Download Đề án Một số giải pháp nhằm huy động vốn đầu tư vào phát triển nghành Dầu khí ở Việt Nam miễn phí
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương I: Khái quát chung về đầu tư và vấn đề huy động vốn đầu tư vào ngành Dầu khí Việt Nam. 3
1. Đầu tư và nguồn vốn đầu tư. 3
1.1. Đầu tư và đầu tư phát triển. 3
1.1.1. Đặc điểm của đầu tư phát triển. 4
1.1.2. Vai trò của Đầu tư phát triển. 5
1.2. Vốn và nguồn vốn. 10
1.2.1 Khái niệm về vốn. 10
1.2.2 Các nguồn vốn cơ bản: 10
2. Đặc điểm của ngành dầu khí và vấn đề huy động vốn đầu tư vào ngành dầu khí. 18
2.1. Đặc điểm của ngành dầu khí. 18
2.2. Sự cần thiết phải huy động vốn đầu tư vào ngành dầu khí ở Việt Nam. 20
Chương II: Thực trạng tình hình huy động vốn đầu tư vào ngành Dầu khí ở Việt Nam giai đoạn hiện nay. 22
1. Thực trạng huy động vốn đầu tư vào ngành dầu khí ở Việt Nam. 22
1.1. Tình hình phát triển ngành dầu khí ở Việt Nam những năm qua. 22
1.2. Quy mô và cơ cấu huy động vốn vào ngành Dầu khí ở Việt Nam. 30
1.2.1. Huy động vốn đầu tư trong nước. 30
1.2.2. Huy động vốn đầu tư nước ngoài. 32
2. Đánh giá thực trạng huy động vốn đầu tư vào ngành dầu khí ở Việt Nam thời gian qua. 35
2.1. Những kết quả đạt được. 35
2.2. Những hạn chế còn tồn tại trong vấn đề huy động vốn và phát triển ngành dầu khí ở nước ta. 37
Chương III: Một số giải pháp nhằm huy động vốn đầu tư vào phát triển nghành Dầu khí ở Việt Nam. 41
1. Định hướng phát triển ngành Dầu khí những năm tới. 41
2. Những cơ hội và thách thức trong vấn đề phát triển ngành
Dầu khí. 44
3. Những yêu cầu đặt ra để huy động vốn có hiệu quả. 47
4. Những giải pháp cơ bản để huy động vốn vào phát triển ngành Dầu khí ở Việt Nam. 48
LỜI KẾT 54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-31604/
++ Ai muốn tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho!Tóm tắt nội dung:
S (PVI)
Công ty cổ phần đầu tư tài chính công đoàn Dầu khí (PVFI)
Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại Dầu khí Sông Hồng (PVSH)
Công ty cổ phần Dịch vụ - Vận tải Dầu khí Cửu Long (CGT J.S.C)
Công ty cổ phần dung dịch khoan và hoá phẩm dầu khí (DMC JSC)
Công ty Cổ phần kinh doanh khí hoá lỏng Miền Bắc (PVGAS NORTH)
Công ty Cổ phần kinh doanh khí hoá lỏng Miền Nam (PVGAS SOUTH)
Công ty Cổ phần Kinh doanh kho chứa khí hoá lỏng Vũng Tàu (PGS)
Công ty cổ phần Phân đạm và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo)
Công ty cổ phần phân phối khí thấp áp (PVGAS DJSC)
Công ty cổ phần Truyền thông Dầu khí (PV Media)
Công ty cổ phần Tư vấn đầu tư và Thiết kế Dầu khí (Petrovietnam Engineering JSC)
Công ty cổ phần xây dựng Dầu Khí Nghệ An (PVNC)
Công ty cổ phần xây lắp dầu khí (PV Construction)
Công ty du lịch dầu khí Phương Đông (PTC)
Công ty nhựa và hoá chất Phú Mỹ (PMPC)
Công ty TNHH 1 thành viên Quản lý và Khai thác tài sản Dầu (PVA)
Công ty TNHH dầu khí Mê Kông (PETROMEKONG)
Công ty TNHH một thành viên Chế biến và Kinh doanh sản phẩm dầu mỏ(PDC Co Ltd)
Công ty TNHH một thành viên Cung ứng Nhân lực và Dịch vụ Dầu Khí (PETROMANNING)
