Một vài biện pháp sử dụng di tích lịch sử trên địa bàn huyện Thọ Xuân trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, lớp 10 (chương trình chuẩn) - Pdf 26

A- ĐẶT VẤN ĐỀ:
Thế kỉ XXI là thế kỉ phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và
thông tin. Để phát triển vững bước cùng với các cường quốc năm châu, hơn lúc
nào hết, giáo dục và đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu. Muốn thúc đẩy sự
nghiệp giáo dục trong việc đào tạo con người Việt Nam mới XHCN phù hợp với
yêu cầu của thời đại thì nội dung giáo dục phải toàn diện: không chỉ có kiến thức
khoa học kĩ thuật, công nghệ thông tin, khoa học tự nhiên … mà còn phải hiểu
biết cả về văn học, nghệ thuật…. nhất là về lịch sử dân tộc. Rất nhiều nhà khoa
học và giáo dục đã đánh giá cao vai trò của bộ môn Lịch sử trong đào tạo thế hệ
trẻ. Như vậy, trong các môn học ở trường THPT, môn Lịch sử có ưu thế và ý
nghĩa rất quan trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ theo mục tiêu giáo dục của
Đảng.
Mặc dù bộ môn Lịch sử có vị trí quan trọng như thế, nhưng thực tiễn dạy
học lịch sử ở trường trung học phổ thông vẫn còn nhiều bất cập. Vấn đề lớn còn
tồn tại hiện nay là đổi mới phương pháp dạy học. Nhiều giáo viên đã biết cách
tiến hành bài học lịch sử sinh động, lôi cuốn qua đó giúp học sinh hứng thú học
tập. Song vẫn còn không ít giáo viên lúng túng trong việc xử lý mối quan hệ
giữa nội dung và phương pháp dạy học, chưa biết chọn lựa kiến thức cơ bản,
thiết thực và giàu tính thuyết phục, chưa phát huy được tính tích cực của học
sinh; chưa có những phương pháp dạy học sáng tạo, linh hoạt phù hợp với nội
dung bài học. Vì vậy, nhìn chung kết quả dạy học chưa cao.
Bên cạnh đó, nhiều học sinh do tác động, ảnh hưởng khách quan và suy
nghĩ chủ quan nên quan niệm rằng môn Lịch sử chỉ là môn phụ, các em chưa có
hứng thú học tập, còn miễn cưỡng, đối phó.
Để nâng cao chất lượng bộ môn, khắc phục tình trạng trên, việc đổi mới
nội dung và phương pháp dạy học bộ môn trở thành vấn đề cấp thiết. Quá trình
đổi mới dạy học phải tiến hành thường xuyên, đồng bộ trong đó việc tăng cường
sử dụng các phương tiện trực quan có vai trò quan trọng nhất. Một trong những
loại phương tiện dạy học có thể sử dụng tốt là các di tích lịch sử ở địa phương.
Di tích lịch sử không chỉ là một loại tài liệu vật chất quý hiếm, một bằng chứng
khoa học, trung thực về sự tồn tại của quá khứ mà còn là phương tiện dạy học có

