So sánh cách tả ngoại hình nhân vật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du và truyện ngắn của Nam Cao - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


TRẦN MAI HƯƠNG
SO SÁNH CÁCH TẢ NGOẠI HÌNH NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU VÀ
TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

Hà Nội - 2013 1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài: 4
2. Một số vấn đề lí luận chung 9
2.1.Khái niệm nhân vật: 9
2.2. Ngoại hình nhân vật : 9
2.3. Thể loại và vấn đề miêu tả ngoại hình: 10
2.4. Hai thời kỳ văn học trung đại và hiện đại trong lịch sử văn học Việt Nam
2.4.1 Văn học trung đại Việt Nam 11
2.4.2 Văn học hiện đại Việt Nam 12
3. Đối tượng, mục đích, phạm vi, phương pháp nghiên cứu: 14
3.1. Đối tượng: 14
3.2. Môc ®Ých nghiªn cøu 15
3.3. Ph¹m vi nghiªn cøu. 15
3.4. Phương pháp nghiên cứu : 15
4. LÞch sö vÊn ®Ò nghiªn cøu. 16
4.1. Lịch sử nghiên cứu việc miêu tả ngoại hình nhân vật Truyện Kiều: 16
4.2. Nghiên cứu về vấn đề miêu tả ngoại hình nhân vật trong sáng tác Nam
Cao: 21
NỘI DUNG 24
Chương 1: VẤN ĐỀ MIÊU TẢ NGOẠI HÌNH NHÂN VẬT TRUYỆN KIỀU
2
1. Ngoi hỡnh nhõn vt chớnh din 25
1.1 Nhân vật Thuý Vân: 26

2.2. Quan niệm về con người cộng đồng thời trung đại : 85
2.3. Quan niệm văn học thời hiện đại 86
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Để làm nổi bật đặc điểm riêng, nét độc đáo của một đối tượng nào đó,
cần phải dùng phương pháp so sánh.
Có một số lý do để chúng tôi đến với đề tài nghiên cứu so sánh cách
miêu tả ngoại hình nhân vật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du và trong
truyện ngắn Nam Cao.
- Chúng ta đều biết, Nguyễn Du là một tác giả tiêu biểu của văn học
trung đại và Nam Cao- một tác giả tiêu biểu của văn học hiện đại giai đoạn

tả tính cách nhân vật. Cùng với ngôn ngữ, hành động, tâm lý, các yếu tố
ngoại hình góp phần làm nổi bật tính cách của nhân vật. Nhưng mỗi nền văn
học, mỗi thời đại văn học lại có cách miêu tả ngoại hình khác nhau. Nói một
cách lý luận, miêu tả ngoại hình nhân vật là một phạm trù lịch sử. Các trích
đoạn Truyện Kiều hay tác phẩm Chí Phèo đều có miêu tả chân dung nhân
vật, dĩ nhiên ở các mức độ và tính chất khác nhau, với những quan niệm khác
nhau. So sánh cách tả ngoại hình nhân vật để từ đó khái quát lên đặc trưng
của tư duy văn học trung đại và hiện đại do đó là cách làm phù hợp với khả
năng tiếp nhận của học sinh, mà cũng là cách làm mà giới nghiên cứu chưa
từng vận dụng khi so sánh hai nền văn học trung đại và hiện đại. Đề tài do
vậy có tính ứng dụng thực tiễn cấp thiết, đồng thời cũng có cái mới.
