hướng dẫn học sinh phân tích chất thơ đời sống trong truyện ngắn vợ nhặt của kim lân - Pdf 24

MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn học có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của con người. Việc
học văn trong nhà trường từ nhiều năm nay được coi là một trong những môn
học chính. Môn văn có phân môn giảng văn chiếm tỉ lệ lớn các tiết học văn
trong nhà trường. Phân môn này góp phần tích cực trong việc hình thành nhân
cách, nuôi dưỡng tâm hồn học sinh.
Với khả năng riêng của những hình tượng nghệ thuật được nghệ sĩ sáng
tạo lên nên văn học có tác dụng sâu sắc và lâu bền đến đời sống tâm hồn và trí
tuệ của bạn đọc. Đời sống con người thì hữu hạn nhưng cuộc sống của những
tác phẩm ưu tú của loài người thì mãi mãi tươi xanh, có khả năng khơi nguồn
sáng tạo mãnh liệt cho con người và tiếp tục làm phong phó cho tâm hồn bao
thế hệ. Là cây bút truyện ngắn xuất sắc, tạo dựng được một vị trí chắc chắn
trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam, từ lâu nay, một số tác phẩm tiêu biểu
của Kim Lân được xếp vào loại gần nh “thần bót”: “Làng”, “Vợ nhặt”. Hai
tác phẩm này đã được tuyển chọn vào chương trình giảng dạy văn học ở
trường phổ thông. Mà giữa hai truyện Êy thì theo dư luận của nhiều bạn văn
do chính Kim Lân phản ánh, “Vợ nhặt” có phần xuất sắc hơn “Làng”.
“Vợ nhặt” được xây dựng trên bối cảnh của năm Êt Dậu, cái năm vẫn
được nhiều người lớn tuổi quen gọi là “năm đói”. Cái nạn đói của năm Êt Dậu
không bao giờ quên được Êy có lẽ là tai hoạ thảm khốc nhất của một dân tộc
mà số phận vốn đã lắm tai nhiều họa. Bởi lẽ, chưa có một thuỷ tai, hỏa tai nào,
chưa có một dịch bệnh nào, và thậm chí chưa có một cuộc chiến tranh nào đã
có thể – nh cái nạn đói khủng khiếp kia – cướp đi của nước Việt Nam ngót
một phần mười dân số.
Trong tiến trình văn học Việt Nam, nhiều nhà văn, nhà thơ đã viết về nạn
đói: Phạm Đình Hổ trong “Vò trung tuỳ bút” kể chuyện mùa màng thất bát, cả
một vùng rộng lớn ở Thái Bình lúa ngô chết rục, chỉ thấy chồn, cáo chạy
nhông đào bới…Nguyễn Du trong “Sở kiến hành” tả cảnh một gia đình đói
rách đi ăn xin…Và Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố…Song
1

dẫn học sinh phân tÝch chất thơ đời sống trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của
Kim Lân”. Với đề tài này, người viết luận văn hi vọng góp thêm một cách
cảm nhận mới về một tác phẩm văn xuôi tiêu biÓu của nền văn học Việt Nam.
II. XÁC ĐỊNH KHÁI NIỆM
Luận văn không nhằm mục đích lí luận, nghĩa là không nhằm giải quyết
những vấn đề về lí luận văn học. Tuy nhiên, để giải quyết đề tài của mình,
người viết không thể không xác định quan niệm nhất định về khái niệm phức
tạp, rất khó định nghĩa và mới mẻ này: Khái niệm “chất thơ đời sống” trong
văn xuôi.
Đây là lần đầu tiên, khái niệm “chất thơ đêi sống” được đề cập đến trong
khuôn khổ một luận văn. Vì vậy, để đưa ra được một quan niệm tương đối về
khái niệm này, người viết luận văn nhận thấy cần phải dựa vào những lí giải,
khái niệm về chất thơ và chất thơ trong văn xuôi. Vì đó là những cái có
trước,đã được một số công trình và nhà nghiên cứu tìm hiểu. Và vì giữa chúng
có chung nội hàm: “chất thơ”
Chất thơ tuy có thÊy được sử dụng trong một số bài viết hay công trình
nghiên cứu, song bản thân nội hàm thuật ngữ này lại có Ýt công trình nghiên
cứu về nã. Trong điều kiện ở Việt Nam, việc tiếp cận được với khái niệm chất
thơ không phải là dễ bởi hầu nh trong các thư viện chưa thÊy có nguồn tư liệu
dịch hay Ên phẩm nguyên bản.
Có thể nói, chất thơ là một trong những chất khó nắm bắt và lí giải. Cho
tới nay, chất thơ vẫn chưa được khám phá về mặt lí thuyết tới độ minh bạch
nh ta hằng mong muốn. Ở Việt Nam, cũng chưa có công trình nào đưa ra một
khái niệm cụ thể hoàn chỉnh về chất thơ. Trong “Từ điển bách khoa Việt
Nam” có đưa ra một nhận định về chất thơ dưới dạng mô tả các thuộc tính của
thơ như sau: “Chất thơ là một khái niệm trừu tượng, nhưng có thể chỉ định
mấy thuộc tính cơ bản sau: chất thơ được thể hiện ở sự phong phó của những
3
cảm xúc, ở những hình ảnh cô đọng, ở những ý nghiã sâu xa có tính chất hàm
Èn (ngầm), và ở sự hoà điệu về mặt âm vận, vần và nhịp.”

