Cách đặt tên nhân vật trong truyện ngắn nam cao - Pdf 30

Nhóm 5 – Tiết 8.9.10
CÁCH ĐẶT TÊN NHÂN VẬT TRONG
TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO
I. Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Cơ sở lý luận
Ðối tượng chung của văn học là cuộc đời nhưng trong đó con
người luôn giữ vị trí trung tâm. Những sự kiện kinh tế, chính trị,
xã hội, những bức tranh thiên nhiên, những lời bình luận đều góp
phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho tác phẩm nhưng cái
quyết định chất lượng tác phẩm văn học chính là việc xây dựng
nhân vật. Ðọc một tác phẩm, cái đọng lại sâu sắc nhất trong tâm
hồn người đọc thường là số phận, tình cảm, cảm xúc, suy tư của
những con người được nhà văn thể hiện. Vì vậy, Tô Hoài đã có lí
khi cho rằng "Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải
quyết hết thảy trong một sáng tác".
Nhân vật là “đứa con tinh thần” của nhà văn, được nhà văn hoài
công, hoài sức “ thai nghén” . Việc đặt tên cho “đứa con tinh thần”
ấy ít nhiều đều thể hiện suy tưởng của nhà văn, thể hiện chủ đề tác
phẩm gợi ra phong cách, trào lưu văn học của thời đại. Vậy nên
yếu tố tên nhân vật là một vấn đề cần thiết nghiên cứu để tiếp cận
gần hơn với tác phẩm.
1.2 Cơ sở thực tế
1.2.1 Vị Trí của Nam cao trên văn đàn
Nam Cao (1915 – 1951) tên thật là Trần Hữu Tri, quê ở làng
Đại Hoàng, nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Nam Hà.
Nam Cao bắt đầu viết từ năm 1936 ở nhiều thể loại. Ông thể
hiện rõ tài năng độc đáo và xác định chắc chắn vị trí của
mình trong nền văn học dân tộc với nhiều Tác phẩm mang
màu sắc riêng . Đó là kho tàng thuận lợi đối với quá trình
tiếp cận tác phẩm của ông.

Cách đặt tên nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao
Nhóm 5 – Tiết 8.9.10

Ngoài ra:
- Các bài nhận xét, phê bình.
- Tìm hiểu các đnáh giá của các giáo sư, nhà văn có tên tuổi Hà
Minh Đức, Tô Hoài.
- Sử dụng nguồn Internet để khai thác các vấn đề liên quan.
2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
2.2.1. Tập hợp các vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài
2.2.2. Khảo sát, thống kê, phân loại các cách đặt tên nhân vật
trong một số tác phẩm của Nam Cao
2.2.3. Phân tích, đánh giá các cách đặt tên nhân vật để thấy được
vai trò định hướng, hiệu quả nghệ thuật của tên nhân vật trong
một số tác phẩm của Nam Cao
II. Nội dung
1. Ngắn gọn cơ sở lý luận
1.1 Đinh nghĩa về nhân vật trong tác phẩm văn học
Nhân vật trong tác phẩm văn học là một hiện tượng nghệ thuật
mang tính ước lệ. Đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi
tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện của con người
qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách,
”.
(Hà Minh Đức)
3
Cách đặt tên nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao
Nhóm 5 – Tiết 8.9.10
1.2 Vai trò của nhân vật văn học
1.2.1 Với nhà văn
Nhân vật là đứa con tinh thần. Là sản phẩm của trí tuệ. Thông

