Điều tra thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải trên địa bàn huyện phú bình, tỉnh thái nguyên - Pdf 34

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
-------------------------

Họ và tên sinh viên: Dương Văn Cường

BÁO CÁO THỰC TẬP

Tên đề tài: “Điều tra thực trạng và đề xuất một số
biện pháp quản lý, xử lý rác thải trên địa bàn
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”

Thái Nguyên - năm 2012
1


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
-----------------------

Họ và tên sinh viên: Dương Văn Cường

Tên đề tài thực tập: “Điều tra thực trạng và đề xuất
một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải tại
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”

Ngành: Khoa học môi trường

Giảng viên hướng dẫn: Th.S. Nguyễn Thị Hồng Viên

Thái Nguyên – năm 2012

của em không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Em rất mong nhận dược
sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để Báo cáo thực
tập của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày

tháng

năm 2012

Sinh viên

Dương Văn Cường

3


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN.......................................................................................................3
Phần 1: TỔNG QUAN CHUNG………………………………………………...5
I. Giới thiệu về cơ quan thực tập………………………………………………...5
II. Nội dung công việc được phân công/Nội dung tìm hiểu……………………..6
III. Phương pháp thực hiện………………………………………………………6
IV. Các kết quả đạt được………………………………………………………...7
Phần 2: ĐỀ TÀI THỰC HIỆN…………………………………………………..8
Chương 1. MỞ ĐẦU…………………………………………………………….8
I. Tính cấp thiết của đề tài……………………………………………………….8
II. Mục đích nghiên cứu…………………………………………………………9
III. Yêu cầu………………………………………………………………………9
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU…………………9

+ Tóm tắt cơ cấu tổ chức:
- Phòng, ban, đơn vị trực thuộc:;
Có Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất trực thuộc phòng Tài nguyên
và Môi trường huyện Phú Bình.
- Tổng số cán bộ, công chức, nhân viên: ;
Có 13 người, . Ttrong đó: Phòng Tài nguyên và Môi trường: có 8 người
và Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất (trực thuộc phòng Tài nguyên và Môi
trường): có 5 người.
Phòng Tài nguyên và Môi trường có 01 đồng chí Trưởng phòng, 01 đồng
chí Phó Trưởng phòng.
Chức danh Giám đốc Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất do đồng chí
Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường kiêm nhiệm.
- Chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên:;
Về chuyên môn có 10 đồng chí có trình độ Đại học, 01 đồng chí có trình
độ cao đẳng và 02 đồng chí có trình độ Trung cấp.
- Các tổ chức đảng, đoàn thể:;
+ Có Chi bộ phòng TN&MT gồm 09 đồng chí đảng viên, trong đó có 01
đồng chí Bí thư và 01 đồng chí Phó Bí thư Chi bộ.
Có + Công đoàn cơ sở phòng TN&MT có 13 đoàn viên công đoàn, trong
đó Ban chấp hành công đoàn cơ sở phòng Tài nguyên và Môi trường gồm 03
đồng chí (01 đồng chí Chủ tịch công đoàn, 01 đồng chí Phó Chủ tịch công đoàn
và 01 đồng chí là uỷ viên).
5


+ Có Chi đoàn thanh niên gồm 08 đoàn viên, trong đó có 01 đồng chí Bí
thư Chi đoàn và 01 đồng chí Phó Bí thư Chi đoàn.
+ Có Chi hội chữ thập đỏ gồm 13 đồng chí, trong đó Ban chấp hành có
03 đồng chí (01 đồng chí Chi hội trưởng, 01 đồng chí Chi hội phó và 01 đồng
chí ủy viên).