đẩy lịch sử phát triển. Giới hạn như vậy là vì bước sang thời đại văn minh, tri
thức loài người được phân chia ra thành nhiều ngành khoa học khác nhau trong
đó có ngành khoa học lịch sử. Ngành khoa học lịch sử thể hiện ở di tích, bao
gồm những nơi ghi dấu về sự hình thành dân tộc, những nơi ghi dấu sự kiện
chính trị quan trọng, ghi dấu về những chiến công quân sự, về vinh quang lao
động, lưu niệm về anh hùng dân tộc, nhân vật lịch sử, danh nhân văn hoá…
Mỗi dân tộc, mỗi đất nước có những đặc điểm lịch sử riêng, ghi dấu lại
những di tích lịch sử của mình. Sự ghi dấu ấy có khác nhau về số lượng, sự phân
bố và nội dung giá trị lưu giữ ở mỗi di tích nhưng tựu chung lại, loại hình di tích
lịch sử thường bao gồm các loại sau:
- Loại di tích ghi dấu về dân tộc học
- Loại di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, tiêu biểu có ý nghĩa
quyết định chiều hướng phát triển của đất nước, của địa phương.
- Loại di tích ghi dấu về chiến công chống xâm lược.
- Loại di tích ghi dấu những kỷ niệm của các anh hùng dân tộc, danh nhân
văn hoá.
- Loại di tích ghi dấu sự vinh quang lao động.
- Loại di tích ghi dấu tội ác của đế quốc và phong kiến.
* Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng di tích lịch sử trong dạy học lịch
sử dân tộc:
Nguyên tắc trực quan là nguyên tắc vàng của lí luận dạy học. Trong giảng
dạy và học tập lịch sử, phương pháp trực quan lại càng có vị trí quan trọng. Xuất
2
phát từ đặc điểm của việc học tập lịch sử là học sinh không thể quan sát các sự
kiện, hiện tượng đã xảy ra, chúng ta khônng thể tái tạo được lịch sử trong phòng
thí nghiệm như khi học tập nghiên cứu về các hiện tượng tự nhiên. Trong những
năm gần đây, khi cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển như vũ
bão, loài người bước vào thời đại công nghệ thông tin thì những tiến bộ về khoa
học kỹ thuật đã hỗ trợ đắc lực cho việc khôi phục lại bức tranh quá khứ lịch sử
nhưng những phương tiện kỹ thuật hiện đại đó chỉ phản ánh được một mặt nào

hứng thú với những giờ học sử dụng đồ dùng trực quan, các giờ học lịch sử tại
3
thực địa, tham quan ngoại khoá. Tuy nhiên khi hỏi về việc tìm hiểu các di tích
lịch sử trên quê hương mình thì các em ít quan tâm hoặc biết rất hời hợt.
Lịch sử mang trong mình cả kho tàng tri thức nhân loại. Nghiên cứu và
học tập lịch sử là để làm việc đúng trong hiện tại và tương lai. Sức mạnh của tri
thức lịch sử không chỉ giới hạn ở việc cung cấp cho học sinh hiểu đầy đủ và cặn
kẽ về con đường mà nhân loại và dân tộc đã đi qua, mà còn góp phần kích thích
hoạt động tích cực trong nhận thức và giáo dục cho các em những tư tưởng tình
cảm đúng. Vì vậy, việc sử dụng di tích lịch sử trong dạy học phải được các giáo
viên bộ môn Lịch sử coi trọng đặc biệt các di tích ngay tại địa phương mình.
II- GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1- Tổng quan các di tích lịch sử trên địa bàn huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá
- Di tích lịch sử kiến trúc Lê Hoàn tại xã Xuân Lập, gồm đền thờ, lăng Hoàng
Khảo, lăng Quốc mẫu, lăng bố nuôi Lê Đột và đền sinh thánh.
- Khu di tích lịch sử Lam Kinh, xã Xuân Lam và thị trấn Lam Sơn, gồm: đền thờ
Lê Thái Tổ, cung điện, lăng bia các vua và hoàng hậu nhà Lê.
- Đền thờ và lăng mộ Thứ quốc công Nguyễn Nhữ Lãm, tại xã Thọ Diên và
Xuân Lập.
- Quần thể di tích cách mạng xã Xuân Hoà, Thọ Xuân
- Quần thể di tích lịch sử cách mạng xã Xuân Minh, Thọ Xuân.
Ngoài ra, Thọ Xuân còn nhiều di tích chưa được xếp hạng cấp tỉnh như:
đền thờ khắc Quốc công Lê Văn An (làng Diên Hào, xã Thọ Lâm), đền thờ
Quốc Mẫu (làng Thịnh Mỹ, xã Thọ Diên). Ở Thọ Xuân mới phát hiện đền thờ
của vua Lê Dụ Tông (làng Mạnh Chư, xã Xuân Giang)
Trong giới hạn đề tài này, tôi xin đưa ra một vài biện pháp sử dụng di tích
lịch sử trên địa bàn huyện Thọ Xuân trong dạy học lịch sử Việt Nam ở lớp 10,
giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XV – chương trình chuẩn.
2- Sử dụng di tích lịch sử trong giờ học nội khoá:
a- Khai thác, sử dụng tài liệu về di tích lịch sử để dạy bài lịch sử nội khoá ở

