TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
TRẦN THỊ DƢƠNG
CÁCH ĐẶT TÊN NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA
NGUYỄN MINH CHÂU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Th.S - GVC LÊ KIM NHUNG
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đƣợc khóa luận này, chúng tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ
tận tình và chu đáo của cô giáo LÊ KIM NHUNG, các Thầy Cô trong tổ
ngôn ngữ khoa Ngữ Văn trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2.
Xin trân trọng cảm ơn cô giáo hƣớng dẫn cùng toàn thể các Thầy Cô đã
giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 28 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
TRẦN THỊ DƢƠNG
LỜI CAM ĐOAN
1.2 Tính định hƣớng giao tiếp ..................................................................... 11
1.2.1 Khái niệm ....................................................................................... 11
1.2.2 Các yếu tố có vai trò định hƣớng giao tiếp .................................... 11
1.2.2.1 Bút danh tác giả....................................................................... 11
1.2.2.2 Đầu đề tác phẩm ...................................................................... 12
1.2.2.3 Tên nhân vật ............................................................................ 13
1.3 Cải danh – một phƣơng thức đặt tên nhân vật ...................................... 14
1.3.1 Khái niệm ....................................................................................... 14
1.3.3 Hiệu quả nghệ thuật của phép cải danh ......................................... 15
1.4 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu .... 16
1.4.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Minh Châu ............................ 16
1.4.2 Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu ............................ 18
Chƣơng 2: CÁCH ĐẶT TÊN NHÂN VẬT VÀ VAI TRÒ ĐỊNH HƢỚNG CỦA
TÊN NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU ..............20
2.1 Bảng thống kê phân loại và nhận xét .................................................... 20
2.2 Phân tích kết quả thống kê .................................................................... 21
2.2.1 Nhân vật có tên cụ thể .................................................................... 21
2.2.1.1 Tên nhân vật thể hiện đặc điểm tính cách nhân vật ................ 21
2.2.1.2 Tên nhân vật thể hiện đặc điểm số phận, cuộc đời ................. 27
2.2.1.3 Tên nhân vật thể hiện tƣ tƣởng, chủ đề tác phẩm ................... 31
2.2.2 Nhân vật có tên đặc biệt ................................................................. 35
2.2.2.1 Tên nhân vật đặt theo đặc điểm nghề nghiệp.......................... 35
2.2.2.2 Tên nhân vật đặt bằng chữ cái ................................................ 39
2.2.2.3 Tên nhân vật đặt theo chức vụ, thứ bậc trong xã hội và trong
gia đình ................................................................................................ 41
2.2.2.4 Tên nhân vật đặt bằng tên đồ vật, con vật .............................. 44
2.2.2.5 Tên nhân vật đặt theo đặc điểm giới tính và hình dáng .......... 45
1
2. Lịch sử vấn đề
Tìm hiểu tên nhân vật và nhân vật trong tác phẩm văn học đã trở thành
đề tài nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học với nhiều cấp độ
khác nhau.
2.1 Nghiên cứu nhân vật trong tác phẩm và tên nhân vật từ góc độ lí luận
- Giáo sư Hà Minh Đức đã nêu định nghĩa về nhân vật và tiêu chí phân
chia nhân vật trong tác phẩm.
Về định nghĩa về nhân vật trong tác phẩm văn học:
“Nhân vật trong tác phẩm văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang
tính ước lệ. Đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của
con người mà chỉ là sự thể hiện của con người qua những đặc điểm điển hình
về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách,…”.
Văn học không thể thiếu nhân vật vì đó chính là phƣơng tiện cơ bản để
nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tƣợng. Tác giả sáng tạo nhân vật
để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, về một loại ngƣời nào
đó, về một vấn đề nào đó của hiện thực. Nhân vật chính là yếu tố dẫn dắt
ngƣời đọc đến với tác phẩm văn học. Phê - đin cho rằng: “Nhân vật là một
công cụ”.
Tác giả đã nghiên cứu nhân vật trong tác phẩm và phân chia làm các
loại theo tiêu chí sau:
- Theo tiêu chí về vai trò của nhân vật trong tác phẩm có:
+ Nhân vật chính là nhân vật xuất hiện nhiều hơn cả trong tác phẩm,
đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện tập trung đề tài, chủ đề, tƣ tƣởng
tác phẩm.
Ví dụ: Trong truyện “Chí Phèo” - Nam Cao, nhân vật chính là: Chí
Phèo, Thị Nở, Bá Kiến,…
đƣợc quan tâm nghiên cứu. Các tác giả chủ yếu đề cập đến vai trò, vị trí và
3
ảnh hƣởng của nhân vật tới nội dung tƣ tƣởng của tác phẩm. Vấn đề tính định
hƣớng của tên nhân vật chƣa đƣợc các tác giả quan tâm khảo sát và nghiên cứu.
