Cách đặt tên nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu - Pdf 29

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ
VĂN
TRẦN THỊ DƯƠNG
CÁCH ĐẶT TÊN NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA
NGUYỄN MINH CHÂU
KHÓA LUẬN TỔT NGHIỆP ĐẠI HỌC • •
• •
Chuyên ngành: Ngôn ngữ
Ngưòi hướng dẫn khoa học
Th.s - GVC LÊ KIM NHUNG
HÀ NỘI - 2014
Để hoàn thành được khóa luận này, chúng tôi đã nhận
được sự giúp đỡ tận tình và chu đáo của cô giáo LÊ KIM
NHUNG, các Thầy Cô trong tổ ngôn ngữ khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2.
Xin ừân trọng cảm ơn cô giáo hướng dẫn cùng toàn thể các Thầy Cô đã giúp đỡ,
tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 28 tháng 05 năm 2014 Sinh viên
TRẦN THỊ DƯƠNG
Tôi xin khẳng định đề tài: “Cách đặt tên nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn
Minh Châu” là kết quả của riêng mình tôi, đồng thời đề tài này không trùng với kết quả
của các tác giả khác.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 28 tháng 05 năm 2014 Sinh Viên
TRẦN THỊ DƯƠNG

LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN LỜI
CAM ĐOAN MỤC

1.4.8 Từ những lý do trên chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Cách đặt tên
nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu”.
2. Lieh sử vấn đề
1.4.9 ■
4
1.4.10 Tìm hiểu tên nhân vật và nhân vật ừong tác phẩm văn học đã ừở
thành đề tài nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học với nhiều cấp
độ khác nhau.
2.1Nghiên cứu nhân vật trong tác phẩm và tên nhân vật từ góc độ ỉí
ỉuận
- Giáo sư Hà Minh Đức đã nêu định nghĩa về nhân vật và tiêu chỉ phân chia
nhân vật trong tác phẩm.
1.4.11 về định nghĩa về nhân vật trong tác phẩm văn học:
1.4.12 “Nhân vật trong tác phẩm văn học là một hiện tượng nghệ thuật
mang tính ước lệ. Đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của
con người mà chỉ là sự thể hiện của con người qua những đặc điểm điển hình về
tiểu sử, nghề nghiệp, tỉnh cách, ”.
1.4.13 Văn học không thể thiếu nhân vật vì đó chính là phương tiện cơ bản
để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng. Tác giả sáng tạo nhân vật để
thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, về một loại người nào đó, về
một vấn đề nào đó của hiện thực. Nhân vật chính là yếu tố dẫn dắt người đọc đến
với tác phẩm văn học. Phê - đũi cho rằng: “Nhân vật là một công cụ ”.
1.4.14 Tác giả đã nghiên cứu nhân vật trong tác phẩm và phân chia làm
các loại theo tiêu chí sau:
- Theo tiêu chí về vai trò của nhân vật trong tác phẩm có:
1.4.15 + Nhân vật chính là nhân vật xuất hiện nhiều hơn cả trong tác
phẩm, đóng vai ừò quan trọng ừong việc thể hiện tập trung đề tài, chủ đề, tư
tưởng tác phẩm.
1.4.16 Ví dụ: Trong truyện “Chỉ Phèo ” - Nam Cao, nhân vật chính là:
Chí Phèo, Thị Nở, Bá Kiến,

