Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật trong truyện ngắn anton paplovich sekhov (LV00941) - Pdf 33

Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO
TRƯờNG ĐạI HọC SƯ PHạM Hà NộI 2

nguyễn hữu bản

nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật
trong truyện ngắn
Anton Paplovich Sekhov

LUậN VĂN THạC Sĩ ngôn ngữ và văn hóa việt nam

Hà nội, 2013


Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO
TRƯờNG ĐạI HọC SƯ PHạM Hà NộI 2

nguyễn hữu bản

nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật
trong truyện ngắn
Anton Paplovich Sekhov
Chuyờn ngnh: Lớ lun vn hc
Mó s: 60 22 01 20

LUậN VĂN THạC Sĩ ngôn ngữ và văn hóa việt nam
Ngi hng dn khoa hc: PGS. TS. Trng ng Dung

Hà nội, 2013




MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

1

1. Lí do chọn đề tài

1

2. Lịch sử vấn đề

2

3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu

7

4. Phương pháp nghiên cứu

8

5. Đóng góp của luận văn

8

6. Cấu trúc của luận văn

9


17

XIX đầu thế kỉ XX
1.2.1.2. Sekhov - Nhà cách tân nghệ thuật Nga

19

2.2.2. Sáng tác của Sekhov ở Việt Nam

31

Chương 2: NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ TÂM LÍ NHÂN VẬT THÔNG QUA
NGOẠI GIỚI TRONG TRUYỆN NGẮN ANTON PAPLOVICH SEKHOP

40

2.1. Phong cảnh thiên nhiên trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật trong

41

truyên ngắn Anton Paplovich Sekhov
2.1.1. Thiên nhiên trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của Anton

41

Paplovich Sekhov
2.1.2. Phong cảnh thiên nhiên trong sự đối sánh hòa hợp với tâm trạng nhân
vật

44


2.3.3. Các đồ vật

90

Chương 3: NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ TÂM LÍ NHÂN VẬT THÔNG QUA NGÔN

95

NGỮ VÀ CỐT TRUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN ANTON PAPLOVICH
SEKHOV

3.1. Nghệ thuật miêu tả tâm lí thông qua cốt truyện

95

3.1.1. Tính đa dạng của cốt truyện trong truyện ngắn Sekhov

95

3.1.2. Sự tương quan giữa nghệ thuật miêu tả tâm lí với cốt truyện

99

3.1.2.1. Diễn biến tâm lí, dòng tâm trạng - điểm tựa cốt truyện

99

3.1.2.2. Những kiểu tâm lí, tính cách điển hình - cơ sở của cốt truyện



KẾT LUẬN

133

TÀI LIỆU THAM KHẢO


1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1 Chỉ hoạt động văn học trong ngót một phần tư thế kỉ mà lại phải chống
chọi với bệnh tật trong hàng chục năm, Anton Paplovich Sekhov (1860- 1904) đã
trở thành nhà cách tân nghệ thuật kịch và bậc thầy truyện ngắn ở Nga và thế giới.
Hơn trăm năm qua, bạn đọc toàn cầu vẫn nồng nhiệt đón đọc truyện ngắn của ông.
Vậy bí mật nghệ thuật nào tạo nên sức hấp dẫn lâu bền trong sáng tác của Sekhov?
A. Sêkhov nói “Tất cả những gì tôi viết sẽ bị quên đi sau 5-10 năm, nhưng những
con đường do tôi khai phá sẽ nguyên vẹn và không bị xâm hại”[dẫn theo 43,tr.1].
Câu đầu tiên vừa là lời nói đùa vừa thể hiện thái độ khiêm tốn của nhà văn bậc thầy.
Câu thứ hai mang ý nghĩa rất sâu sắc và quan trọng. Sekhov coi mình là người khai
phá ra những con đường mới và chính ở đây ông nhìn thấy đóng góp của mình đối
với văn học. Đã hơn một thế kỉ nay, giới nghiên cứu phê bình không chỉ ở nước
Nga không ngừng nghiên cứu ông để nhận thức đầy đủ hơn, toàn diện chính xác
hơn về con người, phong cách nghệ thuật của ông.
1.2 Đánh giá cao đóng góp của Sekhov như một danh nhân văn hóa thế giới,
UNESCO tuyên bố năm 2004 - năm kỉ niệm 100 năm ngày mất của nhà văn “năm
Sekhov”. Ngay từ tháng giêng năm 2004 ở Nga và nhiều nước trên thế giới (trong
đó có Việt Nam), các cuộc hội thảo với quy mô lớn về cuộc đời và sáng tác của nhà
văn được tổ chức. Đặc biệt từ ngày 25 đến ngày 29 tháng 06 năm 2004 tại
Melikhovo đã diễn ra hội thảo khoa học quốc tế “Một thế kỉ sau Sekhov” với sự