miêu tả, khẳng định, đề cao trong tác phẩm theo một
quan điểm tư tưởng, một lý tưởng xã hội – thẩm mĩ
nhất định (tr 227)
1.3.2.2 Nhân vật phản diện ( nhân vật tiêu cực): Nhân vật văn
học mang những phẩm chất xấu xa, trái với đạo lý và
lý tưởng con người, được nhà văn miêu tả trong tác
phẩm với thái độ chế giễu, lên án, phủ định.
1.3.3 Nhân vật khác
Các nhân vật như: nhân vật chức năng, nhân vật loại hình,
nhân vật tính cách, tư tưởng Chúng tôi không đi sâu tìm hiểu
bởi không hoàn toàn cần thiết đối với quá trình nghiên cứu đề
tài.
1.4 Các cách đặt tên nhân vật
Chúng tôi sử dụng các cách thức đã được các nhà nghê thuật các
thời đại sử dụng. Ngoài ra, theo nhận định cá nhân, chúng tôi có đưa
ra một số cách đặt tên khác để tiến hành đánh giá với những nhân
vật có tên cụ thể và nhân vật có tên đặc biệt.
1.4.1 Tên nhân vật thể hiện đặc điểm tính cách nhân vật.
1.4.2 Tên nhân vật thể hiện số phận và cuộc đời nhân vật.
1.1.3 Tên nhân vật thể hiện chủ đề, tư tưởng tác phẩm
1.4.4 Tên nhân vật đặt bằng đặc điểm nghề nghiệp
1.4.5 Tên nhân vật đặt bằng chữ cái
1.4.6 Tên nhân vật thể hiện thứ bậc địa vị xã hội.
1.4.6 Tên nhân vật đặt bằng tên con vật
5
Cách đặt tên nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao
Nhóm 5 – Tiết 8.9.10
1.4.7 Tên nhân vật đặt bằng đặc điểm hình dán
2. Kết quả thống kê, phân loại
2.1 Phương pháp.

Chí Phèo, Lão hạc, Tư cách mõ, Mò sâm panh
Đời thừa, Đui mù, truyện tình
Trí thức nghèo
Đôi mắt
2.2.2 Lập bảng số liệu và nhận xét
Thông qua các tiêu chí phân loại cách đặt tên nhân vật như ở
phần 1.4 và qua phân luồng các tác phẩm tiêu biểu của Nam
Cao, chúng tôi đã tiến hành phân tích, chứng minh và thu được
kết quả và thể hiện qua bảng số liệu sau:
2.2.2.1 Bảng số liệu
7
Cách đặt tên nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao
Nhóm 5 – Tiết 8.9.10
Tên phiếu Số lượng Tỉ lệ %
Tên nhân vật thể hiện đặc
điểm tính cách nhân vật
6 40%
Tên nhân vật thể hiện đặc
điểm số phận, cuộc đời
nhân vật
4 26,6%
Tên nhân vật thể hiện tư
tưởng, chủ đề tác phẩm
1 6,7%
Tên nhân vật gợi đặc điểm
nghề nghiệp
0 0%
Tên nhân vật đặt bằng chữ
cái
0 0%

đưa đánh giá.
- Chiếm 1% là tiêu chí tên nhân vật thể hiện nghề nghiệp, chức
vụ. Trong số lượng chúng tôi nghiên cứu, tiêu chí trên chỉ xuất
hiện 1 lần với nhân vật Ông Giáo trong tác phẩm Lão Hạc. Điều
này không chứng tỏ trong đại thể sáng tác của Nam cao, tên
nhân vật thể hiện chức vu nghề nghiệp là thiếu, là ít hay nhiều.
bởi với phạm vi nghiên cứu nhỏ hẹp trong 1 đề tài nhỏ hẹp
trong truyện ngắn là không thể chứng minh.
Tuy vậy, chúng tôi có rút ra nhận định như sau: tên nhân vật
thể hiện chức vụ, nghề nghiệp - Ông Giáo là tên dùng để chỉ cho
người trí thức nghèo. Khi chúng tôi tiến hành phân luồng
theo sơ đồ ở phần 2.2.1 chúng tôi có đề cập là: Ở mỗi đề tài,
hướng về hình mẫu riêng như nông dân, trí thức thì cách đặt
tên có thể có khả năng bị ảnh hưởng bởi thiên hướng cảm xúc
của tác giả . Với mỗi hình mẫu nhân vật theo giai cấp xã hội,
và ở mỗi giai đoạn sáng tác trước hay sau cách mạng tên nhân
vật có thể bộc lộ được quan điểm nghệ thuật riêng của tác giả,
và điều này có ảnh hưởng qua cách đặt tên nhân vật. Vậy nên
tên nhân vật thể hiện chức vụ nghề nghiệp có thể có khả năng
giúp người đọc nhận biết chủ đề, và từ cách tiếp cận chủ đề
thông qua tên nhân vật được nhắc tới ban đầu sẽ đưa người
đọc tới những kiến giải đúng đắn nhất trong quá trình tiếp cận
theo chủ đề trí thức hay nông dân trong sáng tác của Nam cao,
và từ đó cũng có khả năng đi sâu khám phá những quan niệm
nhân sịnh, triết học trong tư tưởng nhà văn
- Các tiêu chí chiếm mức độ trung bình như: Tên nhân vật đặt
bằng tên đồ vật, con vật, Tên nhân vật đặt bằng đặc điểm hình
dáng , qua phân tích số liệu trên, chúng tôi nhận thấy: Nam Cao
là nhà văn luôn chau chuốt cho từng tác phẩm của mình , điều
này được thể hiện rất rõ qua cách đặt tên nhân vật- linh hồn