+ Phỏng vấn người dân nhằm thu thập ý kiến của các hộ gia đình về tình
hình quản lý rác thải tại địa phương.
- Phương Pháp chuyên gia:
+ Hình thức thực hiện phương pháp này thông qua các buổi gặp gỡ, trao
đổi và thảo luận với các cán bộ tại địa phương và giáo viên hướng dẫn nhằm
tháo gỡ những thắc mắc.
- Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
+ Tổng hợp tất cả các số liệu thu thập được từ các phương pháp trên.
+ Xử lý số liệu bằng Word, Excel.
IV. Các kết quả đạt được
Những nội dung lý thuyết đã được củng cố: Củng cố và hệ thống hóa lại
các kiến thức đã được học trên nhà trường về môi trường, ô nhiễm môi trường,
quản lý môi trường, các biện pháp quản lý và xử lý rác thải. Hiểu rõ hơn các
văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường…
Những kỹ năng thực hành đã được học hỏi: Kkỹ năng làm việc, kỹ năng
điều tra, tìm hiểu, thu thập thông tin, số liệu, kỹ năng phân tích thông tin, xử lý
số liệu, kỹ năng lựa chọn thông tin, kỹ năng lập báo cáo, kỹ năng xem xét, thẩm
định hồ sơ, văn bản…
Những kinh nghiệm thực tiễn đã được tích lũy: Kinh nghiệm quản lý nhà
nước về tài nguyên và môi trường, kinh nghiệm về công tác bảo vệ môi trường,
kinh nghiệm về điều tra thu thập thông tin thực tế…

7


Phần 2: ĐỀ TÀI THỰC HIỆN
Chương 1. MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Quá

thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải trên địa bàn
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”.

II. Mục đích nghiên cứu
+ Điều tra thành phần vàsố lượng, thành phần của rác thải trên địa bàn huyện;
+ Điều tra công tác quản lý, vận chuyển, thu gom, công tác tuyên truyền vệ sinh
môi trường và nhận thức của người dân về rác thải;
+ Đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải nhằm góp phần giảm thiểu ô
nhiễm môi trường.
III. Yêu cầu
+ Xác định được khối lượng và thành phần rác thải.
+ Xácã định lượng rác thải bình quân trên đầu người (kg/người/ngày).
+ Thống kê lượng rác thải trung bình theo ngày (tấn/ ngày ).
+ Đề xuất được các biện pháp quản lý, xử lý rác thải để đạt được hiệu quả tốt nhất.

Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu: Nnghiên cứu về hiện trạng rác thải trên địa bàn huyện
Phú Bình (nguồn phát sinh, thành phần, khối lượng rác) và hiện trạng quản lý
rác thải tại đây ( tình hình thu gom, vận chuyển, xử lý…)
+ Phạm vi nghiên cứu: huyện Phú Bình
II. Nội dung nghiên cứu
+ Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Phú Bình
+ Thực trạng phát sinh rác thải của huyện: Tthành phần rác thải, lượng thải bình
quân theo ngày…
+ Điều tra công tác quản lý và xử lý rác thải trên địa bàn huyện: hoạt động quản
lý, thu gom, thái độ của nhà quản lý, công nhân thu gom, các hộ gia đình…
+ Những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa
bàn huyện hiện nay.
9

Cơ cấu kinh tế của huyện: Nông lâm nghiệp - Công nghiệp - dịch vụ.
Trong giai đoạn 2004 - 2011 tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 8,6%, tình hình
kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng ổn định, đời sống nhân dân dần được cải
10


thiện, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư phát triển trên tất cả các lĩnh
vực; chính sách an sinh xã hội được thực hiện một cách nghiêm túc.
Cơ cấu sản xuất chủ yếu là nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn (diện tích đất
nông nghiệp chiếm 55,5%), bên cạnh đó còn có các ngành nghề như công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ… cũng đang được phát triển và gia tăng tỷ
trọng hằng năm, cơ sở vật chất của các trụ sở làm việc từ xã đến huyện hầu hết
đã và đang được xây dựng khang trang. Điện đã được dẫn đến tất cả các thôn
xóm trên địa bàn huyện.
Định hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện giai đoạn
2011-2015 là đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững, đẩy nhanh tốc độ chuyển
dịch cơ cấu nền kinh tế, chuyển dần từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch
vụ. Tận dụng khai thác tối đa các nguồn lực, tiềm năng của huyện phục vụ cho
phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo mức sống cho nhân dân, an sinh
xã hội. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của các cấp, các ngành, chủ động
phòng ngừa có hiệu quả các vấn đề tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông, dịch bệnh,
ô nhiễm môi trường…
2I.2 Thuận lợi
+ Huyện Phú Bình có đường Quốc lộ 37 chạy qua và có vị trí không xa so
với trung tâm của tỉnh Thái Nguyên (giáp với thành phố Thái Nguyên) nên rất
thuận lợi cho việc giao thông đi lại, giao thương phát triển kinh tế của địa
phương.
+ Trong thời gian tới huyện được đầu tư xây dựng mới và nâng cấp nhiều
công trình hạ tầng cơ sở, mở rộng, phát triển đô thị và tiếp nhận các dự án phát triển
công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại, du lịch……