theo đó những công trình nghiên cứu về ông cũng ngày một gia tăng, A.P. Sekhov
được nghiên cứu nhiều ở nước ngoài. Do hạn chế về tư liệu và trình độ ngoại ngữ
nên tác giả luận văn chỉ có điều kiện khảo sát một số công trình nghiên cứu trên
những tài liệu bằng tiếng Nga đã được dịch sang tiếng Việt và những công trình
nghiên cứu của người Việt về Sekhov.
2.1. Tình hình nghiên cứu Sekhov qua nguồn tư liệu tiếng Nga được dịch
sang tiếng Việt.
Gorki- con chim báo bão của dòng văn học hiện thực Nga- Xô Viết đã dành
nhiều trang đầy tâm huyết về Sekhov trong cuốn Gorki bàn về văn học (tập 2), phần


thư từ, nhà văn đã viết rất nhiều bức thư xúc động gửi Sekhov. Trong bức thư khá
dài viết sau ngày 17 tháng giêng năm 1890, Gorki đánh giá về truyện ngắn Sekhov
như sau: “với những truyện ngắn con con của anh, anh đang làm một sự nhiệp vĩ
đại thức tỉnh trong lòng con người lòng kinh tởm đối với cuộc sống tẻ nhạt, cái cuộc
sống chẳng khác cuộc sống cái chết mỗi này”[19]. Có thể nói đó là những lời đánh
giá đầy tâm huyết mà Gorki dành cho Sekhov, nhà văn đã theo dõi bước đi của
Sekhov từ khi còn nhỏ, lúc đó Sekhov viết những truyện ngắn khôi hài cho các tờ
“Đồng hồ báo thức”, “Chuyện vặt”… để kiếm sống mà chưa được nhiều người biết
đến. Cho đến 20 năm sau, cậu bé Aliosa Pescop trở thành nhà văn danh tiếng, lúc ấy
M. Gorki đã xúc động trước cửa nhà Sekhov hồi hộp chờ đợi giây phút sẽ tận mắt
được nhìn thấy gương mặt con người mà ông đã ấp ủ trong tim suốt những tháng
năm vất vả đầy gian truân của cuộc đời mình. Trong cuốn Gorki bàn về văn học
(Tập I), nhân một truyện ngắn mới xuất bản của Sekhov “Trong khe núi”(1900)
Gorki đã đưa ra những suy nghĩ, nhận định rất sâu sắc về truyện ngắn này “cái sức
mạnh khủng khiếp của tài năng Sekhov chính là ở chỗ ông không bao giờ tự bịa đặt
ra một cái gì, không bao giờ miêu tả một cái gì không có trên đời này, tuy có thể là
tốt đẹp, có thể là đáng mong ước”[18]. Đó chính là tính chân thật, giá trị hiện thực
trong truyện ngắn Sekhov. “Vấn đề ở chỗ mỗi truyện ngắn mới của Sekhov đều
tăng cường thêm một âm hưởng quí giá vô ngần và tối cần thiết đối với chúng ta âm hưởng của một tâm hồn lành mạnh và yêu đời”[18].

tới tiến trình văn học thế giới. Về sáng tác của ông đã có khá nhiều công trình, luận
văn, luận án đề cập đến và cũng xuất hiện trong các sách giáo trình ở trường Đại
học.
Có thể nói, so với nhiều nhà văn nước ngoài, Sekhov và những tác phẩm của
ông đến với bạn đọc Việt Nam khá sớm. Tác giả Trần Thị Quỳnh Nga cho biết: vào
những năm 40 của thế kỉ XX một số truyện Sekhov đã được dịch sang tiếng Việt
như: Nỗi lòng ai tỏ, Tuổi già. Theo nhà văn Nguyễn Tuân thì ngay từ lúc mới xây
dựng chính quyền cách mạng, năm 1946, ở Việt Nam đã xuất hiện bản dịch Cái
chết của một viên chức. Sau đó, một số tác phẩm của Sekhov đã đến tay độc giả