Giá như cuộc sống cứ mãi êm đềm như thế! Đang yên ổn thì một
sự cố ập đến. Chú bếp chẳng may đánh rơi chai sâm panh xuống
cái bể nước vừa sâu vừa rộng của nhà chủ mà không tài nào lấy
được. con trai chú là Tề nảy ra ý nghĩ tắm rửa xà phòng sạch sẽ để
nhào xuống bể mò sâm panh giúp cha. Đúng lúc ấy ông chủ về,
Chú bếp hốt hoảng, vì không muốn để ông chủ biết chuyện đang
diễn ra, chú ấp úng khiến ông chủ sinh nghi. Nhưng mối nghi ấy
vôn không có căn cứ vì chú Tư vốn sống thật thà, khép kín. Chú
được ông chủ giao việc đi lấy cái kính để quên, chú lập cập đi và
không quên vơ tay kéo cái nắp bể lại. không tìm được kính trở về,
10
Cách đặt tên nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao
Nhóm 5 – Tiết 8.9.10
chú tìm đứa con trai trong cái bể sâu hoắm, tối om, nhưng hỡi ôi,
mặt bể không một gợn sóng. Chỉ vì chai sâm panh con trai duy
nhất của chú đã phải chết. nhưng cái chết của thằng bé ở dây
không phải là sự bế tắc mà nó là chi tiết tưởng như không có gì,
là cái thở phào nhẹ nhõm cỉa ông bố, cái thở hắt ra ấy cho thấy
con người bị tha hóa, hèn mọn đến nỗi sợ hãi còn mạnh hơn tình
phụ tử. Ta nhận ra cái bi kịch của nhân vật được Nam Cao miêu
tả hết sức tinh vi. Nguyên nhân cái chết của đứa con là bí mật mà
chú bếp Tư sống để bụng, chết mang theo. Vì một chai sâm panh
mà đổi lấy mạng người, liệu có đáng?Có bao giờ sự sống của đứa
con lại chẳng quan trọng bằng nỗi sợ vô hình trong một người
cha? Xã hội rẻ rúng tới mức mà tình người bị coi nhẹ đến mức
thảm hại. Cái chết của người con, một cái chết lãng xẹt mà đầy
ám ảnh.
2.2.3.1.2Nhân vật “ Từ” trong tác Đời thừa
Từ: hiền từ, nhân từ.
Từ - người đàn bà bạc mệnh hiện ra trong những áng văn viết về

