TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
ĐINH THỊ THƠM
NHÂN VẬT NỮ TRONG
TRUYỆN NGẮN CỦA IVAN BUNHIN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận Văn học
HÀ NỘI - 2014 HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới Th.S
Nguyễn Thị Vân Anh - người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp đỡ
tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo trong khoa Ngữ
văn, đặc biệt là thầy cô trong tổ Lí luận văn học và các bạn sinh viên đã giúp
đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận.
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2014
Ngƣời thực hiện Đinh Thị Thơm
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu 5
6. Đóng góp của khóa luận 5
7. Bố cục của khóa luận 5
NỘI DUNG 6
Chƣơng1: KHÁI QUÁT VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ VAI TRÒ
NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA IVAN BUNHIN 6
1.1. Tìm hiểu chung về nhân vật văn học 6
1.1.1. Khái niệm nhân vật văn học 6
1.1.2. Chức năng của nhân vật trong tác phẩm văn học 7
1.2. Vị trí nhân vật nữ trong truyện ngắn của Ivan Bunhin. 8
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Khi nói tới nước Nga, có lẽ nhiều người sẽ nghĩ tới những hàng bạch
dương đại ngàn, những điệu nhảy uyển chuyển cùng hình ảnh của những con
búp bê Matryoska. Nhưng không hẳn ai cũng biết tới và biết sâu về văn hóa
nghệ thuật Nga. Cũng như nhiều dân tộc trên thế giới, từ xa xưa nền văn hóa
nghệ thuật Nga đã hình thành và tạo nên món ăn tinh thần phong phú trong
đời sống nhân dân. Trong đó, văn học là một trong những loại hình nghệ thuật
đạt nhiều thành tựu xuất sắc. Ở đó ta tìm thấy tất cả bản sắc Nga, tâm hồn
Nga và thiên nhiên Nga. Dòng văn học viết ở Nga hình thành và phát triển với
lịch sử gần 1000 năm và ngày càng khẳng định vị thế của nó trong nền văn
học thế giới. Thời đại nào cũng có nhiều tác giả, tác phẩm nổi tiếng đạt giá trị
tư tưởng, nghệ thuật cao. Tiêu biểu có những cây đại thụ như Gôgôn, Puskin,
Sêkhôp, Gorki… Trong dòng văn học Nga hiện đại, ta không thể không nhắc
tới Ivan Bunhin - người mang vinh quang về cho nền văn học Nga với giải
thưởng Nobel vào năm 1933.
Ivan Alekseyevich Bunhin (1870 – 1953) là một trong những cây bút
xuất sắc của nền văn học Nga giai đoạn cuối thế kỉ XIX đầu XX. Giống nhiều
nhà văn Nga khác, ông dành cho đất nước và con người Nga một tình yêu tha
thiết, thẳm sâu. Bunhin đã từng bộc bạch chân thành: Làm sao chúng ta có thể
quên Tổ quốc hay Đất nước và con người bao giờ cũng khiến tôi rung động
Tổ quốc. Ông viết về thiên nhiên Nga, con người Nga trong đó tâm điểm là vẻ
đẹp và số phận của những người phụ nữ . Ông luôn đặt họ trong những biểu
hiện phong phú, phức tạp của tình yêu đôi lứa. Qua đó thể hiện cái nhìn của
nhà văn về người phụ nữ.
Bunhin - một đời văn xuất sắc cùng những trang viết đằm thắm dành
cho phái đẹp đã trở thành đề tài nghiên cứu cho những ai yêu văn học nói
3
chung, văn học Nga cùng Bunhin nói riêng. Có một số bài viết nghiên cứu về
Bunhin, tiêu biểu như tiểu luận của sinh viên Nguyễn Thị Huệ, khoa văn
trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội. Tác giả có bài viết với tiêu đề: Nghệ thuật
miêu tả tâm lí nhân vật trong truyện Say Nắng của Bunhin [10]. Bài viết chỉ
ra cái hay của Bunhin khi miêu tả tâm lí nhân vật thiếu úy. Những tâm lí ấy
diễn ra gắn liền với tất cả tình cảm, tình yêu mà chàng dành cho người thiếu
phụ.