hưởng của nhân vật tới nội dung tư tưởng của tác phẩm, vấn đề tính định hướng
của tên nhân vật chưa được các tác giả quan tâm khảo sát và nghiên cứu.
2.2Nghiên cứu nhân vật và tên nhân vật từ góc độ ngôn ngữ
2.2.1 về mặt lý thuyết phong cách học
1.4.27 Trong cuốn “Phong cách học văn bản ”, Giáo sư Đinh Trọng Lạc
đã đưa ra vấn đề tính định hướng ừong giao tiếp của văn bản. Tác giả đã chỉ rõ
tính định hướng của giao tiếp của văn bản và một số yếu tố tiêu biểu có tác dụng
ừong việc tìm hiểu tác phẩm, đó là:
1.4.28 + Tiền mô hình độc giả: Tiền mô hình, sự phù hợp giữa tiền mô
hình, sự đối lập với tiền mô hình, sự xây dựng mô hình mới.
1.4.29 + Những dấu hiệu đặc tả trong tác phẩm: Những chỉ dẫn về bút
danh tác giả, những chỉ dẫn về đầu đề tác phẩm.
1.4.30 Trong cuốn: “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt”, giáo
sư Đinh Trọng Lạc đã đưa ra khái niệm phép cải danh và các dạng của phép cải
danh. Giáo sư cũng đã chỉ ra vai trò của cải danh với việc định hướng và tìm hiểu
tác phẩm văn chương.
2.2.2 về mặt thực hành phong cách học
1.4.31 Trong cuốn: “300 bài tập phong cách học tiếng Việt”, tác giả Đinh
Trọng Lạc đã đề cập đến phép cải danh và một số phép cải danh tiêu biểu trong
thời kỳ văn học:
- Bài tập 196 (trang 224 - 225): Tên nhân vât trong các tác phẩm văn học
dưới đây được chọn dùng như một phương tiện tu từ nào? Các loại hình
văn học ở các thời kỳ khác nhau có những cách dùng cải danh khác nhau
như thế nào?
1.4.32 + Trong thần thoại có thần Trụ Trời, Lạc Long Quân.
1.4.33 + Trong truyện cổ tích có Khổng lồ (Đúc chuông), Sọ Dừa, Quận
Gió.
7
1.4.34 + Trong văn học lãng mạn thời kỳ 1930 - 1945 có: Các nhân vật
Hồng, Hảo, ông Phán, Lương ừong tiểu thuyết “Thoát ly ”của Khái Hưng.

Minh Châu đã tạo dựng cho mình một phong cách truyện ngắn độc đáo. Đó thực
sự là những thành tựu không chỉ của nhà văn mà còn là của nền văn học Việt
Nam hiện đại.
1.4.41 Có lẽ người đầu tiên quan tâm đến cách đặt tên nhân vật ừong tác
phẩm của Nguyễn Minh Châu là tác giả Phạm Duy Nghĩa ừong cuốn Chuyên
luận Nhà văn Nguyễn Minh Châu và cảm hứng nhà văn (NXB Hội nhà Văn,
2006), Phạm Duy Nghĩa đã viết ở trang 125: “Cách đặt tên nhân vật của Nguyễn
Minh Châu hàm ẩn mọi thái độ đánh giá tích cực. Đó là cô Nết nết na, cô Thùy
thùy mị, cô Nguyệt trong trẻo như ánh trăng tươi mát
1.4.42 Tác giả Phan Cự Đệ trong bài “Truyện ngắn Việt Nam 1975 -
2000” có nhận xét: Tiếp cận phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu (ở
truyện ngắn) “là tiếp cận thế giới nhân vật”, “nghệ thuật tâm lỷ” và “giọng điệu
nhà văn Trong mối liên hệ tưcmg tác giữa các thành tổ tạo nên một tổng thể
nghệ thuật vừa đa diện vừa phong phú, vừa long lanh bản sắc riêng của một tài
năng văn chương. Ông cũng cũng cho rằng: “Thế giới nghệ thuật của Nguyễn
Minh Châu (đặc biệt truyện sau 1975) có hai loại nhân vật chỉnh nhân vật - tư
tưởng, nhân vật - dị biệt”.
1.4.43 Tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đã được đông đảo bạn đọc đón
nhận. Các tác giả của các công trình nghiên cứu đã quan tâm đến nhiều khía cạnh
trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu như phong cách nghệ thuật, cảm hứng
nhân đạo, thi pháp, sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, về thế giới
nhân vật, giọng điệu và ngôn ngữ
9
1.4.44 Để tiếp nối hướng nghiên cứu của tác giả Đinh Trọng Lạc, đồng
thời với mong muốn nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ hơn về tên nhân vật
với vai trò chỉ dẫn và định hướng trong giao tiếp, chúng tôi đã lựa chọn đề tài
này.
3. Mục đích nghiên cứu
1.4.45 Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi xác định rõ một số mục đích như
sau:

học, 2012.
- Nguyễn Minh Châu truyện ngắn do Nguyễn Văn Lưu tuyển chọn, NXB
Văn học, 1999.
1.4.49 Trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu tên nhân vật có rất nhiều,
chúng tôi chỉ dừng lại khảo sát các tên nhân vật có vai ừò định hướng giao tiếp
trong việc phân tích tác phẩm.
7. Kết cấu khóa luận
1.4.50 Ngoài phàn mở đàu và phần kết luận chung, khóa luận gồm 2
chương:
1.4.51 Chương 1: Cơ sở lí luận.
1.4.52 Chương 2: Cách đặt tên nhân vật và vai trò định hưởng tên nhân vật
trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu.
1.4.53 NỘI
DUNG CHƯƠNG 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN •
1.1Nhân vật và các cách đặt tên nhân vật trong tác phẩm văn học
1.1.1 Nhân vật văn học
1
1
1.4.54 Theo “Từ điển tiếng Việt”: “Nhân vật là đổi tượng (thường là
người) được miêu tả trong tác phẩm văn học văn học nghệ thuật” [8,Tr.739].
1.4.55 Nhân vật chính là hình thức khái quát hiện thực cuộc sống, là hình
thức thể hiện quan điểm của nhà văn về con người Với tính chất là một công
cụ, nhân vật bao giờ cũng là chìa khóa để mở vào thế giới hiện thực, khám phá
những bí ẩn của đời sống con người
1.1.2 Các cách đăt tên nhân vât
• ã
1.4.56 Khi sáng tác, tên tác phẩm và tên nhân vật là hai yếu tố được tác giả
trăn trở nhiều nhất. Tên nhân vật không chỉ gợi ra định hướng sáng tác tác phẩm,
gợi phong cách nhà văn nhà thơ mà nó còn gợi tới các khuynh hướng và trào lưu

1.4.68rr Ạ _1_ Ạ._ Ai j1_

1_ *л._

_ Г
X
_
Л _ • 1 Ạ._ Ai
- Tên nhan vật thê hiện an ý ve cuộc đời nhân vật.
1.4.69 Ví dụ: Tên “Mịch ” hàm ẩn ý nghĩa âm u, tăm tối. Cả cuộc đời
Mịch là một màn đêm, chưa lúc nào có hơi hướng của cuộc sống. Từ khi Mịch bị
lão Nghị Hách - con quỷ dâm dục ấy hiếp trong cái đêm đi gánh rạ thì cuộc đời
Mịch đã rẽ sang một ngõ cụt, tăm tối. Mịch đã bị người ta đẩy xuống hố sâu mà
không thể ngoi lên được. Cho đến kết thúc truyện lối đi của Mịch vẫn cứ tăm tối
và âm u như chính cái tên vừa gợi ra vậy.
- Tên nhân vật thể hiện thứ bậc địa vị trong gia đình, trong xã hội.
1.4.70 Ví dụ: Trong văn học dân gian dùng tên nhân vật thể hiện thứ bậc:
anh cả, dì ghẻ, em út,
1.2Tính định hướng giao tiếp
1.2.1 Khái niêm
1.4.71 Tính định hướng trong giao tiếp là một trong những phạm trù quan
ừọng nhất của văn bản nói chung, bởi vì khi tạo lập một văn bản tác giả bao giờ
cũng tự giác hoặc không tự giác - nhằm vào một nhóm người đọc nhất định. Nói
1
3
cách khác, tác giả của văn bản bắt buộc phải tính đến “nhân tổ địa chỉ”, hoặc đến
những đặc điểm của quá trình tri giác, nhận thức và những điều kiện cụ thể của
sự giao tiếp bằng lời, vốn gắn với văn bản đã cho. Giữa văn bản và độc giả hình
thành những mối quan hệ về bản chất là có tính chất đối thoại, những mối quan
hệ giả thiết tính tích cực của sự tri giác.