1.2. Đề tài tuy đề cập đến một phương diện rất nhỏ của nhân vật văn học
nhưng có liên quan đến tư duy văn học của văn học trung đại và văn học
hiện đại. Tả ngoại hình con người không đơn giản là câu chuyện của kỹ thuật
viết văn mà ẩn sau việc miêu tả ấy là quan niệm của mỗi tác giả, mỗi thời đại
về con người. Quan niệm về con người như thế nào thì tác giả sẽ tả ngoại
hình nhân vật tương ứng. Đọc lịch sử nghiên cứu bình luận việc miêu tả nhân
vật Truyện Kiều, chúng tôi gặp ý kiến độc đáo của René Crayssăc, một nhà
6
Việt Nam học người Pháp. Ông cho rằng, con người trong Truyện Kiều sống
trong xã hội gia trưởng, lấy gia đình làm bản vị, hy sinh con người cá nhân
cho cộng đồng gia đình nên nét cá nhân thường rất mờ nhạt. Theo ông, quan
niệm con người như vậy chi phối đến cách miêu tả nhân vật, trước hết là
miêu tả ngoại hình. Ông viết “Các nhân vật trong Truyện Kiều, người nào
cao hay thấp, béo hay gầy, mặc xanh hay mặc đỏ, cái đó không có quan hệ
gì. Người trong truyện đây chẳng qua mỗi người chỉ là để đóng một vai trong
xã hội, cái bản thân mình không có quan hệ gì; mỗi người có thể cho là chân

nhiên làm công cụ miêu tả. Chúng ta thấy ngoại hình của Thúy Kiều, Thúy
Vân, Kim Trọng, Từ Hải được miêu tả một cách ước lệ, trong đó vai trò của
các yếu tố thiên nhiên là đặc điểm nổi bật” [48, tr.107]. Trong khi đó, ngoại
hình nhân vật phản diện lại có xu hướng được tả thực. “Nếu như khi miêu tả
các nhân vật chính diện, Nguyễn Du khai thác các yếu tố thiên nhiên thì khi
miêu tả các nhân vật phản diện, ông lại cố gắng đặt chúng vào địa hạt cuộc
sống hàng ngày, cố gắng miêu tả chúng sao cho cụ thể giống thực…Với các
nhân vật phản diện, tác giả cố gắng gọi sự vật bằng đúng cái tên của nó. Do đó
chúng ta mới có cơ hội bắt gặp một Mã Giám Sinh khá cụ thể về tuổi tác,
ngoại hình, phục sức…Có thể nói rằng Nguyễn Du phân biệt một cách rạch
ròi, kiên quyết, triệt để trong quan sát và miêu tả hai loại nhân vật, sự phân
biệt đã đi vào tư duy nghệ thuật” [48, tr.109-110]. Với nhận xét này, Trần Nho
Thìn chỉ rõ, các từ ngữ “khuôn trăng‟, “nét ngài”, “hoa cười ngọc thốt”, “thu
thủy”, “xuân sơn”, “hoa ghen, liễu hờn” không đơn giản là những công thức
ước lệ mà ẩn sau chúng là quan niệm văn hóa riêng cuả thời trung đại. Cũng
vậy, sau những từ ngữ “mày râu nhẵn nhụi” tả Mã Giám Sinh, “nhờn nhợt
màu da” tả Tú Bà không đơn giản là chuyện bút pháp chủ nghĩa hiện thực như
có nhà nghiên cứu quan niệm mà chính là một biểu hiện của tư duy văn học rất
riêng thời trung đại. Trần Nho Thìn lý giải “Vì coi thiên nhiên là nguồn gốc
sinh ra nhân cách cao quý nên theo quan niệm Nho gia, thiên nhiên là mẫu
8
mực, là lý tưởng, là cái đẹp, cái hoàn mỹ. Mặt khác chỉ có những con người
cao quý mới xứng đáng sánh cùng thiên nhiên, đối diện với thiên nhiên.
Những kẻ độc ác, xấu xa vĩnh viễn bị cầm tù trong phạm vi cuộc sống xã hội,
trong cái hàng ngày, trần tục bụi bặm, đánh khinh đáng ghét” [48, tr.114].
Như vậy, các thủ pháp nghệ thuật tả ngoại hình nhân vật trung đại
không còn chỉ đơn giản là vấn đề hình thức mà là vấn đề nội dung, vấn đề văn

những đặc điểm giống với con người.
Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật, nó mang tính ước lệ, không thể
bị đồng nhất với con người có thật, ngay cả khi tác giả xây dựng nhân vật với
những nét rất gần với nguyên mẫu có thật. Nhân vật văn học là sự thể hiện
quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người, nó có thể được xây dựng chỉ
dựa trên quan niệm ấy. Ý nghĩa của nhân vật văn học chỉ có được trong hệ
thống một tác phẩm cụ thể.
Nhân vật văn học là một trong những đối tượng trung tâm để xem xét
sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong
cách. Những nét chung về nhân vật văn học có thể cho phép nêu lên những
hiện tượng văn học như : văn học về “con người thừa” (ở văn học Nga thế kỉ
XIX), văn học về “thế hệ bỏ đi”(ở Mĩ thế kỉ XX).
2.2. Ngoại hình nhân vật : như đã nói ở trên, khái niệm “ngoại hình nhân
vật” được sử dụng trong luận văn này chỉ phần hữu hình bề ngoài của nhân
vật, có thể quan sát, cảm nhận bằng mắt thường. Đó là những yếu tố khuôn
mặt, mái tóc, chòm râu, hàng ria, đôi mắt, sống mũi, miệng, hàm răng khi
cười…nói chung là những gì gọi bằng khái niệm “sắc tướng”. Mở rộng thêm,
ngoại hình còn bao gồm cả thân thể, phục trang, dáng đi. Không phải tất cả
các nhân vật của một tác giả đều được miêu tả đầy đủ các yếu tố ngoại hình
trên, tùy theo ý đồ nghệ thuật mà một tác giả có thể chọn miêu tả ít hay
nhiều yếu tố ngoại hình. Và điều mà luận văn quan tâm là xem xét cách mà
10
một tác giả trung đại miêu tả ngoại hình có gì khác, có gì giống với một tác
giả hiện đại.
2.3. Thể loại và vấn đề miêu tả ngoại hình:
Các thể loại tự sự và các thể loại trữ tình có những đặc trưng khác
nhau trong lĩnh vực mô tả ngoại hình. Trong các thể loại văn xuôi tự sự có

ngoại hình nhân vật của Truyện Kiều, có tính đến tính đặc trưng thể loại
truyện thơ với ngoại hình nhân vật trong tác phẩm văn xuôi nào đó.
2.4. Hai thời kỳ văn học trung đại và hiện đại trong lịch sử văn học Việt Nam
Vì mục tiêu so sánh ngoại hình nhân vật sáng tác của Nguyễn Du (tác
giả văn học trung đại ) và Nam Cao (tác giả văn học hiện đại ) để làm nổi rõ
một nét đặc điểm của hai nền văn học này nên ở đây xin nói qua về hai thời
kỳ cũng là hai loại hình văn học khác nhau.
2.4.1 Văn học trung đại Việt Nam
Văn học trung đại Việt Nam tồn tại trong giai đoạn X đến thế kỉ XIX. Văn
học trung đại Việt Nam nằm trong khu vực văn học Đông Á, chịu ảnh hưởng
của văn học dân gian, đồng thời tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Trung
Quốc và các nền văn học của các dân tộc láng giềng. Quan niệm về con
người và thế giới trong triết học và văn hóa Đông Á có ảnh hưởng quyết định
đối với việc tả ngoại hình nhân vật văn học trung đại. Nguyễn Du sống trong
bầu không khí đó, tất nhiên chịu ảnh hưởng của quan niệm có tính khu vực
về con người. Nhất là chịu ảnh hưởng của văn hóa và văn học Trung Quốc.
Truyền thống văn hóa phương Đông không coi trọng con người cá
nhân mà coi trọng con người phận vị, con người chức năng. Nói như GS
Trần Đình Hượu, đó là con người chức năng trong quan hệ luân thường.