Trên Tạp chí Sông Hương – Số 185 (tháng 7), Hà Văn Lưỡng có bài
viết về Bunhin với tiêu đề: Một số đặc điểm của văn xuôi Ivan Bunhin. Tác
giả nhận định: Trong những truyện ngắn của mình, I.Bunhin đã dành một số
lượng khá lớn nói đến người phụ nữ, nói đến tình yêu và khát vọng sống của
họ. Nếu Ph.Đôtxtôiepxki cho rằng cái đẹp cứu rỗi thế giới thì Bunhin lại quan
niệm tình yêu là cuộc sống của con người. Trong số hàng chục truyện ngắn
của Bunin viết về tình yêu của người phụ nữ, nhà văn luôn dành cho họ
những tình cảm chân thành và thái độ trân trọng nhất [11].
Trên trang mạng Vnca.cand.com.vn cũng có bài viết Văn hào Nga Ivan
Bunhin: Một cuộc đời buồn và đẹp. Bài viết khái quát khá đầy đủ về cuộc đời,
sự nghiệp của Bunhin. Tác giả đặc biệt nhắc lại mối tình cuối đời của Bunhin
với một cô gái là nhà văn, nhà thơ trẻ Galina như một minh chứng cho sự
khao khát về tình yêu và lòng am hiểu phụ nữ của Bunhin.
Như vậy, những nghiên cứu về I.Bunhin ít nhiều đã nói tới thế giới phụ
nữ trong văn của ông. Tuy nhiên, chưa có bài viết nào nghiên cứu một cách
- Nghiên cứu quan niệm về người phụ nữ của Ivan Bunhin và việc thể
hiện quan niệm đó trong thực tiễn sáng tác
- Phân loại các kiểu nhân vật nữ trong truyện ngắn của I.Bunhin
- Chỉ ra những đặc sắc nghệ thuật trong xây dựng nhân vật nữ thông
qua tác phẩm.
5
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Với đề tài: Nhân vật nữ trong truyện ngắn của I.Bunhin, người viết sẽ
vận dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp xác định lịch sử phát sinh
- Phương pháp phân tích tổng hợp
6. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận nghiên cứu một cách tương đối hệ thống, toàn diện hình
tượng nhân vật nữ trong truyện ngắn của Ivan Bunhin. Từ đó làm rõ vị trí, vai
trò nhân vật nữ trong truyện ngắn của I.Bunhin và những dấu ấn tài năng của
I.Bunhin trong việc khắc họa hình tượng người phụ nữ Nga.
7. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, chúng tôi sẽ triển
khai nội dung khóa luận thành ba chương cụ thể sau:
Chương 1: Khái quát về nhân vật văn học và vai trò nhân vật nữ trong
truyện ngắn của Ivan Bunhin
Chương 2: Quan niệm nghệ thuật về người phụ nữ và đặc điểm nhân
vật nữ trong truyện ngắn của Ivan Bunhin
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ của Ivan Bunhin
cách nhìn khác. Nhân vật văn học được ông xem xét trong mối tương quan
với cá tính sáng tạo, phong cách nhà văn, trường phái văn học: Nhân vật văn
học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà
7
văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong cách. Nhân vật văn
học là hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự
tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ. Bên cạnh con người,
nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang
đường hoặc gắn cho những đặc điểm giống con người [2]. Như vậy, nhân vật
văn học là một trong những yếu tố tạo nên phong cách của nhà văn và màu
sắc riêng của trường phái văn học.
Như vậy, trước nay tuy có nhiều quan niệm khác nhau về nhân vật,
song tựu trung lại có thể rút ra một cách hiểu phổ biến và tổng quát nhất như
sau: Thứ nhất, nhân vật phải là đối tượng được văn học miêu tả, thể hiện bằng
những phương tiện văn học. Thứ hai, đó là những con người hoặc những con
vật, đồ vật, sự vật, hiện tượng mang linh hồn con người, là hình ảnh ẩn dụ con
người. Thứ ba, đó là đối tượng mang tính ước lệ và cách điệu so với đời sống
hiện thực, bởi nó đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của nhà văn.