Việt Nam, lúc đầu qua các bản dịch từ tiếng Pháp, tiếng Anh, sau là các bản dịch từ
tiếng Nga.
Nguyễn Tuân trong cuốn Bàn về văn học nghệ thuật đã có những cảm tưởng,
suy nghĩ đánh giá sau khi đọc Sekhov. Nguyễn Tuân đã đề cập đến chất thơ của văn
xuôi trong truyện ngắn của Sekhov, bàn về thái độ và cách phản ánh hiện thực của
người cầm bút. Đây là nhà văn – nhà nghiên cứu đã có những nhận xét rất đắt về
Sekhop: “Sekhov là con nước Nga xưa. Sekhov là con diều sáo vĩ đại trên đôi cánh
âm vang tiếng nói hiện thực và nhịp thơ của lãng mạn. Sekhov là bậc thầy của tiếng
Nga. Sekhov là một văn hào tên tuổi chói sáng trong lâu đài của chủ nghĩa nhân
đạo”[76, tr.240].
Ở bài Những chuyển biến của tư duy nghệ thuật trong văn xuôi Nga cuối thế
kỉ XIX đầu thế kỉ XX (Tạp chí Văn học số 11/1997) tác giả Nguyễn Hải Hà khẳng
định “khám phám nghệ thuật của Sekhov chính là tiếng nói bên trong mạch ngầm
văn học, chuyển đạt sang nội tâm qua nhân vật chứ không trực tiếp từ tác giả”[22].
Ngoài ra còn một số bài giới thiệu trong các tuyển tập về Sekhov như bài của
Vương Trí Nhàn, Phan Hồng Giang, Trần Thị quỳnh Nga… các bài viết này đã đưa
ra những nhận xét chung về đặc điểm truyện ngắn Sekhov.
Tác giả Vương Trí Nhàn trong lời giới thiệu Tuyển tập truyện ngắn của
Sekhov bàn về chất nhân bản trong truyện ngắn của nhà văn. Theo tác giả “chủ

ngọc” còn ẩn giấu trong truyện ngắn Sekhov.
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
3.1 Mục đích nghiên cứu: Mục đích chính của luận văn là sẽ nghiên cứu
những đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật trong truyện ngắn Sekhov ở
một số phương diện cơ bản nhất.
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Trong luận văn chúng tôi tập trung nghiên cứu ở
các phương diện: nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, cốt truyện, nghệ thuật miêu tả thiên
nhiên và kết cấu không gian thời gian...
3.3 Phạm vi nghiên cứu: Do hạn chế về tư liệu, chúng tôi sẽ khảo sát các
truyện ngắn của của ông trong các tập sau:


Sekhov truyện ngắn (Phan Hồng Giang, Cao Xuân Hạo dịch), Nhà xuất bản
Văn học, Hà Nội 1997
Sekhov – tuyển tập truyện ngắn (Phan Hồng Giang dịch), Nhà xuất bản Văn
học, Hà Nội 1994
Anton Sekhov – tuyển tập tác phẩm (Nhiều người dịch, Vương Trí Nhàn giới
thiệu và tuyển chọn), Nhà xuất bản Văn học, Trung tâm văn hóa – ngôn ngữ Đông
Tây, Hà Nội 1999
Anton Sekhov( Lê Huy Bắc biên soạn) Nhà xuất bản văn học, Hà Nội 1999
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được triển khai theo phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp kết
hợp một số thao tác chứng minh, đối chiếu, so sánh để làm nổi bật vấn đề. Ngoài ra
để làm nổi bật “hình vóc văn chương” của Sekhov với thế giới, chúng tôi đặt hoàn
cảnh ra đời và thời điểm xuất hiện tác phẩm trong tiến trình chung của của văn học
Nga và thế giới, đối chiếu và so sánh tác phẩm của ông với một số sáng tác của một
số nhà văn khác.
Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng các kiến thức liên ngành: hệ thống lí thuyến
về tự sự học, thi pháp học… để tìm hiểu nghệ thuật miêu tả tâm lí trong truyện ngắn
của sekhov.