Trong tiếng Việt, hệ thống đại từ nhân xưng rất phức tạp, phản ánh các mối
quan hệ luân thường đạo lý chằng chịt trong đó, cái cá nhân bị triệt tiêu: đại
từ nhân xưng ngôi thứ nhất có thể là tôi, em cháu, con; ngôi thứ hai có thể là
cụ, ông, bác, chú, thím, dì, cô, cậu, mợ…Đứng trước một người đối thoại,
12
người Việt thường phải xác định đúng quan hệ để dùng đúng đại từ, bảo đảm
duy trì quan hệ tốt.
Trong bối cảnh đó, tác giả văn học trung đại quan tâm đến kiểu loại

Mopátxăng, Sêkhốp. Hiện nay xu hướng quốc tế hóa, tiếp nhận ảnh hưởng
rất nhiều nền văn học của nước khác trên thế giới của văn học Việt Nam
ngày càng thể hiện mạnh. Truyền thống của văn học phương Tây ngay từ
thời Platôn, Aristốt đã hướng đến chức năng của văn học mô phỏng, bắt
chước hiện thực, trong đó, chi tiết chân thực trong miêu tả con người được
chú ý. Ngay cả các sáng tác của nhà văn theo chủ nghĩa lãng mạn thì việc
miêu tả chi tiết, cụ thể chân dung của nhân vật vẫn được đề cao.
Triết học và văn học phương Tây từ thời Phục hưng có truyền thống
đề cao con người cá nhân, đến thế kỷ XX đã tích lũy được nhiều lý luận về
con người cá nhân. Khi đề cao con người cá nhân thì dễ hiểu là, tác giả trung
đại phải chú ý đến cá thể hóa, đến vai trò của miêu tả ngoại hình đối với việc
cá thể hóa, cá tính hóa nhân vật. Sự khác biệt giữa các nhân vật bộc lộ trong
nhiều yếu tố, mà trước hết được làm rõ trong các nét biểu hiện cá thể hóa
ngoại hình nhân vật. Vì thế, định vị tác giả Nam Cao trong văn học hiện đại
tức là lưu ý những ảnh hưởng phương Tây đến quan niệm về con người cũng
như thi pháp miêu tả con người của nền văn học này.
Tóm lại, để giải thích cắt nghĩa đặc điểm của việc tả ngoại hình nhân vật
trong một tác phẩm văn học trung đại, chúng ta không thể không liên hệ đến
ảnh hưởng của văn học Trung Quốc. Đồng thời để giải thích cắt nghĩa đặc
điểm của việc miêu tả ngoại hình trong văn học hiện đại chúng ta cũng phải
liên hệ đến ảnh hưởng của văn học phương Tây, đặc biệt là văn học Pháp.
Nghĩa là nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật của hai tác giả Nguyễn Du
(văn học trung đại ) và Nam Cao (văn học hiện đại ) được tìm hiểu trong ngữ
cảnh rộng mang tính thời đại, đặc trưng của nghệ thuật này được xem xét
trong mối quan hệ giao lưu, tiếp nhận ảnh hưởng văn học thế giới.
14
3. Đối tượng, mục đích, phạm vi, phương pháp nghiên cứu:

so sánh với cách tả nhân vật của một số tác giả đương thời với Nam Cao.
Việc mở rộng như vậy có mục đích là xác nhận tính phổ biến của một đặc
điểm được khái quát từ một trường hợp cụ thể.
3.2. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng việc khảo sát, tìm hiểu, nghiên cứu tìm tòi phương pháp so
sánh trong luận văn này chúng tôi sẽ mô tả hiện tượng tả ngoại hình các
nhân vật của tác phẩm tự sự tiêu biểu thời trung đại là Truyện Kiều và tác
phẩm hiện đại trong một số truyện ngắn của Nam Cao nhằm hai mục đích
chính :
a.Chỉ ra sự giống và khác nhau, đặc biệt là khác nhau, của nghệ thuật miêu tả
nhân vật ở hai tác giả tiêu biểu cho văn học trung đại và văn học hiện đại.
b) Phân tích và lý giải nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau là do quan niệm
văn học đã chi phối cách tả ngoại hình của các nhân vật trung đại và hiện đại.
