BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TẠ THỊ THANH HÒA
HƯỚNG DẪN HỌC SINH PHÂN TÍCH
TÂM TRẠNG NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
1945-1954 Ở NGỮ VĂN 12
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2014
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Đức Khuông - người thầy đã tận tình
chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Xin cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ văn, tổ phương pháp và trường đại
học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện để tôi học tập, nghiên cứu trong thời
gian vừa qua.
Xin cảm ơn Sở giáo dục và Đào tạo Vĩnh Phúc, Ban giám đốc Trung tâm
GDTX Tam Đảo, Ban giám hiệu trường THPT Yên Lạc 2, bạn bè, đồng nghiệp, học
sinh…đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn
thiện luận văn.
Tạ Thị Thanh Hòa
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
- GV: Giáo viên
- HS: học sinh
phong phú của nhân dân và ngày càng chú ý tới tính đặc thù của văn học nghệ thuật.
Vì thế dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền văn học mới trên chặng đường phát triển,
tính thống nhất ngày càng cao và càng trở nên phong phú, đa dạng hơn từ nội dung
đến hình thức.
Gắn bó với đời sống, phản ánh và phục vụ đời sống là nhiệm vụ trọng tâm
của văn học nghệ thuật. Cuộc Cách mạng tháng Tám đã làm lung lay tận gốc rễ xã
hội nửa thực dân phong kiến, tạo ra một cuộc chuyển dịch lớn về môi trường sống
và viết không phải của một vài cây bút mà là hàng loạt nhà văn của một nền văn
học, từ môi trường chật hẹp của tầng lớp tư sản, tiểu tư sản đến cuộc sống sôi động
của người lao động. Nền văn học mới được đặt giữa môi trường rộng lớn của đời
sống nhân dân lao động không chỉ nói đến sự tái sinh, trỗi dậy của những cây bút
lớn cũ đã đi theo cách mạng, mà chủ yếu là để nói nền văn học mới được nuôi
dưỡng trên vùng đất mới màu mỡ, dưới ánh sáng của tư tưởng văn nghệ Macxit đã
3
có được một nội dung mới, gắn liền với một đối tượng mô tả mới là hiện thực cách
mạng rộng lớn, hùng tráng của nhân dân lao động và một nguồn lực lượng sáng tạo
vô tận từ các tầng lớp lao động được cách mạng giải phóng và trí thức hóa.
Ánh sáng, tư tưởng của Đảng đã đem đến cho nền văn học mới hàng loạt
đề tài, chủ đề, môtip cốt truyện và những tính cách nhân vật không có trong các
thời kì văn học trước kia; những cuộc đổi đời nhờ cách mạng; con người hồi sinh
nhờ thức tỉnh lí tưởng xã hội chủ nghĩa; những số phận bơ vơ đau khổ trong xã
hội cũ tìm thấy được sức mạnh và hạnh phúc trong xã hội mới; tình cảm riêng tư
được nâng lên tình đồng chí; chủ nghĩa anh hùng cách mạng có tầm vóc sử thi
kết tinh sức mạnh của giai cấp, của nhân dân, của thời đại…
Văn học Việt Nam 1945-1954 là giai đoạn bước đầu tập hợp đội ngũ, xây
dựng lực lượng sáng tác song cũng xuất hiện không ít cây bút truyện ngắn xuất sắc.
Chủ đề bao trùm sáng tác văn học trong những ngày đầu đất nước giành được độc
tâm hồn của từng nhân vật, từ những anh nông dân, bà mẹ nghèo vùng xuôi, những
con người lao động nghèo nơi vùng cao tới anh chiến sĩ đang cầm súng ngoài chiến
trường. Trong một tác phẩm văn học, nội tâm nhân vật chính là một phần thể hiện
sự sống của tác phẩm, sức hấp dẫn và thước đo giá trị tác phẩm. Nó cũng là tấm
gương phản ánh khả năng khám phá và sáng tạo của nhà văn. Nhà văn đã thâm
nhập, gắn bó và nắm bắt cuộc sống đến đâu, sáng tạo nên bức tranh hiện thực sinh
động, sâu đậm như thế nào? Trên cơ sở cảm nhận được điều này, người đọc mới
bộc lộ được tình cảm của mình đối với tác phẩm một cách chính xác, đầy đủ và tự
nhiên. Sự rung động của người đọc trước một tác phẩm văn học chính là ở chỗ bắt
gặp trong đó thế giới nội tâm phong phú của nhân vật. Đó cũng là lí do để những
tác phẩm như Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài), Vợ nhặt (Kim Lân) khi đưa vào giảng dạy
trong chương trình Ngữ văn 12 đã có được sức sống lâu bền cùng với thời gian. Sức
sống ấy toát lên từ thế giới nội tâm của các nhân vật.