PAPLOVICH SEKHOV VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HỌC NGA VÀ VIỆT NAM
1.1. Vấn đề miêu tả tâm lí trong văn học
1.1.1. Vai trò miêu tả tâm lí trong văn học
Đời sống tinh thần, thế giới tâm tư, tình cảm của con người là lĩnh vực đầy bí
hiểm, luôn thu hút sự chú ý, khám phá của nhiều ngành khoa học như triết học, tâm
lí học, tâm thần học và văn học. Theo định nghĩa của các từ điển thì “tâm lí là ý
nghĩ tình cảm... làm thành đời sống nội tâm, thế giới bên trong của con người” (Từ
điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 1997) và “tâm lí bao gồm tất cả các hiện tượng tinh
thần xảy ra trong đầu óc của con người” (Tâm lí học đại cương, Tài liệu của ĐHSP
Thái Nguyên, 2000). Như vậy, tâm lí thuộc lĩnh vực nội tâm, không nhìn thấy trực
tiếp, nhưng lại là yếu tố quan trọng tạo nên nhân cách của con người.
Văn học là một loại hình nghệ thuật phản ánh cuộc sống bằng hình tượng.
Do dó, nhà văn không chỉ vẽ những bức tranh về đời sống con người mà còn đi sâu
vào đời sống tâm hồn với mọi khía cạnh tư tưởng, tình cảm phức tạp của nó. Muốn
hiểu được đời sống tâm hồn con người trước tiên phải biết rằng việc thể hiện tâm lí
nhân vật phải được nhìn trong trạng thái biện chứng. C. Mác cho rằng “trong tính
hiện thực của nó, bản chất của con người là toàn bộ những quan hệ xã hội”[45,
tr.654]. Nhà nghiên cứu G.P Pospelov khẳng định “thể hiện tâm lí là phương thức
quan trọng nhất để chiếm lĩnh đời sống con người bằng nghệ thuật”[61, tr.24].
Nhân vật có tâm lí như một con người có đầy đủ cả tâm hồn và thể xác. Chiều sâu
tâm lí nhân vật càng biểu hiện chi tiết chân thực bao nhiêu thì bức tranh hiện thực
xã hội càng được phản ánh mạnh mẽ và sắc nét bấy nhiêu. Bằng tài năng miêu tả
tâm lí nhân vật nhà văn không chỉ cho người đọc thấy được chân dung của một con
người mà còn thấy được cả môt bức tranh thu nhỏ của hiện thực đời sống xã hội.
Trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật Secnưepky nhận định: “phân tích
tâm lí là một trong những đặc điểm quan trọng nhất tạo nên sức mạnh của thiên tài


nghệ thuật”[dẫn theo 40, tr.184] và “ở đâu mà không hiểu biết về tâm hồn con
người thì ở đó không có nghệ thuật”[ dẫn theo 40, tr.184]. Nhiệm vụ của người

khắc họa “cận cảnh”, được thể hiện một cách thống thiết nhưng không có sự đa
diện, phức tạp không có biện chứng tình cảm ở đây. Trong sử thi của Homer với
tính định hướng và tính tạo hình tối đa in đậm dấu vết của một loại tình cảm được
đẩy tới đỉnh điểm và độ sáng rõ trong tâm lí con người.
Nhận xét về sử thi Hi Lạp, nhà nghiên cứu M. Bakhtin cho rằng: “ con người
của Homer hoàn toàn hiện ra bề ngoài chưa có con người bên trong, con người cho
mình. Họ thể hiện tình cảm riêng một cách lộ liễu, ồn ào”[6, tr.284]. Các tác giả
khi xây dựng tính cách nhân vật không chú ý tới thế giới nội tâm, đối với họ người
anh hùng phải là “con người trọn vẹn không uẩn khúc” (Beilinxki), luôn hành động
một cách vô tư vì lợi ích tối thượng của cộng đồng.
Đến thời kì phục hưng là thời kì rực rỡ của lịch sử nhân loại. Nó đánh dấu
một bước ngoặt trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Engels coi đó “bước ngoặt tiến
bộ vĩ đại nhất từ trước tới nay của lịch sử nhân loại” là “thời đại khổng lồ”. Thời kì
này với sự phát triển của chủ nghĩa nhân văn (Humanism) coi “con người là kiểu
mẫu và kích thước để đo lường vạn vật” ( Prôtagôrax) hoặc “kì diệu thay là con
người. Nó cao quý làm sao về mặt lí trí. Nó vô tận làm sao về mặt năng khiếu. Về
hình dong và dáng điệu nó mới giàu ý nghĩa và đáng chiêm ngưỡng biết bao. Về
hành động nó khác nào thượng đế. Thật là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn
loài” (Hamlet - Shakespeare). Nên nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật cũng có
những bước tiến dài so với thời kì văn học trước đó.
Lấy “con người làm trung tâm”, các nhà văn thời kì phục hưng thường đặt
nhân vật vào một chuỗi những tình huống mâu thuẫn, do đó mà toàn bộ tính cách
của nó được bộc lộ ra hết, bản chất của nó cũng được phơi bày rõ rệt. Trong khi xây
dựng nhân vật nhà văn rất chú ý đến việc mổ xẻ, phân tích quá trình diễn biến tâm lí
trước mỗi tình huống nhân vật gặp phải. Nhà văn quan tâm mô tả không phải chỉ
“cái việc mà nhân vật làm” mà đến cả “cái cách mà nhân vật làm” nữa. Chính nhờ
vậy mà nhân vật thời kì này được cá tính hóa cao độ. Trong cái thế giới nhân vật
đông đúc mà nhà văn tạo ra, mỗi nhân vật là một cá thể xác định, là “con người