Qua việc đào sâu cơ sở thế giới quan và văn hóa xã hội, quan niệm văn
học chúng tôi sẽ tìm thấy điểm khác nhau từ hai cách tả ngoại hình nhân vật
của hai tác giả tiêu biểu của giai đoạn trung đại và hiện đại là tất yếu. Nhưng
vì là phương pháp so sánh nên chúng tôi trong quá trình làm luận văn cố
gắng tìm những điểm giống nhau và khác nhau cơ bản.
3.3. Phạm vi nghiên cứu.
Luận văn sẽ khảo sát các tác phẩm sau :
- Truyện Kiều của Nguyễn Du
- Một số truyện ngắn được coi là tiêu biểu của Nam Cao như: Chí Phèo, Lão
Hạc, Đời thừa
3.4. Phương pháp nghiên cứu :
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau
-Phương pháp so sánh
-Phương pháp xã hội học


17
cả một hạng người trong xã hội. Thúy Kiều tiêu biểu cho hạng con gái đẹp
tài tình; Thúy Vân tiêu biểu cho hạng con gái đẹp phúc hậu; Mã Giám Sinh
tiêu biểu cho hạng đàng điếm ma cô; Tú Bà tiêu biểu cho hạng trùm đĩ; Thúc
Sinh tiêu biểu cho hạng công tử mê gái; Từ Hải tiêu biểu cho hạng hào kiệt
ngang tàng. Bởi các lẽ trên, ta chỉ thấy Nguyễn Du lựa chọn một cách rất
thích đáng những điều đáng chú ý, những đặc điểm tiêu biểu chứ không phô
bày tất cả chi tiết” (Văn tả người và tả cảnh trong Đoạn trường tân thanh, Tri
Tân, s. 74, ngày 25/11/1942).
Nhiều nhận xét về nghệ thuật tả ngoại hình nhân vật Truyện Kiều của
các nhà phê bình về sau không vượt qua được những gì mà Đào Duy Anh đã
làm, thậm chí lại còn không nêu hay phát triển nhận xét so sánh với tiểu
thuyết phương Tây của ông. Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản
ước tân biên đưa ra những nhận xét tương tự so với Đào Duy Anh, khi viết:
“Thí dụ tác giả tả Tú Bà: hình dong, cử chỉ, ngôn ngữ, mưu mẹo, tất cả như
vẽ ra cái cốt cách của một mụ dầu. Mụ dầu ấy đúng thật về đời xưa, và cho
đến nay đại khái ta thấy vẫn đúng, tức như một kiểu mẫu tâm lý bất biến
trong nhân loại, trong xã hội. Người ta gọi những nhân vật tâm lý được kết
hợp như vậy là những nhân vật điển hình” [25, tr. 1048]. Các nhà nghiên cứu
nói trên đã đề cập đến vấn đề mà trong lý luận về chủ nghĩa hiện thực gọi là
nhân vật điển hình.