Trong tác phẩm của mình Nam Cao đã xây dựng thành công
nhân vật Hộ với những nét tiêu biểu cả về ngoại hình lẫn tính
cách. Ngay từ đầu truyện Hộ hiện lên với vẻ mặt đăm chiêu sáng
tạo, đôi lông mày nhíu lại, vầng trán cao và rộng, Hộ hăng say
sáng tác văn chương giống như bao nhà văn yêu nghề thực thụ
khác. Hơn thế, Hộ còn là một người đàn ông trượng nghĩa khi
dang tay cứu vớt Từ giữa lúc Từ bị phụ tình và đang mang trong
mình đứa con của người đàn ông khác. Ta nhận ra ở Hộ một sự
bao dung, vị tha hơn người, bởi ở vào cái thời ấy, việc Từ không
chồng mà chửa đã là cái sự to tát lắm, và hành động của Hộ
không chỉ cứu vớt danh dự của Từ, nó còn cứu sống mẹ con Từ
nữa. Hộ sống bằng nghề viết văn, Hộ yêu nghề, nghiêm túc và
sáng tạo không ngừng nghỉ ấy thế mà vẫn chỉ đủ ăn, nhưng từ
khi có thêm người mẹ già của Từ, cả Từ và những đứa con nối
tiếp ra đời thì cuộc sống càng khó khăn hơn. Hộ trọn nghĩa vẹn
tình với mẹ Từ, ma chay chu đáo khi bà qua đời, rồi chăm chút
con mọn bằng tình yêu thương chân thành nhất của người cha
đích thực. Hộ yêu văn chương, văn chương như là lẽ sống của
anh, anh từng mơ ước nhưng vì cơm áo, vì đàn con nheo nhóc,
Hộ không thể chọn lấy một trong hai con đường: hi sinh nghệ
thuật để làm một người chồng, người cha tốt, hoặc vì cái đẹp tối
thượng của nghệ thuật mà hi sinh phần con người, làm một con
người nhẫn tâm, vô trách nhiệm. Cả hai thứ trách nhiệm ở Hộ
12
Cách đặt tên nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao
Nhóm 5 – Tiết 8.9.10
đều được ý thức rất cao. Hộ không có quyền, và không thể chọn
lấy và hi sinh bất kỳ phần nào.
2.2.3.1.4 Trần Cừ- Trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao
Cừ: có nghĩa là giỏi

Cách đặt tên nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao
Nhóm 5 – Tiết 8.9.10
2.2.3.1.5 Nhân vật “Hài” trong Quên điều độ
Hài: hài hòa, điều độ
Trong “Quên điều độ” như phần giới thiệu ngay ở đầu tác
phẩm, nhân vật Hài “không phải là một người điều độ vì điều
độ” mà “vì bắt buộc”. Hắn phải sống hài hòa, điều độ một
cách dè sẻn nhất có thể. Từ lúc sinh ra, dường như số phận đã
an bài cho hắn phải sống trong hoàn cảnh ấy. Trong mọi mặt
của cuộc sống hắn lúc nào cũng phải biết cách tự điều độ. Hắn
phải dè sẻn cả sức khỏe bởi sinh ra, hắn đã có bệnh tim, lại bị
đau phổi nữa , hắn không thể làm gì nặng nhọc, bác sĩ cũng
khuyên Hài không được dạy học. Hài dè sẻn sức khỏe cũng là
để dè tiền, cái lối sống như vậy cứ thế thành một thói quen ở
y. Hài dè sẻn, điều độ ngay cả trong việc tiêu tiền cho bệnh tật
của mình “hắn chỉ chữa bệnh bằng nghệ sống, nước rau má
tía, bằng nước tiểu trẻ con”; hắn điều độ ngay cả trong ăn
uống để nuôi sống bản thân “ăn có chừng thôi, và chỉ ăn
rau không bao giờ uống rượu, chỉ toàn uống nước lã đun
sôi”; hắn điều độ ngay cả trong khoản giải trí cá nhân “không
đi xem hát, xem chớp bóng để thì giờ mà ngủ…không đi xe mà
chỉ đi bộ”…Nói cho cùng, hài không phải điều độ, hài lòng với
cuộc sống vốn có mà cuộc sống nghèo nàn bắt hắn phải sống
cuộc sống lúc nào cũng dè sẻn như vậy. Và vì không thể thay
đổi được thực tế khốn khó của mình, Hài đã dùng một phép
thắng lợi tinh thần là luôn tự an ủi mình “Người điều độ thật
là một người khôn ngoan”. Qua nhân vật Hài, Nam Cao thể
hiện sự thông cảm, sẻ chia đối với cuộc sống nghèo khổ, bế tắc
của người trí thức. Ở họ luôn canh cánh một nỗi lo cơm áo
gạo tiền mà nó đã ăn sâu vào máu, nó trở thành một lối sống “