+ Tiếp tục bồi dưỡng kĩ năng phân tích, tổng hợp.
+ Kĩ năng lập bảng thống kê để rút ra nhận xét, đánh giá.
- Nội dung bài học: Bài học gồm 3 mục:
Mục I. Các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống: gồm kháng
chiến thời Tiền Lê và thời Lý.
Mục II. Các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Nguyên ở thế
kỉ XIII.
Mục III: Phong trào đấu tranh chống quân xâm lược Minh và khởi nghĩa
Lam Sơn.
Các mục trong bài đều tương đương nhau về kiến thức. Có thể nói không
một triều đại nào không phải tiến hành một cuộc kháng chiến lớn hay một cuộc
khởi nghĩa nhỏ. Đó là đặc điểm nổi bật của lịch sử dân tộc thời kì này. Tuy kẻ
thù xâm lược đều xuất phát từ phương Bắc nhưng không phải vì thế mà các cuộc
kháng chiến, khởi nghĩa đều diễn ra giống nhau. Mỗi cuộc kháng chiến đều có
đặc điểm riêng. Thắng lợi của cuộc kháng chiến và khởi nghĩa nói lên được tinh
thần chủ động, sáng tạo và ý chí quyết chiến của nhân dân ta cũng như quyết
tâm bảo vệ nền độc lập.
* Để sử dụng tài liệu có hiệu quả, trước hết giáo viên phải nghiên cứu kĩ
sách giáo khoa. Sau đó giáo viên đến khu di tích Lam Kinh sưu tầm tài liệu phục
vụ cho nội dung bài giảng. Khi đến khu di tích thì phải tìm hiểu bao quát quá
trình hình thành và xây dựng của khu di tích; đi tham quan toàn bộ khu di tích
5
để xác định những tranh ảnh, hiện vật, mẩu chuyện nào phù hợp với nội dung
bài giảng. Hoặc giáo viên có thể liên hệ, trao đổi với cán bộ quản lý khu di tích
để nhờ họ giúp đỡ tìm hiểu sâu hơn và có hiệu quả hơn.
* Giáo viên tổ chức cho học sinh sưu tầm bằng cách phát động học sinh
sưu tầm tranh ảnh liên quan như: anh hùng Lê Lợi, Nguyễn Trãi… lịch sử các
đời vua Lê … , tự các em nêu được thân thế, sự nghiệp của các bậc tướng tài
trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh.
Ví dụ: Lê Lợi sinh ngày 06 tháng 08 năm 1385, mất ngày 22 tháng 8 năm