Xuất phát từ những cơ sở lí luận và thực tiễn phong phú của thể loại truyện
ngắn Việt Nam 1945 - 1954, chúng tôi lựa chọn đề tài “Hướng dẫn học sinh
phân tích tâm trạng nhân vật trong truyện ngắn 1945 - 1954 ở Ngữ văn 12 ” .
Đề tài hướng tới việc giúp học sinh nắm bắt hệ thống hoá những tri thức về nhân
vật trong tác phẩm văn học; các phương diện thể hiện tâm tâm trạng nhân vật; tìm
hiểu sự vận động của dòng tâm trạng nhân vật trong các sáng tác truyện ngắn
5
1945-1954 được đưa vào chương trình Ngữ văn 12 THPT. Từ đó đi tới việc đề
xuất một số biện pháp hướng dẫn học sinh tìm hiểu diễn biến tâm trạng nhân vật
trong quá trình phân tích nhân vật văn học.
2. Lịch sử vấn đề
Cách mạng tháng Tám thành công mở ra một trang sử mới của dân tộc, kỉ
nguyên của độc lập tự do. Nền văn học theo sát và phản ánh chân thực, sinh động
sự chuyển biến của toàn xã hội. Khối lượng truyện ngắn giai đoạn 1945 - 1954
người quần chúng, nếu là con người cá nhân thì cũng hội tụ đầy đủ những phẩm
chất của cộng đồng và thông qua hình tượng này các nhà văn đã cố gắng làm rõ nét
tính cách, tâm lí chung vừa rất dân tộc vừa rất cách mạng.
Là người đã có nhiều công trình khảo cứu, nghiên cứu về văn học Việt
Nam hiện đại giai đoạn 1945 - 1975, khi tìm hiểu về hệ thống nhân vật trong các
sáng tác văn học giai đoạn 1945 - 1954, giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận
định: “Thế giới nội tâm nhân vật của họ ngày càng phong phú nhưng không rắc
rối, phức tạp. Họ kiên cường đấu tranh để vươn lên nhưng không quằn quại, bế
tắc trong những bi kịch. Tính cách công dân chiến sĩ của họ được hình thành
trong sự vận động của các hoạt động thực tiễn khẩn trương, sôi nổi, quyết liệt.
Cái anh hùng trong phẩm chất của họ không hề mâu thuẫn với cái bình thường
trong phong cách sống của họ”(41; 79).
Tìm hiểu về hệ thống nhân vật trong văn học 1945 - 1975, tác giả Nguyễn
Thị Bích Thu trong bài viết “Nhận dạng nhân vật trong truyện ngắn 1945-1975”
đăng trên Tạp chí nghiên cứu văn học, số 5 năm 2006 khi nói về nhân vật văn học
giai đoạn 1945 - 1954 nhận định: “Do đề cao ý thức tập thể mà con người trong
truyện ngắn chống Pháp chủ yếu được thể hiện trong những hành động hướng
ngoại, ít có sự suy tư, giằng xé nội tâm… Đời sống nội tâm không phải hoàn toàn bị
bỏ qua, nhưng nếu có cũng đi theo những môtip được định sẵn như: từ ngộ nhận
đến thức tỉnh, từ căm thù đến hành động, từ giác ngộ thấp đến giác ngộ cao”.
Trong Văn học Việt Nam trong thời đại mới nhà nghiên cứu Nguyễn Văn
Long khi nói về con người Việt Nam trong văn học 1945 - 1954 cũng cho rằng:
“Nhìn chung, con người trong văn học kháng chiến ít có những dằn vặt, suy tư,
giằng xé nội tâm. Họ thường là những con người trong sáng, dứt khoát, toàn tâm vì
7
sự nghiệp chung, hòa mình trong tập thể. Ở các nhân vật chính diện của văn học
thời kì này, mối quan hệ riêng - chung thường rất dễ dàng được giải quyết theo
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích.