khuôn theo ý định chủ quan của tác giả. Hoàn cảnh cũng không góp phần bộc lộ sự
phát triển của đời sống tâm lí nhân vật. Trong các tác phẩm lãng mạn nhân vật biến
thành cái “loa” phát ngôn trực tiếp cho những suy nghĩ, những cảm xúc chủ quan
của tác giả. Hay nói như Biêlinxki nhân vật biến thành một thứ “chân dung tác giả”,
còn V. Huy gô cho rằng “chỉ có lí tưởng và chân lí của nó, còn thực tại biết bao tầm
thường, nhạt nhẽo”.
Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật chỉ thực sự phát triển và đạt được thành
tựu rực rỡ ở chủ nghĩa hiện thực. Trên cơ sở tiếp thu và phát triển văn học thời kì
trước, chủ nghĩa hiện thực đòi hỏi phải điển hình hóa trong tác phẩm. Engels cho
rằng: “theo tôi chủ nghĩa hiện thực đòi hỏi phải điển hình hóa trong hoàn cảnh điển
hình”[46, tr.383-384]. Do yêu cầu đó, đã có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa tính
cách và hoàn cảnh và giữa các tính cách với nhau. Đó chính là những mối quan hệ
phong phú giữa tính cách và hiện thực, tạo nên yêu cầu mô tả tính đa dạng nhiều
màu, nhiều vẻ của tính cách. Các nhà văn hiện thực đã miêu tả nhân vật trong
những bình diện khác nhau và từ đó phát hiện ra thế giới nội tâm phong phú của
nhân vật.
Lĩnh vực tâm lí có nhiều hình thức khác nhau. Đặc điểm nổi bật trong sáng
tác của Đôtxtôiepxki, L. Tônxtôi , Sôlôkhov ... đó là chủ nghĩa tâm lí sáng rõ, trực
diện. Bên cạnh đó các nhà văn thời kì này còn dựa trên các thủ pháp khác để chiếm
lĩnh thế giới nội tâm con người. “Việc khắc họa nhân vật tính cách, việc miêu tả tâm
lí, cá tính đóng vai trò cực kì quan trọng”[75, tr.86].
Việc miêu tả tâm lí nhân vật có thể thực hiện theo nhiều hướng, L. Tônxtôi
“quan tâm nhiều hơn hết đến chính quá trình tâm lí, những hình thức những quy
luật của nó, phép biện chứng tâm hồn”[22, tr.78-79]. Đôtxtôiepxki phân tích tài tình
tâm lí nhân vật trong những giây phút khủng hoảng và đột biến, khi nó bị xô vào
cơn lốc dữ dội của những dục vọng. Theo Bakhtin, đặc điểm nghệ thuật nổi bật
trong tiểu thuyết của Đôtxtôiepxki đó là sự ý thức của nhân vật- nhà tư tưởng, được
khắc họa không giống con người trong cuộc sống, mà là chủ thể ý thức và mơ mộng
“ẩn nấp dưới “tầng ngầm”: điểm nhìn của tác giả chuyển sang ý thức của nhân vật

Điều này sẽ được tác giả luận văn trình bày kĩ hơn ở phần tiếp theo của luận văn.