b- Tiến hành bài học lịch sử tại khu di tích lịch sử.
6
Bài học lịch sử được tiến hành tại thực địa di tích lịch sử tức là tiến hành
tại nơi đã xảy ra sự kiện lịch sử, hoàn toàn khác với các hoạt động ngoại khoá tại
di tích lịch sử. Tuy hình thức học tập có thay đổi song bài học tại thực địa là bài
học nội khoá, một mắt xích trong toàn bộ khoá trình có liên quan đến các bài
học lịch sử khác.
Bài học tại thực địa có ý nghĩa lớn đối với học sinh trên cả ba mặt: kiến
thức, tư tưởng tình cảm, kĩ năng. Bởi vì di tích lịch sử là dấu vết, mảnh vụn của
quá khứ còn sót lại. Học sinh quan sát và bổ sung, cụ thể hoá các sự kiện mà các
em đang nghiên cứu. Nó giúp phát triển trí tưởng tượng, đa dạng hoá các hoạt
động nhận thức, gây hứng thú học tập lịch sử. Nó còn có tác dụng nâng cao hiểu
biết về kiến thức lịch sử, về văn hoá, giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, óc
thẩm mỹ.
Để tiến hành bài học nội khoá, cụ thể là Bài 19, lớp 10 (chương trình
chuẩn) tại khu di tích Lam Kinh có hiệu quả, có thể tiến hành theo hai cách:
Cách thứ nhất: Giáo viên có thể tiến hành giờ học bình thường như trên
lớp tại một phòng riêng của khu di tích, sau đó hướng dẫn cho học sinh đi tham
quan những hiện vật liên quan đến nội dung phần III (Phong trào đấu tranh
chống quân xâm lược Minh và khởi nghĩa Lam Sơn)
Ví dụ: Sau khi tiến hành giờ học bình thường như trên lớp tại một phòng
riêng của khu di tích, học sinh được hướng dẫn đi tham quan tại một số nơi
chính của hu di tích. Tuy không có dấu tích của các trận đánh lớn tại khu di tích
nhưng khi kết thúc bài học giáo viên có thể đưa ra những câu hỏi mang tính chất
khắc sâu kiến thức cho học sinh như:
“Tại sao Lê Lợi lại chọn đất Lam Sơn làm nơi khởi binh chống giặc Minh
xâm lược?”
“ Hãy kể tên những chiến thắng lẫy lừng trong khoảng thời gian 10 năm
khởi nghĩa?”
“Em có đánh giá gì về người anh hùng Lê Lợi và nhân dân Thanh Hoá ?”.

Lê lấy niên hiệu là Đại Việt, đóng đô ở Đông Quan sau đổi là Đông Kinh. Lê
Lợi làm vua được 5 năm và mất vào ngày 22 tháng 8 năm 1433, an táng tại Vĩnh
Lăng, Lam Sơn, miếu hiệu là Thái Tổ. Lê Thái Tổ khi lên ngôi vua đã cho xây
dựng ở Lam Sơn một kinh thành lớn thứ hai gọi là Lam Kinh hay còn gọi là Tây
Kinh.
Với chiến thắng vang dội như Chi Lăng- Xương Giang, giáo viên có thể
bổ sung ngay kiến thức cho các em tại phòng trưng bày tàng của khu di tích: “
Đây là trận quyết chiến chiến lược tiêu diệt quân Minh (Trung Quốc) trên địa
bàn từ Chi Lăng đến Xương Giang (nay thuộc Bắc Giang) của nghĩa quân Lam
Sơn, nhằm kết thúc cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và cuộc kháng chiến chống Minh
1418-1428. Thành Xương Giang do đô đốc Lý Nhậm cùng các tướng Kim Dận,
Cổ Phúc…chỉ huy với khoảng 2000 quân. Thành có địa thế thành cao, hào sâu,
súng thần cơ cỡ lớn và nhiều lương thực dự trữ, là vị trí phòng ngự trọng yếu
của quân Minh bảo vệ con đường huyết mạch từ Quảng Tây (Trung Quốc) sang
Đông Quan (nay là Hà Nội). Tháng 8/1427, lực lượng tiếp ứng cho nghĩa quân
Lam Sơn do Trần Nguyên Hãn chỉ huy được điều thêm để hạ thành trước khi
viện binh địch kéo sang.
Sau khi dùng pháo đặt trên các ụ đất cao khống chế địch và đột phá vào thành
bằng đường ngầm, đêm 28/9, nghĩa quân tổng công kích thành từ 4 mặt, sau gần
1 giờ thành Xương Giang thất thủ, các tướng nhà Minh phải tự vẫn.
8
Tháng 10/1427, nhà Minh đem hai cánh quân viện binh sang giải vây cho thành
theo đường Lạng Sơn, don Liễu Thăng cùng các tướng Lương Minh, Lý Khánh,
Thôi Tụ, Hoàng Phúc chỉ huy. Cánh thứ hai có khoảng 50.000 quân từ Vân Nam
tiến vào hướng Lào Cai do Mộc Thạch chỉ huy.
Thực hiện chủ trương “vây thành, diệt viện” nghĩa quân Lam Sơn một
mặt tiếp tục vây thành Đông Quan và các thành khác, một mặt chặn cánh quân
Mộc Thạch, còn lực lượng chính được bố trí diệt quân Liễu Thăng.
Ngày 8/10, cánh quân Liễu Thăng vượt biên giới, ngày 10/10 bị phục kích ở Chi
Lăng, Liễu Thăng bị tử trận ở núi Mã Yên.