Với thể loại truyện ngắn, nhân vật là nơi tập trung và giải quyết những
mâu thuẫn, xung đột trong tác phẩm. Nhân vật sống, gắn liền với tác phẩm bởi
nét tâm lí ẩn sâu bên trong tâm hồn người. Nhân vật chỉ có diện mạo, hành động
thôi thì chưa đủ. Thực thể ấy muốn sống động phải có suy nghĩ, tâm trạng, sự
vận động phức tạp trong nội tâm. Nội tâm nhân vật là một phương diện thể hiện
tài năng nghệ thuật, tư tưởng của nhà văn, cũng là yếu tố quan trọng khẳng định
giá trị, tầm vóc của tác phẩm.Việc hướng dẫn học sinh phân tích tâm trạng nhân
vật giúp học sinh có cái nhìn khái quát về tâm lí con người cũng như nhận diện
và phân tích những diễn biến tinh tế trong tâm hồn nhân vật, làm đầy đặn thêm,
sinh động thêm hình tượng nhân vật.
Hơn nữa, việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu tâm trạng nhân vật trong một lát
cắt thời gian, một hoàn cảnh cụ thể nhằm giúp học sinh có cái nhìn khái quát về tâm
lí con người cũng như nhận diện và phân tích những diễn biến tinh tế trong tâm hồn
nhân vật.
Với đề tài này, chúng tôi muốn đề cập sâu hơn về nhân vật, tâm lí nhân vật
trong truyện ngắn 1945 - 1954 và đề xuất một số biện pháp hướng dẫn học sinh
phân tích tâm trạng nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam 1945 - 1954 qua các tác
phẩm được đưa vào giảng dạy trong Sách giáo khoa Ngữ văn 12.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nhân vật trong tác phẩm văn học
- Những phương diện thể hiện tâm trạng nhân vật.
- Đặc điểm nhân vật trong văn học giai đoạn 1945 - 1954
- Tìm hiểu những mặt hạn chế khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu tâm trạng nhân vật
và đề xuất một số biện pháp hướng dẫn học sinh tìm hiểu tâm trạng nhân vật trong
truyện ngắn 1945 - 1954 SGK Ngữ văn 12.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Nhân vật, tâm lí nhân vật trong truyện ngắn 1945- 1954
- Phương pháp ứng dụng thực nghiệm, đánh giá kết quả
10
7. Cấu trúc luận văn
Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Nhân vật trong truyện ngắn 1945 - 1954
Chương 2: Phân tích tâm trạng nhân vật trong truyện ngắn 1945 - 1954 ở Ngữ văn
12
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
`
11
Chương 1:
NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN 1945-1954
1.1. Nhân vật văn học
1.1.1. Khái niệm nhân vật
Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực cuộc sống với đối tượng trung tâm
là con người được nhìn nhận qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ. Bởi vậy
nhân vật trong tác phẩm văn học không phải là những con người bằng xương bằng
thịt của cuộc sống hàng ngày mà là những hình tượng được khắc họa phù hợp với ý
đồ, tư tưởng nghệ thuật của tác giả.
Mĩ học và lí luận văn học từ xưa đến nay đều vẫn xem đối tượng chủ yếu
của văn học là con người. Con người là nội dung quan trọng nhất của văn học.
Những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, những bức tranh thiên nhiên... được đề cập
tới trong tác phẩm văn học đều góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho tác
nhau. Đó có thể là những con người được miêu tả đầy đặn cả về ngoại hình lẫn nội
tâm, có tính cách, tiểu sử như một khách thể thường thấy trong tác phẩm tự sự, kịch.
Đó có thể là những người thiếu hẳn những nét miêu tả về ngoại hình nhưng lại có
tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn như nhân vật người trần thuật, hoặc chỉ có nỗi niềm,
cảm xúc, ý nghĩ, cảm nhận như những nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình” (53;115).