cùng. Nỗi thống khổ đó không phải là không nhà, không cửa, không
cha không mẹ, không họ hàng thân thích; mà chính là Chí Phèo bị xã
hội vằm nát cả một mặt người, cướp đi linh hồn người, phải sống
kiếp sống tối tăm của con vật lạ. Đó chính là nỗi thống khổ của cá thể
sinh ra là người nhưng lại không được làm người và bị xã hội từ
chối, xua đuổi như loài ác ma, như loài quỷ dữ. Sau khi trở về từ nhà
tù, Chí Phèo không còn bản chất của một anh nông dân chăm chỉ làm
ăn, có ước mơ hoài bão nữa, hắn trở thành một kẻ lưu manh nát
rượu, một kẻ chuyên rạch mặt ăn vạ, khiến cả làng Vũ Đại ai ai cũng
căm ghét, sợ hắn, ghê tởm hắn Chẳng những thế mà Chí xuất hiện
ngay đầu tác phẩm trong cơn say với những tiếng chửi : “Hắn vừa đi
vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu chửi
trời, có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng
chẳng sao: Đời là tất cả nhưng cũng chẳng là ai. Tức mình hắn chửi
ngay tất cả làng Vũ Đại…” Dù say rượu đến điên khùng, Chí Phèo vẫn
15
Cách đặt tên nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao
Nhóm 5 – Tiết 8.9.10
như cảm nhận thấm thía "nông nỗi" khốn khổ của thân phận mình
.Đúng Tiếng chửi ấy không chỉ là lời của một tên bợm rượu khi đã
say mà đó còn là “lời bắt chuyện”, “van xin” kẻ khác nói chuyện với
mình, bởi nếu người ta chửi lại hắn cũng đồng nghĩa vẫn còn có
người coi hắn là con người. Nhưng trớ trêu thay, không ai thèm để ý
đến lời chửi của Chí, ai cũng cho rằng “chắc nó chừa mình ra”, khi ấy
Chí Phèo vô hình trở thành kẻ cặn bã của xã hội, xấu xa, đáng khi bỉ,
đáng bỏ đi như chính cái đoạn “phèo” của con lợn vậy.
2.2.3.2 Tên nhân vật thể hiện số phận, cuộc đời.
2.2.3.2.1 Nhân vật Lão hạc trong truyện ngắn “Lão Hạc”
Hạc: là loài chim chuyên kiếm ăn trên đồng
ruộng, bữa đói, bữa no.