cảm da diết nhớ thương như con người ông. Tên thật nhà thơ là Nguyễn Tuấn
Trình.
1.4.79 Tác giả “Mảnh đất lẳm người nhiều ma” ừong hai chục năm viết
văn của mình chỉ kí tên Thao Trường. Ở tiểu thuyết này nhà văn bỏ hẳn cái tên
quen thuộc ấy, lấy tên như trong giấy khai sinh Nguyễn Khắc Trường. Nhận xét
tên tác giả Hồng Diệu viết: “Nầi tôi không lầm thì anh đã coi thường những thứ
mình viết trước kia và đặc biệt tâm đắc với tác phẩm này. Đặt trên bàn cân chất
lượng mà so sánh, tôi thấy anh hoàn toàn đúng” (Văn nghệ 16/3/1991).
1.22.2 Đầu đề tác phẩm
1.4.80 Đầu đề là căn cứ để nhận ra tính hoàn chỉnh của một văn bản.
Những văn bản bằng miệng thường là không có đầu đề. Nếu có thì chỉ trong
những trường họp như báo cáo tham luận miệng trong các hội nghị người nói
“thông báo” đầu đề ngay trong đoạn mở đầu văn bản của mình. Trong những văn
bản viết đầu đề được đặt theo những cách rất khác nhau, theo từng thể loại văn
bản, theo hứng thú của người viết và theo thời thượng của công chúng.
1.4.81 Các đầu đề (hay nhan đề, tiêu đề) của tác phẩm (Thơ cũng như là
văn xuôi) là một tín hiệu nghệ thuật mang tính khái quát. Trong văn xuôi nghệ
thuật, những đầu đề thành công nhất phải là những đầu đề chứa đựng được cái
chủ đề tư tưởng - nghệ thuật của tác phẩm. Nó đảm nhiệm vai ừò điểm xuất phát
và cũng là điểm kết thúc của quá trình lĩnh hội tác phẩm. Trong quá trình này,
người đọc thường xuyên làm công việc liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng được
1
5
tường thuật, miêu tả với những cái đầu đề vốn lúc đầu khơi gợi những cách hiểu,
những mức độ hiểu, cảm khác nhau so với lúc cuối.
1.4.82 Đầu đề là tín hiệu thẩm mĩ sáng chói nhất của tác phẩm văn xuôi
nghệ thuật. Chính nó là dấu hiệu biểu hiện tài nghệ kết cấu tác phẩm thành một
chỉnh thể nghệ thuật toàn vẹn của người nghệ sĩ. Những tác phẩm văn xuôi nghệ
thuật thành công đều chứng tỏ điều đó.
1.2.2.3 Tên nhân vât

vừa mang dấu ấn cá nhân tác giả, vừa thể hiện rõ lý tưởng thẩm mĩ của thời đại.
1.4.88 Có nhiều cách đặt tên trong tác phẩm song phổ biến nhất là đặt tên
nhân vật sử dụng phép cải danh.
1.4.89 Theo giáo sư Đinh Trọng Lạc: “Cải danh là một biến thể của lối
chuyển nghĩa có tỉnh chất ẩn dụ, trong đó, người ta dùng tên riêng thay cho tên
chung hoặc dùng tên chung thay cho tên riêng”[5,Tr.60].
1.3.2 Các dạng cải danh
1.4.90 Trong cuốn “300 bài tập phong cách học tiếng việt”, giáo sư Đinh
Trọng Lạc đã đưa ra một số cách cải danh trong việc đặt tên nhân vật:
1.4.91 + Đặt tên nhân vật gắn với hình dáng, đặc điểm của nhân vật.
1.4.92 Ví dụ: Khổng lồ, Tí hon, Sọ Dừa.
1.4.93 + Đặt tên nhân vật gắn với nghề nghiệp, công việc của nhân vật.
1.4.94 Ví dụ: Thần giỏ, thần mưa.
1.4.95 + Đặt tên nhân vật gắn với chức vụ, địa vị của nhân vật.
1.4.96 Ví dụ: Quan Huyện, thầy Lý, Bà lớn.
1.4.97 + Đặt tên nhân vật gắn với đặc điểm tính cách nhân vật.
1.4.98 Ví dụ: Chàng Ngốc, anh Khoai.
1.3.3 Hiệu quả nghệ thuật của phép cải danh
1
7
1.4.99 Dạng thứ nhất của cải danh về cơ bản là đặc điểm của lời nói đối
thoại. Nó được dùng như một khuôn sáo để nêu tính cách con người.
1.4.100 Ví dụ: Cô ấy như Kiều vậy.
1.4.101 (Một cô gái xinh đẹp, cuộc đời lận đận như Thúy Kiều).
1.4.102 Hiệu quả tu từ của loại này không lớn, vì trong những trường
họp này, cải danh xuất hiện như một ẩn dụ đã phai mờ. Tuy nhiên, trong lời nói
nghệ thuật, cải danh có thể được hồi sinh và thực hiện chức năng cơ bản là nêu
tính cách của con người một cách có hình tượng.
1.4.103 Dạng thứ hai của cải danh về cơ bản là đặc điểm của lời nói
nghệ thuật. Trong tác phẩm nghệ thuật mà ở đó tất cả các thành tố đều cấu tạo