1.1.2. Chức năng của nhân vật trong tác phẩm văn học
Xuất phát từ nhiều quan niệm khác nhau về nhân vật văn học mà vai
trò của nhân vật được xem xét, đánh giá ở những mức độ khác nhau.
Trong cuốn Văn chương dẫn luận G.N. Pospelov nhấn mạnh: “Nhân
vật là phương diện có tính thứ nhất trong hình thức tác phẩm. Nó quyết định
phần lớn vừa cốt truyện, vừa lựa chọn chi tiết, vừa ngôn ngữ, vừa kết cấu”
[13, tr.43]. Nhân vật vừa là yếu tố nội dung, vừa thuộc về hình thức tác phẩm.
Nhân vật là điều kiện thiết yếu để khám phá, đánh giá, lí giải và sự miêu tả
mang tính nghệ thuật của tác giả về đới sống đạt đến tính toàn vẹn, có chiều
sâu và có sức hấp dẫn riêng với độc giả.
Ta biết rằng nhân vật là hình tượng con người, khi tính cách nhân vật
toả mạnh mẽ.
9
Viết về phụ nữ, nhà văn dành cho họ những tình cảm chân thành và thái
độ trân trọng. Tác giả biết khơi dậy trong những con người này chất men say
của tình yêu lứa đôi, làm bùng cháy khát vọng yêu đương và một tình yêu
mãnh liệt, chung thuỷ. Đồng thời nhà văn cũng chạnh lòng khi phải nói đến
những cái dang dở, những thoáng buồn thậm chí bi kịch của tình yêu. Dường
như khi yêu thì phải “chết trong lòng một ít” và “tình chỉ đẹp khi còn dang
dở”. Do vậy, các nhân vật trong truyện của Bunhin ban đầu đến với tình yêu
mãnh liệt, nồng cháy bao nhiêu thì thời gian hạnh phúc và giây phút chia tay
càng ngắn ngủi bấy nhiêu. Kết thúc truyện thường là một khoảng trống và
một nỗi buồn mông lung, man mác vừa luyến tiếc vừa như muốn níu kéo.
Nhưng cái buồn ở truyện ngắn Bunhin là cái buồn thanh sáng, cái buồn muôn
thuở của tình yêu không thành.
Tình yêu và hạnh phúc của người phụ nữ trong truyện ngắn của
I.Bunhin không bao giờ được tròn đầy. Nó luôn bị “vơi” đi và “khiếm
khuyết”, thậm chí chỉ còn là hoài niệm, hay rơi vào bi kịch. Nhưng điều mà
nhà văn nói đến không phải nhất thiết là một kết thúc có hậu mà lại là những
“khoảnh khắc thần tiên”, những giây phút hạnh phúc, là vẻ đẹp về hình thức
và tâm hồn của những người con gái Nga.
Như vậy, xuất phát từ vai trò của nhân vật văn học nói chung và nhân
vật nữ trong truyện Bunhin nói riêng. Người đọc cũng như người nghiên cứu
sẽ có cơ sở khách quan để đánh giá một cách đúng đắn nhất về tài năng xây
dựng nhân vật của Bunhin. Đồng thời, có cái nhìn một cách toàn diện về
người phụ nữ trong các sáng tác của Bunhin.
vào trang viết của Bunhin đầy tự nhiên và chân thực dù là người sống vụ lợi,
bản năng, nổi loạn hay những người tôn thờ tình yêu thủy chung với bi kịch
giày vò tinh thần. Bunhin phát hiện ra đầy đủ những tình cảm, cảm xúc khác
nhau của người phụ nữ đối với tình yêu, đây là một cái nhìn rất mới mẻ về
người phụ nữ.
2.2. Các kiểu nhân vật nữ trong truyện ngắn của I.Bunhin
Nhân vật có vai trò quan trọng đối với tác phẩm văn học, là chiếc chìa
khóa để người đọc tìm hiểu tác phẩm. Với nhà văn thì nhân vật là đứa con
tinh thần của họ. Họ luôn dành cho những đứa con tinh thần ấy của mình tình
cảm tuyệt vời nhất. Mỗi nhân vật được xây dựng đều có đặc điểm tính cách và
cá tính riêng, điều đó tùy thuộc vào dụng ý của người viết.