lên cuộc đời , số phận của chính họ. Như con hạc kia , muốn bay
không cất nổi mình mà bay. Trong suốt cuộc đời , lão Hạc phải cắn
răng chịu đụng bao đau thương tủi nhục. Nếu có than thở thì tiếng
than thở của lão Hạc cũng không thể thấu tới trời xanh. Cái vòng
luẩn quẩn, nghiệt ngã của số phận trói buộc lão, lão khó bề thoát
khỏi. Dù có muốn vùng đậy để cắt đứt , phá vỡ , cố vượt qua những
xiềng xích , khó khăn thì cũng không đễ dàng gì. Lão Hạc cũng giống
như bao người nông dân nghèo khó , với cuộc sống cơ cực tối tăm
trước CMT8 , cũng như số phận con hạc , cuộc đời lão là muôn vàn
bất hạnh , vợ lão mất sớm ,con trai lão phẫn chí vì nghèo không lấy
được vợ bỏ đi đồn điền cao su, lão chỉ còn con chó Vàng kỉ vật của
con trai lão để lại . Vậy mà cùng lúc lão phải đối mặt với cái đói , tuổi
già , ốm đau , bệnh tật . cũng như những con hạc kia “ muốn bay
không cất nổi mình” , Lão Hạc cố gắng gượng , vùng vẫy trong sự
nghèo đói , bế tắc , ban đầu là “ luôn mấy hôm lão chỉ ăn khoai” “
khoai cũng hết , lão chế tạo được món gì ăn món đấy. Hôm thì lão ăn
củ chuối , hôm thì lão ăn sung luộc hôm thì ăn rau má với thỉnh
thoảng một vài củ ráy hay bữa trai bữa ốc ‘ rồi lão phải bán cậu
Vàng – con chó mà lão yêu quý nhất , trong sự đau khổ tột độ. Cũng “
không cất nổi mình mà bay” lão chọn cái chết, cái chết như của một
con vật , lão ăn bả chó, chết trong sự đau đớn dữ dội.
Đi vào khám phá và tìm hiểu tác phẩm , người đọc có thể hiểu vì sao
Nam Cao lại đặt tên cho nhân vật của mình là “ lão Hạc “ mà không
phải một cái tên khác, rõ ràng tên nhân vật đã thể hiện cuộc đời , số
phận nhân vật như một con vật mang trên mình bao gánh nặng khổ
17
Cách đặt tên nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao
Nhóm 5 – Tiết 8.9.10
đau . cả đời không thoát khỏi vòng xoáy của số phận trong xã hội vẫn
còn đầy rẫy tối tăm , cuộc đời , số phận con người không hơn con vật

Lộ không còn ý thức được phẩm giá của bản thân. Hắn lấy làm tự
hào, vênh váo, xấc láo đối với tất cả mọi người, khiến mọi người
khinh ghét, bỏ rơi hắn.
Như vậy, Lộ không chỉ là cái tên Nam Cao chọn dùng để gọi tên
cho nhân vật của mình mà Lộ còn cho ta thấy được cả một quá trình
tha hóa của 1 con người đi từ cái đẹp đến cái xấu xa nhất.
Khác với nhiều nhà văn cùng thời, Nam Cao nói về miếng ăn hơn
là về cái đói, nói về cái nhục hơn là về cái khổ. Một bữa no cũng là
chuyện miếng ăn.Tư cách mõ cũng là chuyện miếng ăn. Trẻ con
không biết ăn thịt chó, Sống mòn cũng là chuyện miếng ăn. Về điều
này GS Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận xét: “Nếu như ở các tác phẩm
của Ngô Tất Tố đằng sau miếng ăn là tiếng kêu cứu đói thì ở các tác
phẩm của Nam Cao lại là tiếng kêu cứu lấy nhân cách, nhân phẩm,
nhân tính của con người đang bị cái đói và miếng ăn làm cho tiêu
mòn đi, hủy diệt đi”.
2.2.3.2.3 Nhân vật “ Lang Rận” trong tác phẩm
Lang Rận
Rận: là con vật nhỏ bé, sống chui lủi kí sinh trên động vật
hoặc con người, bị con người ghê sợ.
Nhân vật “lang Rận “ trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao đã phần
nào thể hiện được số phận, cuộc đời của nhân vật này.“ rận” là loài côn
trùng nhỏ bé bám vào da của con người hay động vật , dùng cách hút
19
Cách đặt tên nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao
Nhóm 5 – Tiết 8.9.10
máu để sống . Môi trường sống của loài rận thường bẩn , ít được vệ
sinh… nhân vật lại được đặt tên theo loại côn trùng này đã gợi mở ra số
phận nhân vật , nhỏ bé, mang trên mình thân phận thấp kém, rẻ rúng,
bẩn thỉu .
“Lang Rận”, đường đường kẻ mang danh là thầy lang, một “ doctor” đi