Khác với nhân vật trong hội họa, điêu khắc chỉ thể hiện qua hình khối bất động,
nhân vật văn học được bộc lộ trong hành động và quá trình sống. Hành động của
nhân vật có ý nghĩa rất quan trọng. Nó gắn với động cơ, tư tưởng, tâm lí, phẩm chất,
cho nên hành động có khả năng “nói” rất nhiều về chính con người ấy. Đặc biệt
trong văn học hiện đại, nhân vật còn được biểu hiện bằng dòng ý thức, do vậy việc
miêu tả tâm trạng, dòng ý thức và chỉ cần ít hành động vẫn có khả năng thể hiện
trọn vẹn một con người.
Như vậy, nhân vật văn học là con người được thể hiện bằng phương tiện văn
học. Nhà văn sáng tạo nên nhân vật là để thể hiện những cá nhân xã hội nhất định
và quan niệm về các cá nhân đó.“Văn học không thể thiếu nhân vật, bởi vì đó là
hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới con người một cách hình tượng
” (53; 115).
13
1.1.2. Nhân vật là phương tiện để phản ánh đời sống, khái quát hiện thực
Việc lấy con người là đối tượng miêu tả chủ yếu, văn học có được một điểm
tựa để nhìn ra thế giới bên ngoài. Văn học bao giờ cũng nhìn hiện thực qua cái nhìn
của con người, cụ thể là cái nhìn của người nghệ sĩ. Cái nhìn có sâu sắc tinh tế thì
tác phẩm của nhà văn ấy mới có chỗ đứng vững chắc trong lòng người đọc. Phong
cách được hình thành từ cái nhìn độc đáo có tính chất phát hiện đối với hiện thực
đời sống. Cái nhìn không chỉ thể hiện lập trường, thái độ của nhà văn đối với đời
sống mà quan trọng hơn nó còn thể hiện sự hiểu biết và tình cảm của nhà văn với
cuộc đời và con người, thể hiện sự sáng tạo của người nghệ sĩ. “Con người trong
trong xã hội cũ. Thông qua nhân vật Chí Phèo, Nam Cao muốn thể hiện quá trình
lưu manh hóa của một bộ phận nông dân trong xã hội thực dân nửa phong kiến.
Nhân vật văn học cũng phản ánh thời đại lịch sử. Các cuộc chiến tranh thời
cổ đại vẫn thường vì tranh giành người đẹp. Đó cũng là lí do mà nhân vật Thủy
Tinh trong thần thoại Sơn Tinh Thủy Tinh:
“ Núi cao sông hãy còn dài
Năm năm báo oán đời đời đánh ghen”
Hay các cuộc chiến tranh của tù trưởng Đăm Săn đều nhằm mục đích giành
lại Hơ Nhị và Hơ Bhị. Trong xã hội phân hóa giai cấp, nhân vật văn học lại khái
quát các giá trị đối kháng về mặt phẩm chất. Vì vậy mà trong những truyện cổ tích,
các nhân vật xuất hiện với tính cách kẻ giàu, người nghèo, kẻ ác, người thiện… có
ý nghĩa xác định những chuẩn mực trong quan hệ xã hội giữa người với người.
Trong khi đó, nhân vật trong văn học hiện đại lại là nơi thể hiện trạng thái nhân
sinh. Người đọc bắt gặp nhân vật ông lão Santiago trong Ông già và biển cả của
E. Hemingwey một biểu tượng về tinh thần “con người có thể bị hủy diệt nhưng
không thể bị đánh bại”. Nhưng ý nghĩa của nhân vật không chỉ là sự thể hiện tính
cách cho nên nhân vật còn là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới đời sống.
Nhân vật văn học là sáng tạo nghệ thuật, vì vậy không nên đồng nhất nhân vật
văn học với con người ngoài đời, không nên hiểu nhân vật như những con người
có thật, yêu mến và phán xét như những con người có thực trong đời sống. Tuy
nhiên khi phân tích, nghiên cứu nhân vật, việc đối chiếu, so sánh có thể cần thiết
để hiểu rõ thêm về nhân vật, nhất là những nhân vật có nguyên mẫu ngoài cuộc
15
đời (anh hùng Núp trong Ðất nước đứng lên của Nguyên Ngọc; Chị Sứ trong
Hòn Ðất của Anh Đức...).