1.4.112 Nguyễn Minh Châu (20/10/1930 - 23/1/1989) là một nhà văn
có ảnh hưởng quan trọng đối với văn học Việt Nam trong giai đoạn chiến tranh
và thời kỳ đàu của đổi mới.
1.4.113 Quê gốc của ông ở làng Văn Thai, tên nôm là làng Thơi, xã
Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An.
1.4.114 Nguyễn Minh Châu là một trong số các nhà văn tiểu biểu của
văn học Việt Nam hiện đại nửa sau thế kỷ XX.
1.4.115 Năm 1945, ông tốt nghiệp trường kỹ nghệ Huế với bằng
thành chung. Tháng 1/1950, ông học chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng tại
Nghệ Tĩnh và sau đó gia nhập quân đội, tiếp tục theo học ở trường sĩ quan Trần
Quốc Tuấn.
1.4.116 Từ năm 1952 - 1956, ông công tác tại ban tham mưu các tiểu
đoàn 722, 706 thuộc sư đoàn 320.
1.4.117 Từ 1956 - 1958, Nguyễn Minh Châu là trợ lý văn hóa trung
đoàn 64 thuộc sư đoàn 320.
1
9
1.4.118 Năm 1960, ông viết truyện ngắn đầu tay “sau một buổi tập
”.
1.4.119 Năm 1961, ông theo học tại trường văn hóa Lạng Sơn.
1.4.120 Năm 1962, ông về công tác tại phòng văn nghệ quân đội, sau
chuyển sang tạp chí văn nghệ quân đội. Đến 1972, ông được kết nạp vào Hội Nhà
văn Việt Nam.
1.4.121 Sau tác phẩm đàu tay Nguyễn Minh Châu đã gây dựng được
tên tuổi và được độc giả khá quan tâm.
1.4.122 Từ giã cuộc đời lúc khát vọng và sự nghiệp còn dang dở
nhưng Nguyễn Minh Châu đã để lại một sự nghiệp văn học bao gồm nhiều thể
loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa, bút kí, tiểu luận, .Ông là một tấm
gương lao động nghệ thuật đáng trân trọng.
1.4.123 Các tác phẩm tiêu biểu có thể kể đến như Cửa Sông (1966),

1.4.132 Phong cách nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu
được hình thành và phát triển trong bối cảnh của một thời kỳ lịch sử đặc biệt. Là
một gương mặt tiêu biểu của nền văn xuôi chống Mĩ, ông đã góp phần thực hiện
sứ mệnh quan trọng trong thể loại truyện ngắn, cổ vũ cho cuộc kháng chiến đi
đến thắng lợi. Với những đóng góp tích cực cho nền văn xuôi hiện đại, sự xuất
hiện các sáng tác của ông đã lấp đầy khoảng trống mà thể loại truyện lúc ấy còn
ừống vắng và bỏ ngỏ.
1.4.133 Tiểu kết: từ cơ sở lý luận trên, chúng tôi tìm hiểu cách đặt
tên nhân vật ừong một số truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu.
1.4.134 Đây là những tiền đề quan trọng, nó góp phần tạo nền móng
cho việc nghiên cứu về truyện ngắn, về nhân vật và phong cách của nhà văn
Nguyễn Minh Châu.
2
1
1.4.135 Chương 2 CÁCH ĐẶT TÊN NHÂN VẬT VÀ VAI TRÒ ĐỊNH HƯỚNG
CỦA TÊN NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN
• • • NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU
2.1Bảng thống kê phân loại và nhận xét
1.4.136 Chúng tôi đã tiến hành thống kê trong hai tuyển tập với 22 tác phẩm:
- Nguyễn Minh Châu tuyển tập do Dương Phong tuyển chọn, NXB Văn học,
2012.
- Nguyễn Minh Châu truyện ngắn do Nguyễn Văn Lưu tuyển chọn,
1.4.137 NXB Văn học, 1999.
1.4.138 Và đã thống kê được kết quả phân loại như sau:
1.4.139
1.4.140 Tên phiếu 1.4.141
Số
1.4.142
1.4.143
Tỉ lệ

1.4.162
Nhân yật
có tên đặc
biệt
1.4.163 Tên nhân vật gợi đặc điêm nghê
nghiệp
1.4.164
10
1.4.165
15,9
1.4.166
1.4.168 Tên nhân vật đặt băng chữ cái
1.4.169
3
1.4.170
4,8
1.4.171
1.4.173 Tên nhân vật dùng chức vụ nghê
nghiệp, thứ bậc
1.4.174
5
1.4.175
7,9
1.4.176
1.4.178 Tên nhân vật đặt băng tên đô vật, con
vật
1.4.179
3
1.4.180
4,8