Nhóm 5 – Tiết 8.9.10
tác phẩm mà chị hóa thân, cuộc đời của chị cũng được miêu tả bằng
những trang văn đượm buồn, đầy ám ảnh.
Câu chuyện xoay quanh cảnh nghèo túng của gia đình chị
Chuột. Chồng chị ốm nặng thuốc thang mãi vẫn chẳng thuyên giảm.
Chị Chuột thương chồng chạy vạy khắp nơi. Trong nhà chỉ còn một
chút gạo trắng, chị cũng dành nấu cơm nấu cháo cho chồng, mong
chồng chóng khỏi dù chị và con phải ăn rễ khoai, củ sắn thậm chí là
cả bát cháo cám đắng khét. Biết vợ và con đã khổ vì mình nhiều, anh
Chuột không chịu ăn cơm trắng, dành phần ấy cho mấy đứa con đói
nheo nhóc và vợ, còn anh sau nửa năm trời đổ bệnh anh đã muốn
buông xuôi để không là gánh nặng thêm cho vợ con. Anh bảo chị cầm
nót số tiền ít ỏi vừa bán hai buồng chuối non và con chó mực đi mua
gạo, trong lúc ấy anh Chuột ở nhà tìm cách kết liễu đời mình. Cùng
lúc đó tiếng bà Huyện siết nợ mớ gạo vừa mua của mẹ con chị Chuột
ngoài cổng, anh Chuột giận dữ đạp tung cái ghế treo cổ tự vẫn. Anh
Chuột giãy dụa đau đớn còn mẹ con chị Chuột thì gào khóc thảm
thiết.
Hiện lên trong tác phẩm của Nam Cao nhân vật “ đĩ Chuột” là người
vợ tảo tần, người mẹ hết lòng vì con nhưng lại gặp phải hoàn cảnh
sống éo le vô cùng. Ta nhận ra sự khắc khổ ngay từ cách ăn, nếp ở rồi
cái dáng vẻ rụt rè của chị khi lo láng cho sức khỏe của chồng. Rồi đây,
khi anh Chuột chết đi , cuộc sống của chị và những đứa con thơ dại sẽ
ra sao khi mà những món nợ và ngheo đói vẫn còn đó?Cuộc sống sẽ
leo lắt, dập duềnh, giống như cái tên của chị đã thể hiện tất cả. Xã hội
Việt Nam những năm trước cách mạng là những năm đen tối bùn
lầy, nó nhần chìm bao số phận con người đáng thương,cái nghèo, cái
đói giết chết ý chí, khát vọng sống để rồi người sống không nổi,
người chết không được yên mồ. Qua đây, Nam Cao không chỉ nói lên
tiếng nói đồng cảm mà còn gián tiêp tố cáo xã hội thực dân nửa

Lương tri của người trí thức nhạy cảm và giàu trắc ẩn, trong cái
xã hội mà đồng tiền mới là kẻ thống trị ấy thì tình người còn lại
chẳng la bao. Đồng tiền, bát gạo mới là nõi lo thường trực và day
dứt nhất và trong hòan cảnh đó, nhân vật trong truyện chỉ có thể
bất lực mà thốt lên rằng: “giá người ta vẫn có thể ghĩ đến mình
mà chẳng thiệt đến ai”. Trong cái xã hội ấy, người ta làm mọi thứ
vì tiền, gần nhau vì tiền, chà đạp lên nhau cũng vì tiền.
2.2.3.4 Tên nhân vật thể hiện chức vụ, thứ bậc
Nhân vật Ông Giáo trong Lão Hạc
Giáo: chỉ một nghề nghiệp.
22
Cách đặt tên nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao
Nhóm 5 – Tiết 8.9.10
“Ông Giáo” là cái tên được Nam Cao sử dụng để đặt cho nhân vật của
mình dựa vào chính nghề nghiệp mà nhân vật trong truyện đảm
nhiệm. “Nghề giáo” được mệnh danh là cái “nghề” cao quý nhất
trong những nghề cao quý, phải chăng vì như vậy nên Nam Cao đã cố
ý chỉ để cho Lão Hạc gọi người thầy giáo già kia là Ông Giáo chứ
không hề đặt cho nhân vật một cái tên rõ ràng cụ thể. Hai tiếng “ông
giáo” đã khẳng định vị thế của một con người giữa làng quê trước
năm 1945 “nhiều chữ nghĩa,nhiều lí luận,người ta kiêng nể”.Hai
tiếng “ông giáo” từ miệng Lão Hạc nói ra, lúc nào cũng đượm vẻ thân
tình, cung kính, trọng vọng : “Cậu Vàng đi đời rồi ông giáo
ạ!”…”Vâng,ông giáo dạy phải ! Đối với chúng mình thì thế là sung
sướng”…”Tôi cắn rơm, cắn cỏ tôi lạy ông giáo !”.
Để làm một người giáo viên tốt cần có nhiều thứ, nhưng hai thứ nhất
định không thể thiếu đó là kiến thức và đạo đức nghề nghiệp, Ông
Giáo trong truyện ngắn Lão Hạc là một người như thế, là một trí
thức có trái tim nhân hậu rất đáng quý.Ông là chỗ dựa tinh thần,là
niềm an ủi,tin cậy của Lão Hạc. Ông giáo là nơi để lão Hạc san sẻ bao