dân trong huyện và các huyện liền kề chứ chưa được tiêu thụ rộng rãi.
II. Thực trạng rác thải tại huyện Phú Bình
2II.1 Nguồn phát sinh rác thải
Qua quá trình điều tra thực tế và thu thập các số liệu có liên quan thì rác
thải phát sinh trên địa bàn huyện Phú Bình chủ yếu bao gồm các rác thải sinh
hoạt, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng và, dịch vụ.…
có nNguồn gốc phát sinh là từ các hộ gia đình, từ các cơ quan, trường học, khu
chợ, quán ăn, khu vui chơi, giải trí, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ…
trên địa bàn huyện.
Nguồn phát sinh rác thải của toàn huyện được thể hiện ở bảng 2.1
Bảng 2.1. Nguồn phát sinh rác thải trên địa bàn huyện
Nguồn

Tỷ lệ (%)

Rác thải từ hộ gia đình, khu dân cư

81%

Rác thải từ các khu chợ

7,5%

Rác thải từ các quán ăn, cơ sở sản xuất, dịch vụ công
cộng…

3,7%

Rác thải từ trường học, cơ quan.


bao gồm: vỏ rau củ, hoa quả, thức ăn thừa; tỷ lệ chất thải vô cơ (phi hữu cơ) là
53% bao gồm chủ yếu túi nilon, bao bì, vỏ chai nhựa, cao su, thủy tinh, giấy, giẻ
vụn, chất thải xây dựng…
Bảng 2.2 Thành phần rác thải tại huyện Phú Bình
Thành phần rác

Tỷ lệ(%)

Chất hữu cơ

47%

Giấy, giẻ rách

9%

Nhựa, cao su, bao nilon

14%

Kim loại, vỏ đồ hộp

3%

Thuỷ tinh, mảnh vụn

5%

Đất cát, xỉ than, và các tạp chất khác


25 xe gom rác đẩy tay, số trang thiết bị vệ sinh môi trường trên UBND huyện đã
giao cho 12 xã có phát sinh nhiều rác thải, gồm các xã Thượng Đình, Điềm
Thụy, Nhã Lộng, Hà Châu, Xuân Phương, Bảo Lý, Tân Thành, Tân Hòa, Tân
Đức, Lương Phú, Thanh Ninh, Kha Sơn.
UBND huyện Phú Bình đã xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai thực
hiện công tác quản lý chất thải rắn và y tế trên địa bàn huyện, chỉ đạo các cơ
quan chuyên môn, UBND các xã, thị trấn tăng cường công tác thu gom, vận
chuyển và xử lý rác thải đảm bảo vệ sinh môi trường.
Năm 2010, UBND huyện đã có văn bản chỉ đạo UBND các xã, thị trấn
trên địa bàn huyện thành lập các đội vệ sinh môi trường để thu gom, xử lý lượng
rác thải phát sinh trên địa bàn, đặc biệt tại các khu chợ và khu đông dân cư,
những điểm nóng về ô nhiễm môi trường trên địa bàn huyện.
14


3III.1 Thực trạng quản lý rác thải tại thị trấn Hương Sơn.
Thị trấn Hương Sơn là khu vực trung tâm của huyện Phú Bình, là trung
tâm kinh tế - xã hội - chính trị của huyện. Trên địa bàn thị trấn đã được đầu tư
xây dựng một khu xử lý rác thải bằng biện pháp chôn lấp., Khu xử lý rác thải thị
trấn Hương Sơn có tổng mức đầu tư là 2572 triệu đồng, diện tích là 6 ha.
Công tác quản lý và thu gom rác thải trên địa bàn thị trấn diễn ra chặt chẽ
và do trạm DVCN&VSMT huyện đảm nhận.
Trạm trưởng trạm
DVCN&MT