học xong bài 19 – lớp 10 (chương trình chuẩn), đặc biệt phần III liên quan đến
cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
* Công tác chuẩn bị:
- Đối với giáo viên:
+ Đầu năm giáo viên lên kế hoạch về buổi tham quan học tập tại di tích và
đề xuất với Ban giám hiệu nhà trường, tổ bộ môn.
+ Dự trù kinh phí.
+ Trước buổi tham quan hai tuần: Giáo viên liên hệ với Ban quản lý di
tích đền thờ và lăng mộ Thứ quốc công Nguyễn Nhữ Lãm, trao đổi và thảo luận,
trình bày rõ mục đích của buổi tham quan học tập.
- Đối với học sinh:
+ Ôn lại bài 19 – chú trọng phần III (Phong trào đấu tranh chống quân
xâm lược Minh và khởi nghĩa Lam Sơn) ở nhà.
+ Giấy bút, máy ảnh (nếu có).
+ Tìm hiểu một số thông tin trên Internet hoặc tài liệu.
* Buổi tham quan chia làm hai phần:
- Phần 1: Tham quan dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Giáo viên chủ yếu tiến hành giới thiệu khái quát toàn bộ đền thờ và lăng
mộ Thứ quốc công Nguyễn Nhữ Lãm.
Ví dụ: Đền thờ toạ lạc tại xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân. Nguyễn Nhữ
Lãm quê ở tỉnh Hà Nam. Trong hoàn cảnh nước Đại Ngu bị quân Minh chiếm
đóng, ông gia nhập lực lượng của Lê Lợi và dự hội thề Lũng Nhai năm 1416.
Năm 1418, ông trong số những người tham gia khởi nghĩa Lam Sơn cùng Lê
Lợi từ những ngày đầu, tổ chức việc rèn vũ khí và quân lương của nghĩa quân.
Ngày 02 tháng 1 năm 1418 Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, Nguyễn Nhữ
Lãm là một trong những người được phong chức đại tướng và thừa tướng chia
nhau đốc thúc quân đội ra đối địch với quân Minh. Trong khởi nghĩa Lam Sơn,
Nguyễn Nhữ Lãm từng làm sứ giả tới các nước Ai Lao, Chiêm Thành vận động
vua nước láng giềng giúp voi, ngựa và lương thực. Nhờ tài ngoại giao của ông,
các nước đã đồng tình giúp đỡ.