Thế giới nhân vật trong các sáng tác của Bunhin rất phong phú nhưng
trong mấy chục truyện ngắn của mình, phần đa ông dành ngòi bút tinh tế viết
về những người phụ nữ và gắn họ vào cuộc sống tình yêu. Người phụ nữ nào
trong truyện của ông cũng đều có một tình cảnh riêng. Có những người có tên
cụ thể như Natali, Ruxia, Xônhia, Lika… họ là những người ít nhiều có được
hạnh phúc trong tình yêu nhưng phần lớn là đau khổ. Bên cạnh đó cũng có
những người chỉ được định danh là “nàng” hay “cô gái”, phần nhiều là những
người phụ nữ biết đấu tranh để có hạnh phúc, tình yêu thực sự.
Dựa vào tâm lí, tính cách, đặc biệt là lối sống của nhân vật ta có thể
chia nhân vật nữ trong truyện ngắn của I.Bunhin thành các kiểu nhân vật đó
là: Nhân vật tha hóa, nhân vật bản năng, nhân vật bi kịch và nhân vật nổi loạn.
2.2.1. Nhân vật tha hóa
Từ xưa tới nay con người vẫn luôn là đối tượng của hoạt động sáng tạo
nghệ thuật. Việc quan tâm tới thế giới nghệ thuật của con người xã hội là đặc
điểm chung của văn học và của truyện ngắn nói riêng. Khrapchenco cũng
từng khẳng định: Cá nhân con người, sản phẩm của nó bao giờ cũng thu hút
12
chủ, có tự do. Chứ không giống khi còn nhỏ cô đã sống cuộc sống của một gia
đình nông nô mà các chủ nô cũng “nghèo xác nghèo xơ, quả đáng là những
người ăn xin”. Lấy ông ta, cô thấy hởi lòng hởi dạ vì mình không còn là cô
gái bình thường nữa mà trở thành Naxtaxia Xêmiônôpna Giôkhôva, là một thị
dân trong thành phố. Người phụ nữ ấy có những tính toán cũng bởi xã hội bấy
giờ khi chế độ nông nô nước Nga vẫn tồn tại. Nông nô là người đi ở với cuộc
sống tù túng, khổ cực, khúm núm. Sự lựa chọn này của nhân vật “tôi” phần
nào thể hiện tư tưởng của Bunhin. Nhà văn muốn vạch trần và tố cáo chế độ
nông nô của Nga Hoàng khiến con người ta mất đi tự do, tình yêu mà thiệt
thòi là người phụ nữ. Người phụ nữ hi sinh tình yêu thực sự của mình gắn với
cái nghèo để đánh đổi cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nhưng có tự do
và thân phận. Xã hội ấy khiến con người ta tha hóa dần dần. Gắn đời mình với
người đàn ông đầu tiên đã không cần có tình yêu, đã đầy vụ lợi, sau khi chồng
chết cô tiếp tục vết trượt dài với lối sống vị kỉ cá nhân ấy. Cô không còn nghĩ
tới hạnh phúc của một người phụ nữ theo đúng nghĩa là tình yêu mà cần có
nhiều, thật nhiều tiền. Đi ở cho nhà đại tá, với ý nghĩ “mình có sắc đẹp
nhường ấy sao lại rơi vào số phận làm công việc đầu tắt mặt tối như thế… tôi
bụng bảo dạ: phải biết nắm lấy thời cơ” [6, tr.66] mà cô quyến rũ ngài dù cho
ông ta có thân hình như “con lợn lòi”. Lúc này ở cô không đơn thuần là sự
toan tính để có tự do nữa mà chính đồng tiền đã khiến cô trở nên như vậy “tôi
thì nghèo mà đằng kia thì như người ta nói, có mất chút gì thì cũng như voi
rụng lông đuôi” [6, tr.66]. Khi cô tới giúp việc cho nhà buôn Xamôkhvalôp,
đỉnh điểm của sự tha hóa vụ lợi thể hiện rõ ở việc lợi dụng một cậu bé què
quặt chỉ mới qua tuổi 14 là Nikanor Matvêits - con trai nhà chủ: “Cái thằng
què quặt ấy nó lại mê tôi nữa chứ, sung sướng thay cho tôi mà khổ thay cho
nó” [6, tr.72]. Cậu ta có diện mạo xấu xí, dị tật, ốm yếu, ở tách biệt với mọi
14
người trong nhà nhưng cô sẵn sàng lén lút ngồi nói chuyện với cậu ta vì cậu
cho cô tiền. Thậm chí là “hôn” cậu ta vì cậu ta có ống tiền tiền tiết kiệm. Chính
ở đằng sau tấm áo ấy chẳng có một cái gì hết” [6, tr.486]. Xônhia đầy bản
năng trong cả những lời nói, hành động của nàng với người yêu. Những lời
nói đưa đẩy, lơi lả và những hành động đùa cợt, ve vãn mà không chút
ngượng ngùng. Trong đêm đầu cùng ngồi uống rượu với người anh họ, nàng
đã buông những lời nói và hành động quyễn rũ đầy táo bạo: “anh đã biến
thành một chàng trai sỗ sàng, không biết ngượng là gì, nhưng lại rất hấp dẫn”.
