnh đặc biệt có sức thu hút rất lớn với giới trẻ, thanh niên học
sinh vì Điện ảnh đáp ứng, phù hợp với những đặc điểm của giới trẻ là tuổi sôi

Inowa, nhà khoa học trẻ đứng đầu nhóm nghiên cứu tâm lý hoc). Điều này cũng
giống như câu tục ngữ của người Trung Quốc: “Tôi nghe và tôi quên, tôi nhìn và
tôi nhớ” hay của Việt Nam “Trăm nghe không bằng một thấy”. Ông Amy
Poremba, phó giáo sư tại Khoa Tâm lý học trường đại học Inowa là một trong
những nhà nghiên cứu về não và sự ghi nhớ đã viết trong một bài báo nghiên cứu
khoa học (được xuất bản trên tạp chí PLoS One) rằng: “Chúng ta có xu hướng
nghĩ rằng các bộ phận của não nối với nhau để tạo nên trí nhớ được tích hợp.
Nhưng những phát hiện của chúng tôi cho thấy não của con người có thể sử
dụng các con đường (pathway) riêng biệt để xử lý thông tin. Hơn thế, nghiên
cứu của chúng tôi cũng cho thấy não bộ có lẽ xử lý các thông tin thính giác
khác biệt so với các thông tin thị giác hay xúc giác, và các chiến lược luân phiên
thay thế nhau - ví dụ như tăng sự lặp lại về thần kinh - có thể là cần thiết khi cố
gắng cải thiện trí nhớ. Khi là giáo viên, chúng ta muốn làm cho sinh viên ghi
nhớ những gì chúng ta giảng. Nhưng nếu bạn thực sự muốn họ nhớ được, có lẽ
bạn cần có các hình ảnh và thí nghiệm thực hành bổ sung cho các thông tin
bằng lời giảng”.
Để nghiên cứu sâu hơn vào mối quan hệ của khán giả Việt Nam nói chung và
tầng lớp thanh niên học sinh với nghệ thuật Điện ảnh, chúng tôi xin được trình bầy
những vấn đề đã được tổng kết của các cơ sở nghiên cứu về Điện ảnh và những
khảo sát trong phạm vi nghiên cứu đề tài này.
3, Khán giả Việt Nam và mối quan hệ với nghệ thuật điện ảnh
a. Sự quan tâm đến Nghệ thuật điện ảnh của người Việt Nam,
Từ đầu thế kỷ XX (khi đất nước ta chưa có khả năng sáng tác, sản xuất phim
(tác phẩm ĐA) người ta đã xây dựng các rạp chiếu bóng, nhập khẩu phim từ nước
ngoài vào và phim Điện ảnh đã nhanh chóng tạo ra sự thu hút các đối tượng xã hội.
Sau ngày giải phóng miền nam (năm 1975), trong sự nghiệp khôi phục đất
nước và nhất là trong thời kỳ đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế (từ 1986 đến
nay) Điện ảnh Việt Nam vẫn có những đóng góp tích cực vào các nhiệm vụ phát
triển toàn diện của đất nước và con người Việt Nam.
b. Hoạt động điện ảnh và khán giả điện ảnh hiện nay.

1 Khế ước quỷ (Mỹ) Kinh dị 658 Không tốt
2 Hương ga (VN) Xã hôi đen 385 Không tốt
3 John Wick (Mỹ) Hành động
Bạo lực
513 Không tốt
4 Bàn tay của quỷ (Mỹ) Kinh dị. 687 Không tốt
5 Những kẻ sống sót (Mỹ) Kinh dị 421 Không tốt
6 Cuồng nộ (Mỹ) Anh hùng
Ch/tranh
420 Tốt
7 Duyên vội (Mỹ) Hài- Tình
cảm.
401 Trung bình
8 Ác quỷ Dracula (Mỹ) Hành động
Ma quái
467 Không tốt
9 Cô gái mất tích (Mỹ) Tâm lý Hình
sự
550 Tốt, Nghệ
thuật.
10 Trò chơi gọi hồn (Mỹ) Kinh dị 732 Không tốt
11 Hải tặc (Hàn quốc) Hành động
Phiêu lưu
475 Trung bình
Nhận xét từ số liệu tổng hợp:
- Phân tích chất lượng 11 bộ phim:
o 2 phim (6) và (9) là phim có giá trị nội dung, nghệ thuật tốt - đáng xem (có ích
với người xem) chiếm 17 %
o 2 phim (7) và (11) là phim “vô thưởng vô phạt” không có hại nhưng cũng rất ít
giá trị nhận thứcm thẩm nỹ. chiếm 15 %