Nhà thơ Xuân Diệu là người có khả năng thẩm bình Truyện Kiều rất
tinh tế. Ông đã tiến thêm một bước khi nêu vấn đề Nguyễn Du vừa là nhà
văn hiện thực vừa là nhà văn lãng mạn. Bút pháp của Nguyễn Du là hiện
thực đối với nhân vật phản diện mà lại lãng mạn đối với các nhân vật chính
diện. Ông viết “Nguyễn Du hiện thực lạ lùng mà cũng lãng mạn kỳ
diệu…Nguyễn Du dùng hiện thực phê bình dựng những nhân vật phản phái,
vẽ bọn chúng rất xấu, mặc dầu có khi cho chúng một cái hình thù “coi được” 19
thông qua cái chi tiết ngoại hình để đào sâu vào tâm lý bên trong của nhân
vật. Đối với Nguyễn Du, một nét mặt, một màu da, một dáng điệu, một cử
chỉ, một tư thế, không chỉ là cái bên ngoài, mà thông qua đó có thể làm hiển
hiện cái thần của nhân vật. Các nhân vật Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh
hình thành bắt đầu từ cái “mày râu nhẵn nhụi”, cái “lờn lợt màu da”, cái
“chải chuốt dịu dàng” mà thiếu đi, thì nhân vật cũng thiếu cả hình thù, lẫn
máu thịt. Đó là những chi tiết hiện thực chủ nghĩa dễ thấy nhất trong Truyện
Kiều, và làm nhớ đến những viên ngọc quí trong kho tàng ca dao tục ngữ
nước nhà” [22, tr. 367].
Như vậy, Lê Đình Kỵ đưa các chi tiết cụ thể, sinh động của ngoại hình
nhân vật vào phạm trù chủ nghĩa hiện thực. Tuy nhiên, ông lại lúng túng khi
gặp những chi tiết về ngoại hình nhân vật chính diện đều mang tính ước lệ,
tượng trưng. Có sự khác nhau giữa chân dung Thúy Kiều và Thúy Vân
nhưng sự khác nhau đó “vẫn không vượt ra ngoài những nét ước lệ. Ở Thúy
Vân, đó là mày ngài, khuôn trăng, hoa cười ngọc thốt, tóc mây, da tuyết. Ở
Thúy Kiều là : mặt như thu thủy, mày tựa xuân sơn, sắc đẹp nghiêng nước
nghiêng thành, đủ tài thi họa, ca ngâm, phong lưu rất mực. Từ hình ảnh đến
chữ nghĩa đều là có sẵn. Chúng ta đứng trước hiện tượng về sắc đẹp nói
chung của hai hạng đàn bà phúc hậu (Thúy Vân) và sắc sảo (Thúy Kiều),
nhưng chúng ta vẫn chưa có được một người đàn bà phúc hậu, một người
đàn bà sắc sảo, khó mà hình dung được mỗi người họ là như thế nào” [22, tr.
410]. Ông cho rằng tình trạng đó là do ràng buộc của mỹ học đương thời và
quan trọng hơn, ông cho rằng “nó nằm trong một hệ thống nghệ thuật, nói lên
một phương thức tư duy hình tượng, nó tuân theo những quy cách, những
khuôn khổ, những mỹ từ có sẵn mà vẫn giữ được sinh động, chân thực” [22,
tr. 417]. Nhưng hệ thống nghệ thuật đó cụ thể là gì, ông chưa trình bày.

những biểu hiện đặc trưng của nghệ thuật tả ngoại hình nhân vật trong
21
Truyện Kiều, nhưng cách lý giải còn khác nhau. Điểm đặc biệt là chưa có ai
nêu vấn đề so sánh cách tả ngoại hình nhân vật văn học trung đại và văn học
hiện đại để áp dụng cắt nghĩa nghệ thuật Truyện Kiều.
4.2. Nghiên cứu về vấn đề miêu tả ngoại hình nhân vật trong sáng tác Nam
Cao:
Bàn về nghệ thuật tả ngoại hình nhân vật trong sáng tác Nam Cao, các
nhà nghiên cứu văn học hiện đại đã đạt nhiều thành tựu.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh thuộc số những người viết có
quan sát sâu sắc về nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật của Nam Cao.
Theo ông: “Nam Cao chú ý nhiều đến nội tâm hơn là ngoại hình nhân vật, trừ
những trường hợp có dụng ý đặc biệt” [30, tr. 246]. Ở đây, nhà nghiên cứu
muốn nói đến sự ưu tiên của Nam Cao cho nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân
vật hơn là tả ngoại hình.