2.2 Nghiên cứu nhân vật và tên nhân vật từ góc độ ngôn ngữ
2.2.1 Về mặt lý thuyết phong cách học
Trong cuốn “Phong cách học văn bản”, Giáo sƣ Đinh Trọng Lạc đã
đƣa ra vấn đề tính định hƣớng trong giao tiếp của văn bản. Tác giả đã chỉ rõ
tính định hƣớng của giao tiếp của văn bản và một số yếu tố tiêu biểu có tác
dụng trong việc tìm hiểu tác phẩm, đó là:
+ Tiền mô hình độc giả: Tiền mô hình, sự phù hợp giữa tiền mô hình,
sự đối lập với tiền mô hình, sự xây dựng mô hình mới.
+ Những dấu hiệu đặc tả trong tác phẩm: Những chỉ dẫn về bút danh
tác giả, những chỉ dẫn về đầu đề tác phẩm.
Trong cuốn:“99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt”, giáo sƣ
Đinh Trọng Lạc đã đƣa ra khái niệm phép cải danh và các dạng của phép cải
danh. Giáo sƣ cũng đã chỉ ra vai trò của cải danh với việc định hƣớng và tìm
hiểu tác phẩm văn chƣơng.
2.2.2 Về mặt thực hành phong cách học
Trong cuốn: “300 bài tập phong cách học tiếng Việt”, tác giả Đinh
Trọng Lạc đã đề cập đến phép cải danh và một số phép cải danh tiêu biểu
trong thời kỳ văn học:
- Bài tập 196 (trang 224 – 225): Tên nhân vât trong các tác phẩm văn
học dƣới đây đƣợc chọn dùng nhƣ một phƣơng tiện tu từ nào? Các loại hình
văn học ở các thời kỳ khác nhau có những cách dùng cải danh khác nhau nhƣ
thế nào?
+ Trong thần thoại có thần Trụ Trời, Lạc Long Quân.
ngƣời quan tâm nhƣng chƣa có sự phân tích thành hệ thống và cụ thể.
5
2.3 Nghiên cứu nhân vật và tên nhân vật trong tác phẩm Nguyễn
Minh Châu
Nguyễn Minh Châu là nhà văn cách mạng sau kháng chiến chống Mĩ
những năm 60. Ông là ngƣời mở đƣờng “tinh anh và tài năng. Cho đến nay,
những truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu đã đƣợc đánh giá cao và Nguyễn
Minh Châu đã tạo dựng cho mình một phong cách truyện ngắn độc đáo. Đó
thực sự là những thành tựu không chỉ của nhà văn mà còn là của nền văn học
Việt Nam hiện đại.
Có lẽ ngƣời đầu tiên quan tâm đến cách đặt tên nhân vật trong tác phẩm
của Nguyễn Minh Châu là tác giả Phạm Duy Nghĩa trong cuốn Chuyên luận
Nhà văn Nguyễn Minh Châu và cảm hứng nhà văn (NXB Hội nhà Văn,
2006), Phạm Duy Nghĩa đã viết ở trang 125: “Cách đặt tên nhân vật của
Nguyễn Minh Châu hàm ẩn mọi thái độ đánh giá tích cực. Đó là cô Nết nết
na, cô Thùy thùy mị, cô Nguyệt trong trẻo như ánh trăng tươi mát…”.
Tác giả Phan Cự Đệ trong bài “Truyện ngắn Việt Nam 1975 – 2000”
có nhận xét: Tiếp cận phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu (ở
truyện ngắn) “là tiếp cận thế giới nhân vật”, “nghệ thuật tâm lý” và “giọng
điệu nhà văn”. Trong mối liên hệ tương tác giữa các thành tố tạo nên một
tổng thể nghệ thuật vừa đa diện vừa phong phú, vừa long lanh bản sắc riêng
của một tài năng văn chương. Ông cũng cũng cho rằng: “Thế giới nghệ thuật
của Nguyễn Minh Châu (đặc biệt truyện sau 1975) có hai loại nhân vật chính
nhân vật – tư tưởng, nhân vật – dị biệt”.
Tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đã đƣợc đông đảo bạn đọc đón nhận.