tra của Công ty TNS (một công ty điều tra số liệu truyền thông lớn của VN) số
lượng khán giả trẻ xem phim trên truyền hình chiếm tới 45% trong tổng lượng
khán giả truyền hình.
Những số liệu trên đây cho thấy phim ảnh (Nghệ thuật Điện ảnh) nhận được
sự quan tâm đông đảo của giới trẻ. Tuy nhiên chúng tôi vẫn thực hiện những cuộc
khảo sát để có thêm những số liệu thực tế của thanh niên học sinh (trong đó học
sinh PTTH Chu Văn An là đối tượng chính)
Nhu cầu xem phim (tại các rạp chiếu phim và trên màn hình TV, Internet, Đĩa
hình…) của thanh niên - học sinh trường PTTH Chu Văn An.
* Phiếu khảo sát về nhu cầu xem phim:
Bạn có thường xuyên xem phim (thưởng thức tác phẩm Điện ảnh) không?
i. Mỗi tháng xem mấy bộ phim ở rạp?
ii. Mỗi tháng xem mấy bộ phim trên truyền hình?
iii. Mỗi tháng xem mấy bộ phim trên mạng Internet?
Tổng kết khảo sát:
Tỷ lệ Thanh niên Học sinh (PTTH CVA) xem phim:
o Có nhu cầu xem phim (nói chung) 73%
o Đến rạp xem phim tháng 4 lần (5%) Tháng 3 lần (10%) Tháng 2 lần (13%)
Tháng 1 lần (69%) Không ra rạp xem phim (3%)
o Xem phim trên TV và mạng Internet? 70%
Kết luận:
Khán giả trẻ, tầng lớp thanh niên học sinh (với trường THPT Chu Văn An là
đại diện) vẫn quan tâm, yêu thích và thường xuyên có sự giao tiếp với Nghệ
thuật Điện ảnh bằng những cách thức khác nhau.
d. Thị hiếu thưởng thức nghệ thuật Điện ảnh của giới trẻ, Thanh niên học sinh
PTTH Hà Nội.
Số lượng khán giả, nhu cầu tiếp cận với các tác phẩm Điện ảnh của giới trẻ,
thanh niên học sinh PTTH ở Hà Nội đã được thể hiện qua các kết quả nghiên cứu
và khảo sát như trên. Tuy nhiên việc lựa chọn, yêu thích phim của giới trẻ cũng là
vấn đề cần được nghiên cứu để xác định tính tích cực và những hạn chế của vấn đề

là 13% (12%), 5% (17%), 2% (5%)… Từ khảo sát này, ta thấy thị hiếu giới trẻ
hiện đang quan tâm nhiều đến các thể loại phim “thị trường”, phim “giải trí” (được
các nhà sản xuất, phát hành vì mục đích thương mại). Các bộ phim có chất lượng
nội dung, nghệ thuật cao, có tác dụng giáo dục giá trị sống, phẩm chất đạo đức còn
chưa được giới trẻ thanh niên học sinh quan tâm đúng mức.
Nguyên nhân của vấn đề này được giải thích như sau:
- Các bộ phim “thị trường” “giải trí” thường được các nhà sản xuất, kinh doanh
thực hiện các chiến dịch quảng cáo rầm gây sự tò mò với khán giả đặc biệt là giới
trẻ.
- Một số lượng đáng kể những bộ phim “thương mại” “giải trí” sử dụng những yếu
tố có khả năng câu khách như mặc dù sau khi xem những bộ phim này, khán giả
không có, không cần và không thể có được những, suy nghĩ về cuộc sống, con
người, hoặc những thông điệp hữu ích).
- Các thể loại phim Tâm lí xã hội, phim Khoa học, Tài liệu ít nhận được sự quan
tâm của giới trẻ phần nào đòi hỏi sự quan tâm, suy nghĩ trong và sau khi xem,
nhưng cũng lại có nhược điểm do cách diễn tả, truyền đạt nội dung, thông điệp còn
khô khan, cứng nhắc, ít hấp dẫn.
- Việc xem phim (nhất là xem ở các rạp chiếu phim) lâu nay đã trở thành một hoạt
động giải trí đơn thuần, một cách giảm áp lực trong cuộc sống, học tập… tạo thành
thói quen thích xem phim “vô thưởng vô phạt”
Với đề tài “Truyền tải giá trị sống cho học sinh THPT nội thành Hà Nội thông
qua nghệ thuật điện ảnh” chúng tôi mong muốn được phối hợp với Nhà trường,
Đoàn TNCSHCM, Hội phụ huynh học sinh và các cơ quan đoàn thể trong ngoài
nước tìm kiếm những giải pháp hướng giới trẻ, thanh niên học sinh PTTH có
những nhận thức đúng đắn về nghệ thuật Điện ảnh, tận dụng những lợi thế trong
mối quan hệ, giao lưu với sản phẩm Điện ảnh… để tiếp nhận được những giá trị
đích thực, những tư tưởng nhân văn bổ sung vào các mục tiêu giáo dục, rèn luyện
về giá trí sống, nhân cách, đạo đức… cho thế hệ thanh niên đang chuẩn bị hành
trang vào đời.
III. Nghiên cứu thực nghiệm về giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT Chu