+ Trước buổi tham quan 01 ngày: phổ biến mục đích, yêu cầu của buổi
than quan, những công việc các em cần làm, thời gian, địa điểm cụ thể. Ra bài
tập cho học sinh cần làm sau buổi tham quan.
- Đối với học sinh:
+ Ôn lại kiến thức cơ bản của phần lịch sử Việt Nam thế kỉ X-XV, đặc
biệt Bài 19, mục 1: Cuộc kháng chiến chống Tống thời tiền Lê do Thập đạo
tướng quân Lê Hoàn Lãnh đạo.
+ Giấy bút, máy ảnh, máy ghi âm (nếu có).
+ Tìm hiểu một số thông tin về đề thờ vua Lê Đại Hành trên Internet hoặc
tài liệu.
* Tiến trình buổi tham quan:
Cách làm tương tự tham quan học tập tại di tích. Thông qua việc tổ chức
cho học sinh đến tham quan di tích, có tác dụng phát triển và giáo dục cao đối
với học sinh.
Qua buổi ngoại khoá, ngoài những kiến thức cơ bản học sinh đã học
(Năm 980 vua Tống sang xâm lược, Bà Thái hậu họ Dương Tôn Lê Hoàn lên
làm vua chỉ đạo kháng chiến. Năm 981, Lê Hoàn và quân dân Đại Cồ Việt đánh
tan quân Tống ngay trên vùng Đông Bắc), thì học sinh hiểu biết thêm về hệ
11
thống đền thờ vua Lê: đền toạ lạc tại xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân; bao gồm:
Khu nền sinh Thánh (nơi Lê Hoàn ra đời), Lăng Hoàng Khảo (nơi thờ cha Lê
Hoàn), Lăng Mẫu Hậu (nơi Lê Hoàn cải táng mẹ sau khi lên làm vua) … Đền
vua Lê vẫn giữ được những kiến trúc cổ với những con giồng bằng đất nung gắn
trên hàng mái và hoa văn chạm khắc tinh vi trang trí đền. Trong đền còn lưu giữ
9 sắc phong thời hậu Lê, 5 sắc phong triều Nguyễn cùng một số sắc chỉ của
Chúa Trịnh về việc thờ phụng và chiếc đĩa đá quý mầu trắng, có đường kính
rộng 36cm, có đề thơ và dấu triện của nhà Tống thời bấy giờ. Đặc biệt tại đề Lê
Hoàn còn có 2 tấm bia: Một bia dựng năm 1602 do Phùng Khắc Khoan soạn,
một bia dựng năm 1626 do Nguyễn Thực soạn ca ngợi quê hương, công lao sự
nghiệp của Lê Hoàn và việc lập đền thờ ở quê hương. Hàng năm vào ngày mồng

* Mục đích:
- Giáo dưỡng:
+Giúp học sinh hoàn thiện kiến thức đã được học về khởi nghĩa Lam Sơn.
+ Bổ sung, làm sâu sắc, phong phú hơn kiến thức. Biết thêm nhiều khía
cạnh mà bài nội khoá chưa có dịp đề cập đến.
+ Hiểu được giá trị lịch sử, tâm linh, khu sinh thái của khu di tích
- Giáo dục:
+ Giáo dục học sinh niềm tự hào biết ơn công lao của các vua và anh hùng
thời Lê.
+ Giúp học sinh sống có lý tưởng, phải có trách nhiệm tuyên truyền để
quê hương ngày càng giàu đẹp văn minh
- Phát triển:
+ Rèn kĩ năng làm việc nhóm, làm việc độc lập
+ Tạo điều kiện cho các em bộc lộ khả năng thuyết trình trước đám đông,
khả năng sưu tập trang ảnh trưng bày, nâng cao óc thẩm mĩ.
* Chuẩn bị:
- Giáo viên:
+ Đầu năm học giáo viên đề xuất kế hoạch lên Ban giám hiệu và tổ bộ
môn
+ Trước ngày dạ hội 2 tháng: Thành lập Ban tổ chức
Xây dựng kế hoạch cụ thể
Dự trù kinh phí
Phát động học sinh ba khối 10, 11, 12
tham gia
Hướng dẫn các khối tiến hành sưu tập cho
phần trưng bày
Xây dựng tiêu chí đánh giá.
+ Trước ngày dạ hội 1 ngày: Đội văn nghệ mỗi khối tập dượt các bài hát
ca ngợi lịch sử hào hùng của dân tộc.
- Học sinh: Thực hiện theo chỉ dẫn của giáo viên.