Như vậy, thể hiện tâm lí trong văn học có một quá trình phát triển lâu dài
trong sự kế thừa của nhiều trào lưu văn học, nhiều thế hệ nhà văn. Nhưng phải đến
phương pháp sáng tác hiện thực thì mới đạt được những thành tựu nổi bật gọi là
“chủ nghĩa hiện thực tâm lí”.
1.2. Sáng tác của A.P Sekhov với văn học Nga và Việt Nam
1.2.1. Sáng tác của Sekhov với văn học Nga
1.2.1.1. Khái quát bối cảnh lịch sử và văn học nghệ thuật Nga cuối thế kỉ
XIX đầu thế kỉ XX
Xét về mặt lịch sử - xã hội, đây là giai đoạn cực kì phức tạp và đầy hiểm họa
của nước Nga. Đó là giai đoạn “rối ren nhất, giao thời nhất và khốc liệt nhất” như
nhận định của Đôxtôiepxki, một giai đoạn trong đó “tất cả đều đảo lộn và mới chỉ
đang được sắp xếp” như L. Tôixtôi nói qua lời một nhân vật trong Anna Karenina,
một giai đoạn khi: “ Cuộc sống lửng lơ tại thời điểm chết và tình trạng mù mờ này
đè nặng lên tâm trạng chung” (V. Korolenco)[22, tr.95]. Sau khi thất bại trong cuộc
chiến tranh Crưm (1854- 1856) nước Nga càng ngày lún sâu vào các cuộc khủng
hoảng không thể cứu vãn. Những khó khăn do các cuộc khởi nghĩa của nông dân,
do sự suy sụp về kinh tế, do những thất bại về quân sự... đã buộc Nga hoàng phải
tiến hành cải cách từ trên xuống. Ngày 19-02-1861 Nga hoàng ra sắc lệnh bãi bỏ
chế độ nông nô, giải phóng hàng chục triệu người. Tuy nhiên, thực chất đây là một
cuộc cải cách không triệt để. Chính giai cấp phong kiến thống trị đã cấu kết với giai
cấp tư sản nhằm lẩn tránh sự bạo động của quần chúng và bóp chết cả ý thức xã hội.
Pôbedônôxep, viên cận thần của Nicolai đã tâu lên vua rằng “vào các thời kì gay go
này đối với chính phủ cần nhất là làm dịu đi các đầu óc, phải đè nén tư tưởng xã
hội... Nhưng tiếc rằng chẳng ai làm cái việc cần thiết đó với một bàn tay cứng
rắn”[41, tr.6].
Cũng trong thời gian này, vào những năm 80 của thế kỉ XIX , chủ nghĩa
Mác đã được truyền bá vào Nga bên cạnh sự lớn mạnh của giai cấp công nhân. Sang

nghiệm, chủ nghĩa tự nhiên, khuynh hướng xã hội cực đoan của dòng văn học và
phê bình dân túy chiếm lĩnh văn đàn, vừa như tìm kiếm những con đường mới cho
nghệ thuật. Phá vỡ ranh giới của chủ nghĩa hiện thực cổ điển tự tạo cho mình mô