Tổ nước, phục vụ,
ánh sáng công cộng

Tổ hành chính



rác thải của thị trấn Hương Sơn để xử lý thì gặp nhiều khó khăn trong công tác
vận chuyển.
Nhìn chung công tác VSMT trên địa bàn huyện đã từng bước được nhân
dân trên địa bàn huyện nhận thức và thực hiện có hiệu quả, góp phần làm sạch
môi trường, tạo cảnh quan, mỹ quan tại các khu công sở, khu dân cư, đường
làng, ngõ xóm.
IV. Thực trạng thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Phú Bình
4IV.1 Khả năng đáp ứng của công tác thu gom
a. Thiết bị và phương tiện thu gom:
Trang thiết bị thu gom: chủ yếu là các xe thu gom đẩy tay và thùng đựng
rác công cộng, trong đó 1 số đã cũ và hư hỏng do được mua sắm từ nhiều năm
trước, 1 số được UBND huyện trang bị và được sở TN&MT hỗ trợ. Số lượng xe
gom rác đẩy tay và thùng đựng rác công cộng trên địa bàn còn ít chưa đáp ứng
được so với yêu cầu, xe gom rác đẩy tay khoảng trên 30 chiếc và thùng đựng rác
công cộng khoảng trên 60 chiếc, ngoài ra còn có chổi quét và mê hót rác, lượng
chổi và mê hót rác sẽ được mua thay thế khi bị hỏng.
Trang thiết bị vận chuyển, xử lý rác thải: năm 2010 UBND huyện Phú
Bình đã trang bị 1 chiếc xe ô tô chuyên dụng để vận chuyển rác thải trên địa bàn
và giao cho Trạm DVCN&VSMT huyện quản lý vận hành để vận chuyển rác
thải trên địa bàn thị trấn Hương Sơn vào bãi chôn lấp rác thải thị trấn Hương
Sơn để tiến hành xử lý, chôn lấp. Việc vận chuyển rác thải vào khu chôn lấp rác
của thị trấn Hương Sơn đã được thực hiện từ đầu năm 2011 sau khi được sở
TN&MT, chi cục BVMT kiểm tra, đồng ý đưa vào sử dụng hố chôn lấp rác số 2.
Trang thiết bị bảo hộ cho công nhân thu gom, vận chuyển rác: trạm cũng
đã đầu tư mua và trang bị cho công nhân các trang thiết bị bảo hộ phục vụ công
tác thu gom và vân chuyển rác thải như quần áo bảo hộ lao động 2 bộ
/người/năm, ủng 2 đôi/người/năm, găng tay 4 đôi/người/năm, mũ 1 chiếc /người
năm, khẩu trang.
b. Tiền công chi cho công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải:

Tại khu vực thị trấn, khu trung tâm huyện thì rác thải được thu gom hàng
ngày và do công nhân của Trạm DVCN&VSMT huyện thực hiện, việc thu gom
rác được thực hiện vào buổi chiều bắt đầu từ 16h-21h, các công nhân sử dụng xe
thu gom rác đẩy tay để đi dọc theo các tuyến đường, các khu dân cư để thu gom
rác và đưa về điểm tập kết, sau đó rác thải được đưa lên xe ô tô chuyên dụng để
chở rác đến bãi chôn lấp rác xử lý.
Tại một số nơi của các xã có các khu chôn lấp, xử lý rác quy mô nhỏ thì
rác thải được người dân tập trung thu gom lại tại các điểm quy định, 2-3 ngày thì
công nhân của các tổ vệ sinh môi trường tại các xã này sẽ tiến hành đi thu gom
và đưa lượng rác thải trên về các khu chôn lấp của xã để xử lý.
Tại các xã và những nơi chưa có khu xử lý rác thải tập trung thì rác thải
chủ yếu được các hộ gia đình tự thu gom và xử lý hàng ngày.
Ước tính khối lượng thu gom, tỷ lệ thu gom rác thải trên địa bàn huyện
như sau:
- Rác thải khu dân cư: khối lượng thu gom khoảng 10 tấn/ngày, đạt
khoảng 30%.
- Rác thải cơ quan, trường học: khối lượng thu gom khoảng 4,5 tấn/ngày,
đạt khoảng 70%.
- Rác thải từ các nhà hàng, nhà nghỉ, khu kinh doanh dịch vụ: khối lượng
thu gom khoảng 0,5 tấn/ngày, đạt khoảng 90%.
- Rác thải tại các khu chợ: khối lượng thu gom khoảng 3 tấn/ngày, đạt
khoảng 50%.
- Rác thải khác: khối lượng thu gom khoảng 0,5 tấn/ngày, đạt khoảng
20%.
17