Nhân vật văn học là hình thức thể hiện định hướng giá trị đời sống. Đọc tác
phẩm văn học, chúng ta cần khám phá những nội dung đời sống và những giá trị tư
tác phẩm, là nơi thể hiện những vấn đề trung tâm của tác phẩm. Trong không ít
trường hợp, nhà văn dùng tên nhân vật trung tâm để đặt tên cho tác phẩm. Trong
Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du thì nhân vật Thúy Kiều là nhân vật nổi lên
với biết bao biến cố cuộc đời gắn với kiếp “tài hoa bạc mệnh” xuyên suốt 3254 câu
thơ lục bát. Hành trình tha hóa, bị đẩy đến bước đường cùng của nhân vật Chí Phèo
trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao. Tên nhân vật chính cũng được
nhà văn Tô Hoài đặt cho truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của mình. Cũng có khi nhân
vật trung tâm là nhân vật được nói đến, chứ không phải là nhân vật chính trong cốt
truyện như nhân vật vua Khải Định trong Vi hành của Nguyễn Ái Quốc.
Ngoài những nhân vật chính, còn lại là nhân vật phụ. Nhân vật phụ mang
các tình tiết, sự kiện, tư tưởng có tính chất phụ trợ, bổ sung. Tuy vậy không thể coi
nhẹ nhân vật phụ vì nhiều khi nhân vật phụ hàm chứa những tư tưởng quan trọng
của tác phẩm.
1.1.3.2. Nhân vật chính diện, nhân vật phản diện
Xét về phương diện hệ tư tưởng, sự phát triển của xã hội và những mâu
thuẫn xung đột trong tác phẩm có thể chia ra nhân vật chính diện và nhân vật phản
diện. Sự phân biệt này gắn liền với những mâu thuẫn đối kháng trong đời sống xã
hội. Nhân vật chính diện mang lí tưởng, quan điểm tư tưởng, đạo đức tốt đẹp của
tác giả và của thời đại. Trái lại, nhân vật phản diện lại mang những phẩm chất xấu
xa, trái với đạo lí và lí tưởng. Hai loại nhân vật này luôn luôn đối kháng với nhau.
Trong quá trình phát triển của văn học, trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, việc
xây dựng các loại nhân vật trên cũng khác nhau. Nếu như trong thần thoại chưa có
sự phân biệt rạch ròi giữa nhân vật chính diện và nhân vật phản diện thì trong
truyện cổ tích, các truyện thơ Nôm, các nhân vật thường được xây dựng thành hai
tuyến rõ rệt có tính chất đối kháng quyết liệt. Hễ là nhân vật chính diện thường tập
trung những đức tính tốt đẹp còn nhân vật phản diện thì hoàn toàn ngược lại. Trong
văn học trung đại, nhân vật chính diện thường là các nhà nho, các bậc trượng phu và
17
18
Nhân vật văn học chỉ xuất hiện qua nghệ thuật trần thuật và miêu tả bằng
phương tiện nghệ thuật. Các phương tiện thể hiện nhân vật hết sức đa dạng. Nhân
vật xuất hiện trước mắt người đọc thông qua bút pháp miêu tả ngoại hình. Đây là
yếu tố quan trọng góp phần cá tính hóa nhân vật. Nhân vật còn được xây dựng qua
bút pháp miêu tả ngôn ngữ, hành động. Song miêu tả nội tâm nhân vật đã trở thành
một thủ pháp nghệ thuật đặc biệt góp phần xây dựng thành công nhân vật. Sự biểu
hiện hợp lí và sâu sắc nội tâm góp phần rất lớn tạo nên sức sống của nhân vật. Nói
như L. Tônxtôi: "Mục đích chính của nghệ thuật là nói lên sự thật về tâm hồn con
người, nói lên những điều bí ẩn không thể diễn tả bằng ngôn ngữ thông thường
được". Ðể làm được điều đó, nhà văn phải hiểu sâu sắc cuộc sống và con người,
nắm bắt được những biểu hiện và diễn biến dù nhỏ nhặt nhất đời sống bên trong của
nhân vật. Ý thức, tự ý thức, tâm lí nhân vật là một lĩnh vực quan trọng của đời sống
mà văn học luôn hướng tới. Hình thức chiếm lĩnh tâm lí con người trong văn học
khác nhau và mỗi thời đại văn học lại có những khám phá mới. Nhân vật là hình
thức văn học để phản ánh hiện thực đời sống. Hình thức ấy rất đa dạng để thể hiện
các khía cạnh vô cùng phong phú của cuộc sống.