35% (14/40) 65% (26/40)
Bao dung là một giá 37.5% (15/40) 62.5%(25/40)
trị sống
Bao dung cần thiết
trong cuộc sống
72.5% (29/40) 27.5% (11/40)
Bạn có thông cảm
với lỗi lầm người
khác
65%(26/40) 30%(12/40) 5%(2/40)
Bạn có tha thứ cho
lỗi lầm của người
khác
45%(18/40) 37.5%(15/40) 17.5%(7/40)
Bao dung là luôn
luôn tha thứ cho
người khác
47.5%(19/40) 52.5%(21/40)
Bao dung là khoan
dung
87.5%(35/40) 12.5%(5/40)
Bạn có chấp nhận
và tôn trọng những
gì đúng nhưng trái
với quan điểm bản
thân
37.5%(15/40) 42.5%(17/40) 20%(8/40)
Bạn có đồng tình với
lối sống thực dụng,

72.5%(29/40) 27.5%(11/40)
Bạn có chấp nhận
và tôn trọng những
gì đúng nhưng trái
với quan điểm bản
thân
47.5%(19/40) 25%(10/40) 27.5%(11/40)
Bạn có đồng tình với
lối sống thực dụng,
vị kỷ
20%(8/40) 57.5%(23/40) 22.5%(9/40)
Tôi có bao dung 67.5%(27/40) 32.5%(13/40)
Tôi sẽ bao dung 82.5%(33/40) 17.5%(7/40)
Tham gia CLB khiến
tôi có quan điểm mới
về bao dung
82.5%(33/40) 17.5%(7/40)
• Nghiên cứu đối tượng
Chọn đối tượng: Nguyễn Văn A
Kết quả nghiên cứu dựa trên sự quan sát, đánh giá của những người tiếp xúc
xung quanh đối tượng, của giáo viên, và của đối tượng.
- Trước khi tham gia CLB ĐA thử nghiệm: Có suy nghĩ và hành vi bạo lực với
bạn học, lời nói, hành vi thiếu lễ độ giáo viên, tham gia đánh nhau ở ngoài
phạm vi nhà trường (4 lần/tháng).
- Sau 3 tháng tham gia CLB ĐA thử nghiệm: Tần suất tham gia đánh nhau đã
giảm đi (2 lần/tháng), hòa đồng hơn với bạn bè, hành vi bạo lực giảm thiểu,
tuy nhiên đôi khi còn có hành vi, lời nói chưa đúng chuẩn mực của người học
sinh đối với giáo viên.
- Vẫn đang tiếp tục tiến hành quan sát, ghi chép để thu về kết quả sau 6 tháng.
• Nhận xét

mình)…
- Hình thức sinh hoạt điện ảnh, việc thành lập, sinh hoạt câu lạc bộ Điện
ảnh tạo ra một sự sôi động, có sức hấp dẫn, chắc chắn thu hút được
đông đảo Thanh niên học sinh tham gia và hình thành một sinh hoạt
ngoại khóa sôi động trong nhà trường (tiến tới có thể nhân rộng sang
các trường, cụm trường học của thành phố)
2. Mong muốn của nhóm tác giả đề án:
Để thực hiện được đề án “Truyền tải giá trị cho học sinh trung học phổ
thông nội thành Hà Nội thông qua nghệ thuật điện ảnh” nhóm tác giả rất
mong được Ban giám hiệu Nhà trường ủng hộ bằng sự cho phép, bằng chủ
trương và sự chỉ đạo cần thiết để đoàn thanh niên, các tập thể khối, lớp trong
toàn trường cùng tham gia, đồng thời hỗ trợ về cơ sở vật chất phục vụ các hoạt
động của Câu lạc bộ (như phòng hội họp, chiếu phim, máy chiếu, lịch sinh
hoạt, hay việc mời chuyên gia điện ảnh tham gia)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Những giá trị sống cho tuổi trẻ (Living Values for Young Adults) - Diane
Tillman
2. Từ điển Tiếng Việt - Nguyễn Như Ý
3. Những vấn đề cơ bản cần trang bị cho giáo viên khi tiến hành giáo dục giá trị
sống cho học sinh THPT - TS. Nguyễn Tùng Lâm (Hội tâm lý Giáo dục học Hà
Nội)
4. />thuc-khi-ve-gia-233303.aspx
5. Tình hình tội phạm vị thành niên, thực trạng, nguyên nhân và các giải pháp - TS.
Ngô Hoàng Oanh (Giảng viên khoa đào tạo luật sư Học viện tư pháp)
6. />7. Lịch sử Điện ảnh Thế giới
8. Lịch sử Điện ảnh Việt Nam.
9. Tài liệu nghiên cứu Lý luận Điện ảnh, Phê bình phim (Đại học SK-ĐA)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status