Phạm vi thu gom: Tổng số dân trên địa bàn huyện khoảng trên 134 ngàn
người, trong đó số hộ dân được cung cấp dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt,
phạm vi thu gom chủ yếu chủ yếu thuộc khu đô thị, khu thị trấn với phạm vi,

xử lý được, đạt tiêu trí trạm y tế chuẩn theo tiêu chuẩn của bộ y tế.
Rác được thải ra tại các khu chợ được ban quản lý chợ thu gom hàng ngày
sau phiên chợ và tiến hành xử lý bằng phương pháp đốt hoặc đưa đi chôn lấp.
V. Thái độ của nhà quản lý, công nhân thu gom và hộ gia đình đối với công
tác quản lý rác thải sinh hoạt
V.1 Thái độ của nhà quản lý
18


Theo điều tra thực tế cho thấy, những người có trách nhiện trong việc quản
lý, xử lý rác thải sinh hoạt ở thôn cũng như ở huyện chưa có sự quan tâm sát
xao đến công việc của mình dẫn đến tình trạng quản lý chưa chặt chẽ vấn đề thu
gom, xử lý rác thải.
Mặt khác những người chịu trách nhiệm quản lý này thiếu kiến thức
chuyên môn cần thiết cho công việc của mình. Do đó việc tuyên truyền cho
người dân hiểu trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong việc bảo vệ môi trường
là chưa cao.
V.2 Thái độ của người thu gom
Theo kết quả phỏng vấn những người thu gom rác thải tại thị trấn Hương
Sơn họ đều phản ánh là nhận được mức lương chưa thỏa đáng, cụ thể: là
1.200.000 đồng/người/tháng. Ngoài lương ra họ chưa có chế độ đãi ngộ nào
trong khi phải tiếp xúc với mùi hôi thối từ rác thải.
Khi được hỏi về ý thức của người dân trên địa bàn thị trấn thì đa số người
dân chấp hành tốt việc đổ rác bên cạch đó vẫn có hành vi đổ rác ra những nơi
công cộng một cách bừa bãi không đúng nơi quy định.
V.3 Thái độ của hộ gia đình
Mức phí vệ sinh hàng tháng: 3000 đồng/người/tháng, tuy nhiên có một vài
hộ lại không đóng phí vệ sinh vì cho rằng họ không có mấy rác thải và họ có thể
tự xử lý được không cần thu gom. Có 1 số hộ điều tra cho rằng mức phí đó là
cao do các hộ đó thu nhập chính từ nông nghiệp, có 1 số hộ cho rằng mức phí đó

được thu gom và xử lý gây mất cảnh quan, ô nhiễm môi trường (không khí, đất,
nước) đặc biệt là tại các khu chợ.
Tại các xã chưa có cán bộ làm công tác quản lý môi trường, mà công việc
này thường do đông chí cán bộ địa chính kiêm nhiệm nên hiệu quả công tác
tham mưu, tổ chức thực hiện về công tác bảo vệ môi trường taih các cấp xã còn
buông lỏng, chưa thực sự chú trọng, quan tâm,ở cấp huyện mới có 1 đồng chí
làm công tác quản lý môi trường và phảo kiêm nhiệm nhiều công việc khác dẫn
đến chất lượng tham mưu về công tác quản lý bảo vệ môi trường trên địa bàn
hiệu quả chưa cao.
Vấn đề bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện chưa thực sự thành phong
trào tự giác của quần chúng, nhận thức của các cấp, các ngành, các doanh
nghiệp, cộng đồng dân cư về môi trường còn hạn chế, ý thức chấp hành pháp
luật của một số người dân còn chưa cao.
Công tác điều tra, thanh tra, kiểm tra chưa được thực hiện một cách chủ
động, thường xuyên, tích cực, các chế tài xử phạt vi phạm còn chưa đủ sức răn
đe, do địa bàn quản lý rộng, phức tạp, nguồn nhân lực còn ít, cơ sở vật chất, các
trang thiết bị còn thiếu thốn.
Việc lồng ghép các chương trình bảo vệ môi trường vào các quy hoạch,
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các chương trình, dự án, các cuộc thi đua,
các tiêu chí phát triển nông thôn mới. Chưa được thường xuyên quan tâm, chú
trọng. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành trong công tác quản lý, bảo
vệ môi trường còn chưa cao.
Kinh phí đầu tư cho xây dựng các công trình, trang thiết bị phục vụ công
tác bảo vệ môi trường còn hạn chế, chưa đáp ứng được so với các yêu cầu đặt ra,
cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn yếu kém, lạc hậu chưa tương xứng được với tốc độ
tăng trưởng phát triển kinh tế - xã hội, nên chưa đáp ứng được các yêu cầu về
công tác quản lý và bảo vệ môi trường.
VII.2 Khó khăn trong công tác xử lý rác thải
Ý thức bảo vệ môi trường và tham gia bảo vệ môi trường của nhân dân
còn nhiều hạn chế, tình trạng vứt rác, đổ rác thải bừa bãi gây mất vệ sinh môi