Minh Châu rõ ràng là có cân nhắc, lựa chọn ừong định hướng giao tiếp. Thông qua tên
nhân vật người đọc có thể hiểu được chủ đề - tư tưởng của tác phẩm và dụng ý nghệ
thuật của nhà văn.
2.2Phân tích kết quả thống kê
2.2.1 Tên nhân vật cụ thể
2.2.1.1 Tên nhân vật thể hiện đặc điểm tỉnh cách nhân vật
1.4.199 Đây là cách đặt tên nhân vật chiếm số lượng nhiều nhất so với tổng
số phiếu điều tra. Tất cả gồm 20/63 phiếu chiếm 31,7%.
a. Tên nhân vât tương đồng vái tính cách nhân vât.
1.4.200 “Nhĩ” trong tác phẩm “Ben quê”, cái tên Nhĩ làm cho người ta
liên tưởng đến một trong các giác quan của con người đó là thính giác của con người.
Nó dường như là sự cảm nhận và lắng nghe âm thanh cuộc sống của con người. Nhân
vật chính có cái tên gắn liền với dòng sông quê hương, thế mà hình như lúc này anh
mới biết hết ý nghĩa của của hai chữ “Ben quê”. Nhĩ đã từng đi khắp nơi trên trái đất
nhưng cuối đời lại bị cột chặt vào giường bệnh bởi một căn bệnh hiểm nghèo đến nỗi
không thể dịch chuyển lấy vài
1.4.201 mươi phân trên cửa sổ. Nhìn sang bãi bồi bên kia sông Hồng - chính vào thời
điểm ấy, Nhĩ đã phát hiện ra vùng đất bên kia sông nơi bến quê quen thuộc một vẻ đẹp
bình dị mà hết sức quyến rũ. Cũng chính lúc nằm liệt trên giường bệnh Nhĩ mới cảm nhận
được hết nỗi vất vả, tình yêu thương, đức hi sinh thầm lặng của người vợ mình. Nhĩ khao
khát được một lần đặt chân lên bãi bồi bên kia sông. Cái miền đất thật gần gũi nhưng lại
xa vời vô cùng. Không thể thực hiện được cái điều mà mình khao khát, Nhĩ đã nhờ đứa
con trai thay mình sang đặt chân lên bến bờ bên kia sông nhưng đứa con không hiểu ước
muốn của cha, nó miễn cưỡng và bị hút vào trò chơi hấp dẫn trên đường đi để rồi bị lỡ
chuyến đò ngang duy nhất trong ngày. Từ đó, Nhĩ đã chiêm nghiệm được cái quy luật đầy
nghịch lý của cuộc sống “Con người ta khó tránh khỏi cái vòng vèo chùng chình, phải dứt
ra khỏi nó để hướng tới những giá trị đích thực của cuộc sống”[10,Tr.209].
1.4.202 “Phùng” trong “Chiếc thuyền ngoài xa” là một cái tên cũng chứa đầy
ẩn ý. Cái tên của anh có nghĩa là gặp gỡ, kết quả của sự kiếm tìm cái đẹp, chân lý nghệ
thuật là chân lý cuộc sống. Để có bộ lịch về thuyền và biển thật ưng ý, trưởng phòng đề

một cán bộ vô kỷ luật, tự ý bỏ đơn vị đi chơi như thế không thể để ở lại đại đội dù một
phút ”[8,Tr.443]. Chỉ một lời phát biểu này thôi chúng ta cũng thấy được xê trưởng Đĩnh
là một con người có trách nhiệm. Cái phẩm chất mà anh Toàn đã khen “Điều đó quỷ hóa
quá! Tốt quá!”[8,Tr.442]. Không chỉ dừng lại ở đó mà anh Đĩnh còn là người thông hiểu
các đồng chí, đồng đội của mình: “Tôi thông cảm với anh, chúng mình thằng nào chẳng
cổ một chút gia đình, bổ mẹ ở ngoài miền Bắc, gần mười năm vào đây ”[8,Tr.445].
Đĩnh quả là một con người thấu hiểu, anh như một thoi vàng trong ngay chiến trận này.
Phẩm chất cần có của một nhà báo.
1.4.206 “Phác” là cái tên chứa đựng sự dung dị. “Phác” nghĩa là mộc mạc,
chất phác. Nó chứa đựng phẩm chất của người dân quê. Điều này cho thấy người dân biển
họ thuần phác, giản dị với những phẩm chất vốn có của mình. Hành động chống lại cha
khi nhìn thấy cha đánh mẹ đã chứng minh điều ấy. Cậu bé không suy xét khi nghĩ rằng ai

Trích đoạn Tên nhân vật đặt bằng chữ cá Tên nhăn vật đặt theo chức vụ, thứ bậc trong xã hội và trong gia đinh Tên nhân vật đặt theo đặc điểm giới tính và hình dáng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status