Nhà nghiên cứu Trần Đăng Suyền có một khái quát có giá trị về mặt
nghệ thuật miêu tả nhân vật của Nam Cao và đi sâu phân tích kỹ hơn về vấn
đề này. Ông viết “Khi xây dựng nhân vật, Nam Cao tạo ấn tượng bằng hai
cách : hoặc là miêu tả chi tiết, đặc tả diện mạo bên ngoài (thường là những
nhân vật dị dạng trong sáng tác viết về đề tài người nông dân, hoặc là chỉ
thoáng qua, không vẽ chi tiết cụ thể về diện mạo của nhân vật (thường là đối
với nhân vật người trí thức) [41, tr. 175]. Ông phân tích chi tiết hơn: “Tập
trung miêu tả chi tiết hình dáng bên ngoài của những nhân vật dị dạng,
những con người mà ngay cái bề ngoài cũng không đáng gọi là người là một
đặc điểm của ngòi bút Nam Cao. Không có ai như Nam Cao, trong sáng tác
của mình lại liên tiếp ném ra nhiều bộ mặt dị dạng, xấu xí đến mức ghê tởm,
dở hơi, đần độn đến thảm hại, dữ dằn, tàn ác đến như vậy” [41, tr. 175].

rất phong phú”, “ở đây, năng khiếu của nhà nghệ sĩ ngôn từ là tóm được mau
lẹ những nét thô kệch có tính đặc trưng trên diện mạo và bộ dạng của nhân
vật rồi phóng đại lên cho càng trở nên “phản mỹ thuật” hơn nữa. Để thô kệch
23
hóa nhân vật thì không gì hơn là tô đậm phần thân xác cho lấn át phần hồn,
tô đậm phần “con” cho che lấp phần “người” của các vai truyện. Không phải
ngẫu nhiên mà những nhân vật phản diện của ông, đặc biệt là những quan
ông, quan bà, những ông chủ, bà chủ tư sản, những cụ nghị, cụ hàn , …đều
đặc biệt to béo phì nộn. Nguyễn Công Hoan đã dày công sáng chế ra biết bao
ngôn từ gây ấn tượng mạnh, biết bao lối ví von so sánh độc đáo để tô đậm
những bức chân dung cụ thể”[ 29, tr. 148].
Trong một số sách phân tích những đoạn trích của Truyện Kiều và một số
sáng tác của Nam Cao ở trong trường phổ thông của một số tác giả đã nhắc
đến vấn đề miêu tả ngoại hình của nhân vật nhưng chỉ là những gợi mở rất
ngắn gọn và chưa sâu sắc đủ giúp cho giáo viên và học sinh chú ý so sánh
đặc trưng văn học trung đại –hiện đại, lại càng chưa hình thành những kiến
thức về đặc trưng loại hình của mỗi thời đại văn học cho các em.
Đề tài luận văn của chúng tôi trong khi kế thừa các kết quả nghiên cứu
của các nhà nghiên cứu, nhưng sẽ chủ yếu hướng đến việc so sánh để làm nổi
bật đặc trưng cơ bản về tư duy nghệ thuật của văn học trung đại và hiện đại
qua nghiên cứu riêng lĩnh vực miêu tả ngoại hình nhân vật của hai tác giả
tiêu biểu cho văn học trung đại (Nguyễn Du) và hiện đại (Nam Cao). Chúng
tôi sẽ không đi sâu vào tìm hiểu phong cách tác giả, không đi sâu đánh giá,
khen, chê tài năng nghệ thuật của mỗi tác giả, cũng không lấy mối quan hệ
giữa ngoại hình và tâm lý hay ngoại hình và tính cách để xem xét việc miêu
tả ngoại hình nhân vật của họ. Điều chúng tôi hướng đến là làm nổi bật đặc
trưng loại hình văn học trung đại và loại hình văn học hiện đại qua việc miêu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status