Các tác giả của các công trình nghiên cứu đã quan tâm đến nhiều khía cạnh
trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu nhƣ phong cách nghệ thuật, cảm hứng
b. Phƣơng pháp hệ thống hóa, khái quát hóa.
c. Phƣơng pháp phân tích, đánh giá nhận xét
6. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
7
6.1 Đối tượng nghiên cứu
Tên nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu
6.2 Phạm vi nghiên cứu
Do giới hạn về thời gian và khuôn khổ của đề tài, chúng tôi chỉ chọn
lọc thống kê một số tác phẩm tiêu biếu của Nguyễn Minh Châu, trong các
tuyển tập:
- Nguyễn Minh Châu tuyển tập do Dƣơng Phong tuyển chọn, NXB Văn
học, 2012.
- Nguyễn Minh Châu truyện ngắn do Nguyễn Văn Lƣu tuyển chọn,
NXB Văn học, 1999.
Trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu tên nhân vật có rất nhiều,
chúng tôi chỉ dừng lại khảo sát các tên nhân vật có vai trò định hƣớng giao
tiếp trong việc phân tích tác phẩm.
7. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận chung, khóa luận gồm 2 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận.
Chƣơng 2: Cách đặt tên nhân vật và vai trò định hƣớng tên nhân vật
trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu.
8
NỘI DUNG
+ Tên nhân vật tƣơng đồng với tính cách nhân vật.
Ví dụ: Tên “Nhu” trong “Vợ hiền” thể hiện tính cách nhu nhƣợc, quá
hiền lành và cam chịu, tên “Hảo” trong “Dì Hảo” thể hiện tính cách của một
ngƣời tốt và ngoan.
+ Tên nhân vật kèm theo cụm từ miêu tả đặc điểm tính cách.
Ví dụ: Chí Phèo, “Phèo” là đồ bỏ đi của con lợn, Chí Phèo là hạng
ngƣời cùng đinh, bị coi là cặn bã trong xã hội cũng giống nhƣ cái phèo lợn là
phần bỏ đi trong cơ thể con lợn, mà cái gì đã bỏ đi thì không có tác dụng, con
ngƣời ta ai thèm để ý quan tâm tới vật đã bỏ đi. Số phận Chí Phèo cũng vậy,
cả làng Vũ Đại coi Chí Phèo là con quỷ dữ, coi hắn đâu phải là ngƣời.
- Tên nhân vật thể hiện số phận và cuộc đời nhân vật.
Ví dụ: Trong văn học dân gian nhân vật có cuộc đời tầm thƣờng, nhỏ
bé, thấp cổ bé họng có tên nhƣ anh Khoai, Tấm Cám,…
Các tác phẩm thuộc văn học hiện thực phê phán, tên nhân vật là những
con vật nhỏ bé nhƣ chuột (Tý), gà (Dậu), lợn (Hợi),… Đây là những con vật
rất gần gũi với cuộc sống của ngƣời dân Việt Nam từ xa xƣa, cách gọi tên
nhân vật thể hiện ấn tƣợng ban đầu, thể hiện sự gần gũi, thân thiện, đáng
thƣơng.
- Tên nhân vật thể hiện ẩn ý về cuộc đời nhân vật.
Ví dụ: Tên “Mịch” hàm ẩn ý nghĩa âm u, tăm tối. Cả cuộc đời Mịch là
một màn đêm, chƣa lúc nào có hơi hƣớng của cuộc sống. Từ khi Mịch bị lão
Nghị Hách – con quỷ dâm dục ấy hiếp trong cái đêm đi gánh rạ thì cuộc đời
Mịch đã rẽ sang một ngõ cụt, tăm tối. Mịch đã bị ngƣời ta đẩy xuống hố sâu
mà không thể ngoi lên đƣợc. Cho đến kết thúc truyện lối đi của Mịch vẫn cứ
tăm tối và âm u nhƣ chính cái tên vừa gợi ra vậy.
-
Tên nhân vật thể hiện thứ bậc địa vị trong gia đình, trong xã hội.
10
11
Tác giả Lê Hữu Tỉnh đã nêu lên một số trƣờng hợp khá lí thú sau đây:
Tên thật nhà thơ Thế Lữ là Thứ Lễ: bút danh Thế Lữ dùng hình thức
nói lái, mang đậm màu sắc thoát li, phiêu lãng. Nhà thơ tự coi mình là lữ
khách trên đƣờng đời vạn dặm. (Ta là khách bộ hành phiêu lãng. Đường trần
gian xuôi ngược để vui chơi,…).
Tác giả của những bài thơ độc đáo “Đây thôn Vĩ Dạ”, “Mùa xuân
chín”,… có một bút danh độc đáo: Hàn Mặc Tử (“Hàn” có nghĩa là cây bút
lông, “Mặc” là mực, “Hàn Mặc” có nghĩa bóng là chỉ công việc văn chƣơng
(Theo lối hoán dụ), “Tử” là ngƣời sĩ tử. Hàn Mặc Tử là ngƣời làm công việc
văn chƣơng. Tên thật của ông là Nguyễn Trọng Trí.