của hắn, hơn nữa cái đệm “Bá” trong “Bá Kiến” còn làm người ta liên
tưởng tới một con kiến to lớn, một con kiến chúa đầy quyền lực sai
khiến những con kiến nhỏ. Trong “Chí Phèo”, Bá Kiến đại diện cho
tầng lớp địa chủ trong làng Vũ Đại. “Cụ” là một trong những kẻ luôn
gây ra những mâu thuẫn trong các phe cánh, một tay chuyên “lấy
những thằng đầu bò để trị những thằng đầu bò” và là một tên
chuyên bóc lột dân lành bằng mánh khóe. Bá Kiến đứng đầu nắm
trong tay rất nhiều quyền hành trong cái làng Vũ Đại nhiều mâu
thuẫn, bức bối và phức tạp ấy. Bá Kiến được đặt vào một vị trí trang
trọng trong xã hội, khi nhà văn phác họa nên một lai lịch của một kẻ
già đời trong nghề bóc lột : gia đình bốn đời làm tổng lý, bản thân Bá
Kiến từng là lý trưởng, chánh tổng; cha truyền con nối trong thủ
đoạn đè đầu cưỡi cổ người khác. Những kẻ như thế, vẫn được gọi
bằng ông, bằng cụ một cách tôn kính. Uy quyền của Bá Kiến không
phải chỉ bó hẹp trong phạm vi của một làng, mà "cụ Bá" là "bá hộ,
tiên chỉ, chánh hội đồng kỳ hào, huyện hào, Bắc Kỳ nhân dân đại biểu
". Trong tác phẩm có bốn lần Bá Kiến xuất hiện, mỗi lần một vẻ và tất
cả đều góp phần bộc lộ bản chất của con người ranh mãnh, khôn
ngoan, gian hùng và tàn ác. Ngay lần đầu tiên xuất hiện, Bá Kiến hiện
lên là một con người biết kiềm chế, khôn ngoan, nhanh trí, đầy kinh
nghiệm, hiểu đời. Có lẽ chính vì đức tính đó mà dân làng Vũ Đại sợ
“cụ Bá” nhưng cũng nể “cụ Bá”. Chính vì hiểu đời, hiểu người nên Bá
Kiến có thể biến Chí Phèo từ một kẻ đối nghịch thành tay sai của
24
Cách đặt tên nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao
Nhóm 5 – Tiết 8.9.10
mình. Điều nguy hiểm nhất ở Bá Kiến là tội ác được hắn nâng lên
thành nghệ thuật để cai trị kẻ khác “ lấy tên đầu bò để trị những
thằng đầu bò”. Đoạn Chí Phèo đến nhà Bá Kiến xin đi ở tù là một
minh chứng. Bá Kiến rất nham hiểm khi đẩy Chí Phèo đến nhà Đội

25
Cách đặt tên nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao

Trích đoạn Phân tích ngữ liệu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status