môi trường còn nhiều hạn chế, chưa thực sự được coi trọng, nhận thức về bảo vệ
môi trường của người dân, các tổ chức, cơ sở sản xuất, kinh doanh và các tầng
lớp khác còn nhiều hạn chế, chỉ chú trọng đến lợi ích trước mắt mà không quan
tâm đến hậu quả môi trường lâu dài mà nó gây ra.
Do thiếu nhân lực làm công tác quản lý môi trường, chưa có cán bộ
chuyên môn ở cấp xã, thị trấn, thiếu trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật phục
vụ cho công tác quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải…
Chương 4. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ, XỬ LÝ RÁC
THẢI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ BÌNH
21


I. Biện pháp về quản lý
Với dự báo lượng rác thải phát sinh trong thời gian tới sẽ đặt ra những yêu
cầu cấp bách trong công tác quản lý rác thải trên địa bàn huyện chính vì vậy cần
phải có những biện pháp quản lý thích hợp. Trong giai đoạn hiện nay, để thực
hiện nhiệm vụ quản lý môi trường nói chung và quản lý rác thải sinh hoạt nói
riêng, ta có thể áp dụng nhiều công cụ khác nhau như: công cụ pháp luật, công
cụ kinh tế, giáo dục cộng đồng…nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi
trường cho toàn huyện.
Tập trung quy hoạch các khu xử lý chất thải phù hợp với mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội và đảm bảo các điều kiện về vệ sinh môi trường.
Tăng cường công tác chỉ đạo, lãnh đạo việc triển khai thực hiện công tác
quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.
Xử phạt hành chính đối với các hành vi xả rác gây ô nhiễm môi trường,
đổ rác không đúng nơi quy định.
Tăng cường, bổ xung nhân lực làm công tác quản lý bảo vệ môi trường
cho các cấp huyện và cấp xã, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho các cán
bộ làm công tác bảo vệ môi trường.
Tăng ngân sách nhà nước cho hoạt động tuyên truyền và bảo vệ môi

sức khỏe con người nếu không được xử lý cẩn thận.
+ Có thể sản xuất khí sinh học tại hộ gia đình vào những vụ thu hoạch, tận
dụng phế thải đồng ruộng, chất thải chăn nuôi và một phần chất thải sinh hoạt.
+ Xây dụng nhà máy xử lý rác làm phân vi sinh chung cho cả huyện sử
dụng vào sản xuất nông nghiệp phục vụ nhân dân trong huyện như vậy sẽ tận
dụng được triệt để nguồn rác thải hữu cơ.
+ Đối với rác thải không tái chế được như: gạch ngói, đất đá, thủy tinh, túi
nilon…biện pháp xử lý thích hợp là chôn lấp. Trước tình hình đó thì việc xây
dựng bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh chung cho toàn huyện là rất cần thiết. Việc
này sẽ giúp xóa bỏ những bãi rác lộ thiên đang tồn tại giúp giảm thiểu ô nhiễm
môi trường.

Chương V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận
Công tác quản lý rác thải trên địa bàn huyện Phú Bình hiện chưa đáp ứng
được so với yêu cầu thực tiễn đặt ra, cũng như các điều kiện về vệ sinh môi
trường, công trình khu chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn Hương Sơn
chưa được xây dựng hoàn thành, hoạt động thu gom, xử lý rác thải diễn ra trên
quy mô nhỏ.
Công tác thu gom, vận chuyển rác thải đã được thực hiện trong khu vực
nhưng hiệu quả thu gom mới chỉ đạt ở mức thấp. Mặt khác công tác xử lý rác
thải trên địa chưa được quan tâm về nhân lực, đầu tư công nghệ và quản lý. Các
bãi đổ rác chỉ mang tính chất tình thế nên làm nảy sinh nhiều vấn đề, ảnh hưởng
tới mỹ quan, ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân.
+ Rác thải chưa được phân loại tại nguồn, chưa áp dụng phương pháp phân
loại và thu gom hợp vệ sinh.

23





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status