Tác giả của những bài thơ nổi tiểng “Tống biệt hành”, “Chiều mưa
đường số 5”,… đặt cho mình bút danh “Thâm Tâm”. Thâm Tâm hay một tấm
lòng thẳm sâu tình yêu đất nƣớc, con ngƣời? Thơ của ông cũng sâu thẳm tình
cảm da diết nhớ thƣơng nhƣ con ngƣời ông. Tên thật nhà thơ là Nguyễn Tuấn
Trình.
Tác giả “Mảnh đất lắm người nhiều ma” trong hai chục năm viết văn
của mình chỉ kí tên Thao Trƣờng. Ở tiểu thuyết này nhà văn bỏ hẳn cái tên
quen thuộc ấy, lấy tên nhƣ trong giấy khai sinh Nguyễn Khắc Trƣờng. Nhận
xét tên tác giả Hồng Diệu viết: “Nếu tôi không lầm thì anh đã coi thường
những thứ mình viết trước kia và đặc biệt tâm đắc với tác phẩm này. Đặt trên
bàn cân chất lượng mà so sánh, tôi thấy anh hoàn toàn đúng” (Văn nghệ
16/3/1991).
1.2.2.2 Đầu đề tác phẩm
Đầu đề là căn cứ để nhận ra tính hoàn chỉnh của một văn bản. Những
văn bản bằng miệng thƣờng là không có đầu đề. Nếu có thì chỉ trong những
trƣờng hợp nhƣ báo cáo tham luận miệng trong các hội nghị ngƣời nói “thông
báo” đầu đề ngay trong đoạn mở đầu văn bản của mình. Trong những văn bản
Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi”
13
Nam cao đặt tên cho nhân vật của mình là “Lão Hạc” cũng là để giao
tiếp và thông báo với ngƣời đọc về thân phận và cuộc đời lão. Số phận và tính
cách của “Lão Hạc” cũng là số phận của bao ngƣời nông dân sống trong xã
hội thực dân. “Lão Hạc” khổ sở, bất hạnh. Vợ lão mất sớm, thằng con trai lão
không lấy đƣợc vợ do nhà gái thách cƣới quá cao đã bỏ lên đồn điền cao su.
Niềm vui duy nhất của lão là có con Vàng. Lão chiều nó nhƣ một ngƣời mẹ
nuông chiều đứa con cầu tự. Lão sống lầm lũi, khổ cực trong vô vọng song
tình thƣơng con của lão lúc nào cũng tỏa sáng trong tâm hồn. Cái chết của lão
là cái chết của số phận hẩm hiu và nghiệt ngã. Lão chết để giữ sự thanh cao,
trong sạch của lƣơng tri, của tâm hồn. Đặt tên nhân vật là “Hạc”, Nam Cao đã
gửi gắm vào đó một sự ngợi ca, trân trọng và một thái độ cảm thông sâu sắc.
1.3 Cải danh – một phƣơng thức đặt tên nhân vật
1.3.1 Khái niệm
Để định danh cho nhân vật của mình có rất nhiều cách, có khi tác giả
đặt tên một cách ngẫu nhiên. Song cũng có khi, việc đặt tên nhân vật là theo
dụng ý nghệ thuật. Tên nhân vật phần nào thể hiện tƣ tƣởng chủ đề tác phẩm.
Nó vừa mang dấu ấn cá nhân tác giả, vừa thể hiện rõ lý tƣởng thẩm mĩ của
thời đại.
Có nhiều cách đặt tên trong tác phẩm song phổ biến nhất là đặt tên
nhân vật sử dụng phép cải danh.
Theo giáo sƣ Đinh Trọng Lạc: “Cải danh là một biến thể của lối
chuyển nghĩa có tính chất ẩn dụ, trong đó, người ta dùng tên riêng thay cho
tên chung hoặc dùng tên chung thay cho tên riêng”[5,Tr.60].
1.3.2 Các dạng cải danh
Trong cuốn “300 bài tập phong cách học tiếng việt”, giáo sƣ Đinh
đặc điểm tâm lý, nghề nghiệp, hành vi, ngoại hình,…
Ví dụ:
Nhân vật bà Tiên: đại diện cho ngƣời tốt.
15
Nhân vật phù thủy: đại diện cho kẻ ác.
Nhân vật công chúa ếch, chàng Cóc,… đại diện cho nhân vật dị dạng
nhƣng thông minh và tốt bụng.