1.2. Đặc điểm nhân vật trong truyện ngắn 1945 - 1954
Cách mạng tháng Tám 1945 không chỉ là một bước ngoặt trong lịch sử dân
tộc mà còn mở ra một thời đại văn học mới cho văn học nước nhà. Cuộc cách mạng
đã đem đến sự biến đổi kì diệu cho con người Việt Nam. Đó không chỉ là việc biến
những con người từ thân phận nô lệ thành người tự do của một nước Việt Nam độc
lập, mà còn tập hợp, liên kết mọi con người trong cộng đồng dân tộc tạo nên sức
mạnh to lớn của dân tộc và nhân dân, đặt mỗi con người vào trong cộng đồng, sống
với đời sống chung của dân tộc, thức tỉnh ở mỗi con người ý thức công dân và tinh
thần dân tộc tiềm tàng. Đồng thời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, văn học ngày càng
có vị trí rộng lớn và sâu sắc trong đời sống xã hội. Nhà văn ngày càng thấy rõ hơn
các mạng và kháng chiến.
1.2.1.1. Hình tượng con người tập thể
Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng ta tiến hành khẩn trương xây dựng
một nền văn học mới, nền văn học lấy quần chúng nhân dân làm đối tượng phản
20
ánh và phục vụ. Chủ trương này cũng luôn được Đảng nhấn mạnh trong các chỉ thị,
nghị quyết chỉ đạo văn nghệ trong những bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm
1951, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra vô cùng ác liệt,
trong Thư gửi anh chị em họa sĩ Bác viết: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt
trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ
nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là: phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc,
phụng sự nhân dân, trước hết là công nông binh”. Trong Nhận đường Nguyễn Đình
Thi viết: “chúng ta đã tìm thấy bao trùm trên chúng ta, bao trùm làng xóm, gia đình
chúng ta một cái gì lớn lao chung ấy là dân tộc”. Còn Hoài Thanh thì lại nhận thấy:
“Cảnh tưng bừng của cả dân tộc Việt Nam đang trỗi dậy. Tôi cảm thấy khắp nơi ở
xung quanh tôi và trong lòng tôi một cuộc tái sinh nhiệm màu”.
Văn học thời kì 1945 - 1954 đã mở ra những không gian rộng lớn mang tính
xã hội cho nhân vật hoạt động. Văn học giai đoạn này chưa xem xét con người như
một cá nhân mà khám phá và thể hiện con người tập thể. Nếu như văn học giai đoạn
đầu thế kỉ XX đến trước Cách mạng tháng Tám 1945 có phát hiện quan trọng đưa
đến sự cách tân cho văn học là sự phát hiện con người - cá nhân - cá thể, thì sự biến
đổi quan trọng nhất ở chiều sâu quan niệm trong văn học sau 1945 chính là ở cái
nhìn con người tập thể. “Cách mạng và kháng chiến đã đặt nhà văn trước một hiện
thực lớn lao là cuộc đổi đời và sức mạnh vĩ đại của quần chúng nhân dân. Quần
chúng đã làm nên biến cố cách mạng và gánh vác cả cuộc kháng chiến. Hướng tới
đại chúng, phục vụ đại chúng trở thành mục tiêu và phương hướng của nề văn học
kháng chiến. Khám phá và miêu tả những con người tiêu biểu của thời đại mình bao
tòi, sáng tạo của mình” (22;15).
Trong cảnh tượng vĩ đại của “cả một dân tộc vươn mình tới ánh sáng”, hòa
mình vào cuộc sống kháng chiến, các nhà văn thực hiện một hành trình đến với đông
đảo quần chúng, khám phá quần chúng. Những trang nhật kí Ở rừng của Nam Cao là
bằng chứng xác thực về việc nhà văn soi mình trong quần chúng để tự vượt lên. Tô
Hoài với những tháng ngày cùng với bộ đội tiến vào giải phóng vùng Tây Bắc, được
sống, sinh hoạt, tìm hiểu những phong tục tập quán của đồng bào dân tộc ít người
cũng cho ra đời Truyện Tây Bắc (với ba truyện ngắn: Cứu đất cứu Mường, Mường
Giơn, Vợ chồng A Phủ ).
22