giết chết tướng Lương Minh, khiến Lý Khánh tự tử, đuổi Mộc Thạch về nước.
Tổng tư lệnh Vương Thông xin đầu hàng ngày 10/12/1927. Lê Lợi cho tướng
Vương Thông đến Hội thề Đông Quan, chúng xin hứa không bao giờ xâm phạm
Đại Việt nữa và xin rút 10 vạn quân về nước.
Ngày 15/1/1428 Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh (Thăng Long),
đặt tên nước là Đại Việt, lấy niên hiệu Thuận Thiên.
Cũng như các triều đại trước đó, với tấmlòng tôn kính tổ tiên vua Lê cho
xây dựng nhiều cung điện, lăng tẩm với quy mô to lớn ở đất Lam Sơn và coi đây
là Kinh đô thứ 2 của Nhà nước Đại Việt sau Đông Kinh(Thăng Long-Hà Nội).
Vì lẽ đó, đương thời Lam Kinh trở thành vùng đất “căn bản” có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng đối với nhà Lê, tồn tại như một thánh địa tôn nghiêm, nơi thờ cúng tổ
tiên và các Hoàng đế nhà Lê, nơi mai táng nhiều Hoàng đế và Hoàng Thái hậu
nhà Lê, nơi cử hành những nghi lễ mỗi khi vua Lê bái yết sơn lăng.
Diện mạo của Lam Kinh được Lịch triều hiến chương loại chí của Phan
Huy Chú ghi chép như sau: “Diện mạo của Lam Kinh đằng sau gối vào núi,
trước mặt trông ra sông, bốn bên non xanh nước biếc, rừng rậm um tùm. Vĩnh
14
Lăng của Lê Thái Tổ, Chiêu Lăng của Lê Thái Tông và lăng các vua Lê đều ở
đây cả, lăng nào cũng có bia….”.
Nhưng trải qua thời gian và những biến thiên lịch sử, nhiều kiến trúc của
khu di tích Lam Kinh không còn lại bao nhiêu, nhất là sau khi triều Nguyễn
chuyển việc thờ cúng các vua Lê từ Lam Kinh về đền Bố Vệ (thành phố Thanh
Hoá). Sau khi kháng chiến chống thực dân pháp kết thúc thắng lợi, hoà bình lập
lại ở miền Bắc, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước năm 1961 đã cho xây
dựng nhà che bia Vĩnh Lăng. Năm 1962, Bộ văn hoá thông tin quyết định xếp
hạng cấp quốc gia đối với di tích Lam Kinh.
Qua những hoạt động này học sinh bước đầu làm quen với công tác
nghiên cứu khoa học, giáo dục các em tính chuyên cần trong lao động, học tập
và gây hứng thu cho học sinh
III- KIỂM NGHIỆM

10B2 46 14 30,4 24 52,2 8 17,4 0
-
0
15

- Kết quả thực nghiệm có sự chênh lệch giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
về tỉ lệ điểm giỏi, khá và trung bình. Điều đó cho thấy học sinh lớp thử nghiệm
nắm bài và lĩnh hội kiến thức tốt hơn lớp đối chứng.
* Kiểm nghiệm phương pháp tiến hành bài học lịch sử dân tộc tại di tích
lịch sử cách mạng:
Cụ thể tôi tiến hành thực nghiệm ở trường THPT Lam Kinh qua bài 19
lớp 10 (chương trình chuẩn); tôi chọn hai lớp 10B3 (lớp thực nghiệm) và lớp
10B4 (lớp đối chứng). Hai lớp này có số lượng học sinh và sức học ngang nhau.
- Phương pháp tiến hành:
+ Lớp thực nghiệm: Sử dụng giáo án có thể hiện những dự kiến về biện
pháp dạy học lịch sử tại thực địa.
+ Lớp đối chứng: Sử dụng giáo án soạn bình thường như tiến hành trên
lớp học.
- Kết quả chấm bài kiểm tra như sau:
Lớp Số HS
Loại giỏi
(9-10đ)
Loại khá
(7-8đ)
Loại TB
(5-6đ)
Loại yếu
(4đ trở xuống)
L % SL % SL % SL %
10B3 42 14 33,3 16 38,1 12 28,6 0