hình thẩm mĩ khác mà mẫu số chung là “cái nhìn thế giới mới” của một thời đại
mới, bằng các sáng tác của mình, Sekhov là người có công mở ra con đường văn
học rộng lớn cho văn học Nga và thế giới.
1.2.1.2. Sekhov - Nhà cách tân nghệ thuật Nga
Sekhov và những sáng tác của ông là một điều bí ẩn đối với giới phê bình
Nga trong một thời gian dài. Chính vì thế tài năng của ông không phải được khẳng
định và chào đón rộng rãi ngay từ đầu. Tiếp nhận Sekhov ở Nga là một quá trình
lĩnh hội với nhiều khuynh hướng khác nhau.
Trước tiên là giới phê bình dân túy mà đại diện là Mikhailôpxki. Suốt trong
một thời gian dài Mikhailôpxki không hài lòng với cách nhà văn xây dựng cốt
truyện, cách nhà văn “ bỏ mặc nhân vật của mình trong những giờ kịch biến nhất”
và phê phán Sekhov “không có tư tưởng”, “không có mục đích”, “dạo chơi bên cuộc
đời và khi đi dạo ấy ông túm lấy khi là cái này khi thì cái kia”, “bất kì cái gì lọt vào
mắt ông đều mô tả bằng dòng máu lạnh” như nhau. Mikhailôpxki coi Sekhov là “ca
sĩ của những người cau có”. “nhà văn phi lí tưởng”, “ý tưởng hóa sự thiếu lí
tưởng”. Tuy nhiên, về sau cách đánh giá của Mikhailôpxki có khác, ông khen
Sekhov là “ một người tài năng, tài năng của ông ấy thật độc đáo và dễ thương”
[dẫn theo 43, tr.7].
Từ phía các nhà nghiên cứu theo các khuynh hướng khác, lời phê phán
Sekhov và sáng tác của ông cũng không kém phần “nóng nảy”, Đ.X Mêrêgiơcôpxki
khó chịu vì nhà văn quá chú ý đến những tình tiết vặt vãnh đời thường, “hòa tan”
nhân vật vào trong môi trường bao quanh anh ta và cho rằng nhân vật yêu thích nhất
của Sekhov là “nhân vật - con người thất bại”, là “người tri thức sa đọa” [dẫn theo
43, tr.8]. Còn L. Sestôp gọi Sekhov là “ca sĩ của sự tuyệt vọng”, cho rằng với những
sáng tác của mình nhà văn đã “giết chết niềm hi vọng của con người”[dẫn theo 43,

người lớn lao, thông minh”, mong muốn dùng văn chương thức tỉnh mọi người
đang kéo lê cuộc sống tồi tệ và buồn tẻ.
Cùng với sự đồng thuận và yêu mến của các cây “đại thụ” trong văn học kỉ
nguyên bạc, Sekhov không khỏi bị ảnh hưởng những kinh nghiệm nghệ thuật của
các bậc tiền bối như Puskin, Lermôntô, Gôgôl, Turghenev, Đôxtôiepxki, Tônxtôi,


Ostrôvski... cũng như những thành tựu nghệ thuật và triết học hiện đại mà ông tiếp
nhận được. Cái mới mà Sekhov đem vào văn học không nảy sinh trên miếng đất
trống, nói cách khác ông đã đổi mới những thành tựu mà các bậc tiền bối vĩ đại đã
đạt được. Và sự đổi mới này không phải là sự kết hợp đơn giản, cơ học những yếu
tố truyền thống và hiện đại nói như nhà nghiên cứu Đào Tuấn Ảnh nó giống như
“sau một phản ứng sinh hóa phức tạp, chúng ta nhận được một hợp chất hoàn toàn
mới mẻ từ những thành phần quen biết”[2].
Nối gót các nhà văn chân chính, Sekhov đã dũng cảm đi theo con đường
khám phá sự thật, vươn tới cái đẹp gập ghềnh, đầy chông gai. Nét nổi bật trong sáng
tác của Sekhov là khả năng nắm bắt bao quát cuộc sống cùng với các nguyên tắc
nghệ thuật của ông. Nhiều tác phẩm của Sekhov đã vượt khỏi biên giới rạch ròi về
thể loại và tỏ ra độc lập hơn đối với các lớp văn bản cổ điển. Tiểu biểu như Những
truyện ngắn sặc sỡ (1886), Vợ kịch vui và đặc biệt là truyện vừa Thảo nguyên.
Sekhov cho rằng trong Thảo nguyên “Mỗi chương riêng rẽ tạo ra một truyện ngắn
đặc biệt”, toàn truyện là “bản liệt kê chi tiết các ấn tượng”, “cuốn bách khoa thư về
thảo nguyên”. Bức tranh thảo nguyên của Sekhov được vẽ bằng bảng màu phong
phú, bút pháp đa dạng - bút pháp hiện thực pha lẫn nghệ thuật tượng trưng và ấn
tượng.
Nhận xét quan trọng này giúp chúng ta thấy được vai trò của nghệ thuật hiện
đại trong việc xác lập những nguyên tắc nghệ thuật chủ đạo của nhà văn: tính cô
đọng, nguyên tắc “im lặng”, tính khách quan không chứng minh, thuyết giảng,
mạch ngầm văn bản nổi tiếng trong văn xuôi Sekhov, thứ văn xuôi tin cậy vào khả
năng đồng sáng tạo của độc giả đã trưởng thành trong hơn một thế kỉ phát triển gấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status