Công ty TNHH một thành viên điện lực Dầu khí Cà Mau (PVCMPC)
Viện Dầu Khí Việt Nam (VPI)
Công ty Cổ phần Điện lực Dầu khí Nhơn Trạch 2 (PVNT2)
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chế biến Dầu khí (PVPro)
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển An toàn và Môi trường Dầu Khí (RDCPSE)
Trung tâm thông tin tư liệu Dầu khí (PIC)
Trung tâm Công nghệ thông tin, Viễn thông & Tự động hoá (PITAC)
Trung tâm lưu trữ Dầu khí (PAC)
Trung tâm ứng phó sự cố tràn dầu khu vực Miền Nam - (Petrovietnam NAOS)
Trường đào tạo nhân lực Dầu khí (PVMTC)
Ban chuẩn bị đầu tư Công trình đường ống dẫn khí Lô B - Ô Môn
Ban chuẩn bị đầu tư công trình Liên hợp Lọc Hóa Dầu Nghi Sơn
Ban chuẩn bị đầu tư Nhà máy lọc dầu số 3
Ban quản lý các dự án thuỷ điện
Ban quản lý dự án Các công trình xây dựng phía Bắc
Ban quản lý dự án các công trình xây dựng phía nam
Ban quản lý dự án cụm Khí điện đạm Cà Mau (CPMB)
Ban quản lý dự án Khí Điện Nhơn Trạch
Ban quản lý dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất (DQR)
Ban quản lý dự án nhà số 1 & 5 Lê Duẩn
Ban Quản lý Dự án Trung tâm Thương mại Dầu khí Hà Nội (PVTC)
Ban trù bị thành lập Ngân hàng thương mại cổ Dầu khí (PV-Bank)
Một thực tế là Việt Nam có một tiềm năng dầu khí không phải là nhỏ. Cùng với việc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, ngành dầu khí Việt Nam cũng từng bước phát triển. Từ chỗ phải nhập từng lít dầu hoả để thắp đèn, sau 34 năm thành lập, Tập đoàn dầu khí Việt Nam đã đưa ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam phát triển tương xứng với tiềm năng của nó.
Ta xem xét tình hình phát triển của ngành dầu khí Việt Nam trong những năm qua:
“Ở hoạt động tìm kiếm thăm dò” với phương châm chủ yếu là phát huy nội lực, kết hợp tăng cường hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư về khoa học và công nghệ của nước ngoài. Với mục tiêu xác định tiềm năng và gia tăng trữ lượng dầu khí, phát hiện thêm nhiều mỏ mới, đảm bảo nhu cầu về sản lượng dầu khí cho đất nước, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã không ngừng mở rộng khu vực tìm kiếm, thăm dò thông qua các hợp đồng phân chia sản phẩm, hợp đồng liên doanh, hợp đồng điều hành chung hoạt động tự đầu tư, tự điều hành tìm kiếm thăm dò, có nhiều phát hiện quan trọng, đưa nhanh các mỏ đã được phát hiện vào khai thác và áp dụng các công nghệ tiên tiến để nâng cao sản lượng, tăng hệ số thu hồi dầu khí, bảo vệ môi trường tài nguyên. Kết quả công tác tìm kiếm thăm dò cho đến nay đã xác định được bể trầm tích Đệ Tam có triển vọng dầu khí: Sông Hồng, Phú Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay - Thổ Chu, Tư Chính – Vũng Mây, nhóm bể Trường Sa và Hoàng Sa, trong đó các bể Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay - Thổ Chu và Sông Hồng gồm cả đất liền (miền võng Hà Nội) đã phát hiện và đang khai thác dầu khí. Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã tiến hành khảo sát trên 300 nghìn km tuyến địa chấn 2D, gần 40 nghìn km2 địa chấn 3D, khoan 600 giếng tìm kiếm, thăm dò, thẩm lượng và khai thác với tổng số mét khoan trên 2.0 triệu km. Một số giếng khoan có phát hiện dầu khí quan trọng trong thời gian gần đây đã mở các quan điểm tìm kiếm thăm dò mới, gia tăng trữ lượng dầu khí, tạo ra sự quan tâm của các nhà đầu tư: phát hiên khí tại giếng Đông Quan D-1X, vùng trũng Hà Nội, phát hiện dầu tại giếng Rồng Tre 1X, lô 11-2, phát hiện dậu tại GK 16-1-TGT-1X lô 16-1 và 15-1-SN-1X lô 15-1, 15-R, 103-BAL-1X, 12E-CS-1X đảm bảo gia tăng trữ lượng 35-40 triệu tấn quy dầu/ năm. Bên cạnh việc mở rộng hoạt động thăm dò, khai thác ở trong nước, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã và đang triển khai thành công hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác ở nước ngoài để đánh giá tiềm năng dầu khí tổng thể của Việt Nam, quy hoạch khí tổng thể, nghiên cứu địa lý, vật lý vùng thềm lục địa Việt Nam... Tổng công ty đã triển khai một số đề án độc lập đạt kết quả tốt, khẳng định trình độ, khả năng quản lý và điều hành của mình. Như ở Inđônêxia (lô Madura I và II), Malaysia (lô Phần mềm 304, SK-305), Angiêri (lô 433a và 416b), Irắc, Mông Cổ, bước đầu mang lại những thành công đáng khích lệ như việc khai thác dầu từ Cendoz (lô PM-304 Malaysia), phát hiện mới các mỏ dầu ở Lô SK-305 (Malaysia) hay lô 433a và 416b (Angiêri. Ngoài ra, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam còn đang tích cực nghiên cứu đánh giá tìm kiếm các cơ hội đầu tư tại một số khu vực có tiềm năng ở Châu Phi, Nam Mỹ, Trung Đông, Đông Nam Á và các nước thuộc Liên Xô cũ
“Ở hoạt động khai thác dầu khí” Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam hiện đang khai thác dầu khí tại 09 mỏ ở trong nước và ngoài nước : Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, PM3-CAA/Cái Nước, Hồng Ngọc, Rạng Đông, Lan Tây – Lan Đỏ, Tiền Hải C, mỏ Sư Tử Đen, Rồng Đôi, Rồng Đôi Tây, Cendoz thuộc lô PM-304, Malaysia. Sản lượng khai thác trung bình của Tập đoàn Dầu khí đạt trên 350 nghìn thùng dầu thô/ngày và khoảng 18 triệu m3 khí/ngày. Tính đến hết 12/2006 đã khai thác trên 235 triệu tấn quy trong đó dầu thô đạt trên 205 triệu tấn; thu gom, vận chuyển vào bờ và cung cấp 30 tỷ m3 khí cho sản xuất điện, sản xuất đạm và các nhu cầu dân sinh khác.
“Về công nghiệp khí”: được triển khai tích cực theo quy hoạch tổng thể. Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã và đang triển khai hàng loạt các dự án khí và điện với quy mô càng lớn, đa dạng và phức tạp, trên diện rộng nhằm không những đáp ứng nhu cầu khí cho điện mà còn đáp ứng các nhu cầu khí cho côngnghiệp hoá chất, phân bón, giao thông vận tải, vật liệu xây dựng v.v. Hai hệ thông vận chuyển khí Rạng Đông Bạch Hổ và Nam Côn Sơn vận hành ổn định, an toàn và phát huy hiệu quả, cung cấp trên 18 triệu m3 khí/ngày cho sản xuất điện, phân đạm và sản xuất công nghiệp, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng và lương thực quốc gia. Các dự án: Hệ thống đường dẫn khí Phú Mỹ Nhơn Trạch (dự kiến bắt đầu cung cấp khí vào đầu năm 2008); hệ thống đường dẫn khí PM3 – Cà Mau (dự kiến cung cấp khí vào đầu nă...