A. Biết và hiểu rõ nội dung di tích phản ánh
B. Biết và nhưng không hiểu rõ nội dung di tích phản ánh
C. Không biết
D. Không quan tâm
Câu 3: Em có thích đến tham quan và học tập tại di tích lịch sử không?
A. Rất thích
B. Thích
C. Bình thường
C. Không thích
Câu 4: Em có hay đọc các tài liệu viết về di tích lịch sử không?
A. Có
B. Không bao giờ
C. Một lần
D. Chưa có điều kiện đọc
Câu 5: Theo em việc tham quan học tâp tại các khu di tích lịch sử có gì khác
so với bài học trên lớp?
A. Sinh động hơn
B. Dễ nhớ, hiểu sâu sắc các sự kiện lịch sử hơn
C. Thấy tự hào về truyền thống quê hương đất nước hơn
D. Không khác gì
Câu 6: Em đã đi tham quan các di tích trên địa bàn Thọ xuân chưa?
A. Thường xuyên
B. Thỉnh thoảng
C. Chưa lần nào
D. Không cần thiết
Câu 7: Theo em có nên tổ chức các hoạt động ngoại khoá Lịch sử ở trường
THPT không?
A. Có
B. Không
17

sử dụng tư liệu để làm bài giảng phong phú hơn.
Từ việc phân tích cơ sở lý luận và phân tích thực trạng của việc sử dụng
di tích lịch sử trong dạy học lịch sử ở trường THPT, tôi mạnh dạn đưa ra một số
kiến nghị để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng di tích lịch sử như sau:
Một là: Các trường THPT và Sở giáo dục & đào tạo Thanh Hoá phối hợp
biên soạn các tài liệu tham khảo và giảng dạy về các di tích lịch sử của quê
hương. Đây sẽ là cuốn “cẩm nang” rất có ích cho giáo viên trong việc dạy học.
Hai là: Cần thiết Bộ GD phải đưa thêm nhiều kênh hình về di tích lịch
sử ào sách giáo khoa. Có như vậy mới tạo điều kiện cho học sinh nắm vững kiến
thức, cụ thể hoá các sự kiện lịch sử.
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị Thanh Hoá, ngày 20/5/2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người khác.
Đoàn Thị Hương
19
MỤC LỤC
A- ĐẶT VẤN ĐỀ
B- NỘI DUNG:
I- CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG DI TÍCH LỊCH
SỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT.
1- Cơ sở lý luận:
2- Thực trạng của việc sử dụng di tích lịch sử trong dạy học bộ môn Lịch sử
ở trường THPT i địa phương Thọ xuân:
II- GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1- Tổng quan các di tích lịch sử trên địa bàn huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá
2- Sử dụng di tích lịch sử trong giờ học nội khoá:
a- Khai thác, sử dụng tài liệu về di tích lịch sử để dạy bài lịch sử nội khoá ở
lớp 10 – THPT
b- Tiến hành bài học lịch sử tại khu di tích
3- Tổ chức hiệu quả hoạt động tham quan học tập tại khu di tích khi dạy

1. Tính thiết thực Có thể áp dụng đối vơi mọi địa phương và
x
Mọi đối tượng học sinh.
2. Tính sáng tạo Biết cách vận dụng các thế mạnh của địa
x
phương vào dạy học lịch sử
3. Tính khoa học Đảm bảo về mặt hình thức, cấu trúc nội
x
hợp lý đúng theo yêu cầu của một SKKN
4. Tính hiệu quả Phát huy được tính tích cực chủ động, sáng
x
tạo của cả người dạy và người học
Điểm chung: 9,0 điểm. Bằng chữ: Chín tròn
Xếp loại: A

Ngày 20 tháng 05 năm 2013
Người đánh giá xếp loại
(Ký, ghi rõ họ và tên)
Đặng Thị Thu Hằng
22
SỞ GD&ĐT THANH HÓA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ VIÊT NAM
TRƯỜNG THPT LAM KINH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
PHIẾU ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI SKKN
- Họ và tên tác giả: Đoàn Thị Hương ; Chức vụ: Giáo viên
- Đơn vị công tác: Trường THPT Lam Kinh
- Tên SKKN: Một vài biện pháp sử dụng di tích lịch sử trên địa bàn huyện Thọ xuân
trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, lớp 10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status