Trong văn xuôi nghệ thuật hiện đại, cải danh đƣợc sử dụng rất rộng rãi
và đạt đƣợc hiệu quả nghệ thuật cao. Tên các nhân vật không chỉ gắn với đặc
điểm ngoại hình nhân vật mà còn chuyển hóa sâu sắc vào nội dung tính cách
nhân vật.
Hiệu quả tu từ của cải danh đƣợc biểu hiện rõ nhất là trong những
trƣờng hợp thay đổi tên nhân vật, có thể gọi là cải danh kép. Ví dụ: cái tên
“Trạch Văn Đoành” trong truyện ngắn “Đôi móng giò” của Nam Cao, tên
nhân vật nghe nhƣ một phát súng thần công. Nó chọc vào lỗ tai của ngƣời
đọc. Tất cả sự phối hợp không ăn khớp cho lắm trên cái hình thể của hắn làm
cho ngƣời đọc thấy đƣợc ngay sự gắn bó giữa tên và hình dáng. Cái khối
tƣởng nhƣ súng thần công ấy chỗ thì lồi ra, chỗ thì bóp vào gợi cho ta sự hình
dung cụ thể về những bộ phận “như nhạo, như cười, như khinh khỉnh với
người ta ấy”. Cái tên “Trạch Văn Đoành” đã góp phần thể hiện rõ hiện thực
đối tƣợng tác giả muốn truyền đạt tới ngƣời đọc.
1.4 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu
1.4.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Minh Châu (20/10/1930 – 23/1/1989) là một nhà văn có ảnh
hƣởng quan trọng đối với văn học Việt Nam trong giai đoạn chiến tranh và
thời kỳ đầu của đổi mới.
Quê gốc của ông ở làng Văn Thai, tên nôm là làng Thơi, xã Quỳnh Hải,
văn xuôi Việt Nam và cũng là ngƣời mở đƣờng cho những cây bút trẻ tài năng
sau này.
17
1.4.2 Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Minh Châu là nhà văn lớn có nhiều đóng góp xuất sắc. Ông đã
xây dựng cho mình một phong cách nghệ thuật rất riêng và độc đáo.
Trƣớc 1975, các tác phẩm của ông mang đặc điểm chung của văn học
thời kỳ chống Mĩ, mang khuynh hƣớng sử thi, lấp lánh vẻ đẹp lãng mạn và
dồi dào chất thơ, giọng điệu ngợi ca trang trọng.
Tác phẩm tiêu biểu: Dấu chân người lính (1972), Cửa sông (1966),…
Sau 1975 (chính xác là từ 1980), ông “thuộc số những nhà văn mở
đường tinh anh và tài năng nhất” (Nguyên Ngọc) của văn học Việt Nam thời
đổi mới và đƣợc tặng giải thƣởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm
2000. Các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu thời kỳ này thiên về cảm hứng
thế sự với những vấn đề đạo đức và triết lí nhân sinh.
Tác phẩm tiêu biểu: Bến quê (1985), Chiếc thuyền ngoài xa (1983),…
Trong suốt hành trình tìm kiếm, khám phá và thể hiện cuộc sống con
ngƣời của một đời văn, Nguyễn Minh Châu đã in vào lịch sử văn học hiện đại
Việt Nam bức chân dung độc đáo của mình. Cái làm nên bức chân dung ấy là
những áng văn đậm dấu ấn phong cách nghệ thuật của một nhà văn mà sự kết
tinh tài năng, phong cách, tấm lòng đã đƣợc khẳng định trong sáng tác.
Nguyễn Minh Châu đã lao động sáng tạo nghệ thuật hết mình từng
bƣớc hoàn thiện nghệ thuật sáng tác trên cơ sở kế thừa và đổi mới về mọi mặt.
Phong cách nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu đƣợc hình
thành và phát triển trong bối cảnh của một thời kỳ lịch sử đặc biệt. Là một
gƣơng mặt tiêu biểu của nền văn xuôi chống Mĩ, ông đã góp phần thực hiện
sứ mệnh quan trọng trong thể loại truyện ngắn, cổ vũ cho cuộc kháng chiến đi
Tỉ lệ
Ghi
phiếu
(%)
chú
20
31,7
Nhân
Tên nhân vật thể hiện đặc điểm tính cách nhân
vật có
vật
tên cụ
Tên nhân vật thể hiện đặc điểm số phận, cuộc đời
11
19,0
7,9
Tên nhân vật đặt bằng tên đồ vật, con vật
3
4,8
Tên nhân vật đặt bằng đặc điểm hình dáng
4
6,3
63
100
biệt
Tổng
20