Nhân vật tôi miêu tả “Xônhia ngồi phía bên kia bàn, nàng ngả người trên ghế,
chân bắt chéo lại và hai bắp đùi chắc lẳn của nàng gối lên nhau” [6, tr.488].
Đặc biệt sự thu hút anh là ở ánh mắt nàng, nàng nhìn với ánh mắt hóm hỉnh
nhưng giễu cợt. Xônhia điềm nhiên và cảm thấy khoan khoái khi người yêu
cầm lấy tay nàng và nắm chặt. Cô yêu người anh họ của mình mãnh liệt
nhưng không dám thừa nhận với gia đình và lại muốn vun đắp cho Natali – cô
bạn thân. Nàng đã kể với anh về Natali và muốn anh vờ để ý tới Natali. Với
hai người thì đó là thứ tình yêu giả vờ. Vờ yêu Natali để che đi mối tình vụng
trộm của họ “Anh sẽ gần như mất trí đi vì yêu Natali, còn hôn thì anh sẽ hôn
em. Anh sẽ tựa đầu vào ngực em mà khóc, vì Natali quá tàn nhẫn, còn em, em
sẽ an ủi anh” [6, tr.491]. Đó như một giao ước của nàng với anh, nhưng ngay
chính suy nghĩ của mình, Xônhia nghĩ rồi anh sẽ phải lòng và mất trí đi vì
Natali thật. Nàng cần ở anh là thân xác và sẵn sàng cho đi tâm hồn của anh,
thậm chí những gì người khác không làm được cho anh như mình thì nàng
cho là nhẫn tâm. Điều này cho thấy nàng quan niệm tình yêu không cần sự
đồng điệu về tâm hồn mà chỉ cần đồng điệu của hai thân xác. Đó là những cái
nắm tay thật chặt và nụ hôn nồng cháy trong vụng trộm. Lúc đầu còn đầy
miễn cưỡng khi “tôi tựa mình nàng vào khung cửa rồi hôn lên môi nàng một
16
nụ hôn dài say đắm, nàng miễn cưỡng nhắm mắt lại và dần dần hạ cánh tay
cầm ngọn nến xuống” [6, tr.491-492] và sau nữa là những hành động táo bạo
hơn. Nàng chỉ sống thực với tình yêu của mình khi về đêm, đêm về khi cả nhà
đã đi ngủ, Xônhia mới lén lút tới bên người tình và cuốn vào những ái ân thân
mờ nhạt mà khiến người đọc có những ấn tượng mạnh mẽ về người phụ nữ
này. Ấn tượng bởi quan niệm về tình yêu rất đỗi hiện đại phương Tây và
phóng khoáng của Xônhia cho dù quan niệm ấy không mang lại hạnh phúc.
Cũng từ đó người đọc nhận thấy đâu mới là tình yêu đích thực, tình yêu đẹp
và bền lâu là kết quả của sự đồng điệu về tâm hồn chứ không phải những ham
muốn và thỏa mãn về thân xác.
2.2.3. Nhân vật bi kịch
Cuốn Từ điển tiếng việt, Nxb Đà Nẵng, 2006 lí giải: Bi kịch có nội
dung phản ánh xung đột gay gắt giữa nhân vật chính diện với hiện thực có kết
cục bi thảm. Aristote cũng đưa ra so sánh và cho rằng: Bi kịch khác với hài
kịch và nó có một kết thúc không vui. Nhân vật bi kịch là những con người
trên mức bình thường về địa vị và tính cách, phải chịu một sự thay đổi về vận
mệnh. Họ là những con người không dám đấu tranh chống lại vận mệnh, định
mệnh và họ chấp nhận nó. Họ tìm thấy ý nghĩa của sự khốn khổ của mình. Khi
bi kịch được nâng lên trên mức điển hình nó trở thành nghệ thuật. Nhân vật văn
học mang bi kịch là sự đại diện cho một tư tưởng nhà văn trước xã hội, nó phải
tiêu biểu, đặc trưng cho một lớp người, một kiểu người trong xã hội.
Trong tác phẩm của Bunhin ta thấy rất nhiều nhân vật nữ rơi vào bi
kịch. Kiểu nhân vật này chiếm số lượng nhiều nhất trong các sáng tác viết về
phụ nữ của ông. Họ rơi vào bi kịch bởi những nguyên nhân khác nhau nhưng
nét chung là đều dang dở hay đau khổ trong tình yêu. Tình yêu với những nỗi
18
đau khổ có thể do nguyên nhân hoàn cảnh sống đem lại và cũng do chính bản
thân nhân vật.
Kiểu nhân vật rơi vào bi kịch do hoàn cảnh sống rất phổ biến trong
văn học trước và cùng thời với Bunhin. Đó là cách lí giải số phận nhân vật
phổ biến của tác giả dựa trên điều kiện, hoàn cảnh mà các nhân vật đang tồn
tại. Trong văn học, trước Bunhin các nhân vật có bi kịch bởi hoàn cảnh phần
nhiều do xã hội thì tới ông hoàn cảnh ở đây là đặt nhân vật trong mối quan hệ
êm ấm. Nhưng bước vào cuộc sống hôn nhân cũng là lúc cô bước vào những
nỗi khổ, dằn vặt đầy bế tắc, dù vùng vẫy cũng không thể thoát ra được. Sau
khi cưới, cô luôn sống trong cảnh cô đơn, nhàm tẻ của cộc sống gia đình. Đó
là kết quả cuả một tình yêu chiếm đoạt như sự thù hằn của Xêlikhốp. Nếu anh
không hiếu thắng để cưới bằng được cô và không ghen ghét, đố kị với linh
mục Kirơ thì có lẽ bi kịch của cô sẽ bớt thảm hơn. Giờ đây cô không còn
được yêu thương, Xêlikhốp thì ghen ghét linh mục Kirơ. Càng ghét càng lạnh
nhạt với cô còn cha Kirơ thì suốt đời nuôi dưỡng trong lòng mối hận thù nặng
nề và lạnh lùng với cô. Sống với Xêlikhốp, Xanhia chỉ như cái bóng trong
nhà, không có tiếng nói gì, thậm chí chồng không muốn nói chuyện cùng.
Cuộc sống cứ tẻ nhạt như thế và chính cô nhận ra mình thật đáng thương, thật
cô đơn. Đã nhiều lần Xêlikhốp thấy cô khóc “nàng đang thoa phấn lên mặt
sưng húp, môi mím lại cố kìm cho khỏi khóc”. Thời gian dần trôi, Xanhia
không còn trẻ trung và hoài niệm về tuổi trẻ nữa. Xanhia hay buồn và hay
khóc, thậm chí khóc đã trở thành thói quen của cô. Giờ cô sống chỉ có ý nghĩ,
khao khát duy nhất là được sở hữu ngôi nhà để trú ngụ bởi: “Xêlikhốp chẳng
ngần ngại gì mà không đẩy bà lâm và cảnh nghèo túng, nhục nhã trước cả thị
trấn, không những không để lại cho bà tiền bạc, của cải mà cả cái nhà này
nữa, nơi bà trú ngụ, cũng không thuộc quyền sỡ hữu của bà” [6, tr.171]. Và