người, góp phần hoàn thiện nhân cách và tăng phần lí tưởng cho cuộc sống.
Chất thơ và chất thơ đời sống còn đem đến cho con người khát vọng sống,
niềm tin yêu cuộc sống và con người.
Song, chất thơ đời sống có những biểu hiện khác chất thơ. Thứ nhất, cái
đẹp trong chất thơ đời sống thường không nằm ở những vẻ đẹp lí tưởng,
những khung cảnh thiên nhiên lãng mạn, những câu văn chải chuốt, cô đọng
hàm súc hay giàu hình ảnh, nhịp điệu. Cái đẹp trong chất thơ đời sống chủ yếu
mang màu sắc đời thường. Nhiều khi cái đẹp Êy được nhà văn cho Èn mình
dưới một lớp vỏ xù xì, thô ráp, xấu xí, quê kệch, rách rưới. Theo giáo sư
Nguyễn Đăng Mạnh thì: “cái gì đối lập với cái phàm tục là chất thơ”. Mà cái
phàm tục chủ yếu có trong đời sống thường nhật, là những cái tầm thường,
phàm tục. Trong khi đó, chất thơ đời sống bắt nguồn từ cuộc sống hiện thực,
còn nhiều bộn bề, ngang trái, đắng cay, thậm chí từ trong những thứ bị coi là
tầm thường, trần tục vẫn lấp lánh vẻ đẹp của cuộc sống, cuả tâm hồn con
người. Toàn bộ vẻ đẹp và sức mạnh của chất thơ đời sống là ở chỗ nó được
xây dựng lên với những vẻ đẹp về tình người để đối lập với cuộc sống nghèo
đói, khắc nghiệt, nhiều bon chen, tranh giành.
Thứ hai, chất thơ đêi sống thể hiện vẻ đẹp của những con người đời
thường, bình thường, thậm chí là tầm thường. Họ là những con người không
nằm ngoài qui luật tha hoá của cuộc sống hàng ngày. Có khi họ là những con
người chưa biết đến lí tưởng, có tầm vóc bình thường, tâm trạng bình thường.
Nhưng cái để tạo nên vẻ đẹp ở những con người này là những người tốt, có tÊm
lòng bao dung, cao thượng và tấm lòng của họ vĩnh viễn không bị xoá nhoà bởi
những điều xấu xa, bụi bặm của cuộc sống xã hội đang diễn ra xung quang
mình.
Thứ ba, vẻ đẹp của chất thơ đời sống thể hiện cụ thể, rõ ràng không mơ
hồ, vô định. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Kiên, đi tìm chất thơ trong truyện
5
ngắn có nghiã là “đi tìm cái ta chỉ có thể cảm thấy, nếu chỉ nó ra rành rành,
phân tích nó, lập tức nó sẽ trở nên mơ hồ”. Gần gũi với ý kiến này là cách

vào con người và cuộc sống. Chính vì vậy mà phẩm chất của chất thơ đời sống
rất rõ ràng. Ta có thể chỉ ra, phân tích nó. Và càng phân tích sâu sắc thì vẻ đẹp
của chất thơ đời sống càng biểu hiện rõ nét, sinh động.
Đối tượng nghiên cứu mà chúng tôi muốn nhấn mạnh trong luận văn này
là phân tích chất thơ đời sống trong một tác phẩm văn xuôi. Căn cứ vào những
suy nghĩ, hiểu biết của cá nhân và nhất là xuất phát từ nhiệm vụ của đề tài luận
văn, người viết mạnh dạn trình bầy quan niệm của mình về khái niệm chất thơ
đời sống như sau: Chất thơ đời sống trong văn xuôi thể hiện vẻ đẹp của đời
sống con người, vẻ đẹp của tâm hồn con người, biểu hiện rõ nét ở: tình yêu
6
thương, đùm bọc, chia sẻ; khát vọng sống mạnh mẽ và niềm lạc quan, tin tưởng
vào tương lai tốt đẹp mặc dù đang sống trong cuộc sống khắc nghiệt, khốn
cùng.
III. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Tác phẩm của Kim Lân không chỉ

chân chất của đời sống và con người
nghèo hèn

nh Nguyên Hồng nhận xét, mà còn Êm áp tình người, tình cảm
những con người lao động đôn hậu, nhân áI, thủy chung và giàu khát vọng.
Truyện “Vợ nhặt” được Kim Lân viết sau hòa bình 1954. Vì vậy, vẻ đẹp
của tình người, cảm hứng nhân bản, nhân đạo đằm thêm, mang ý nghĩa cao
rộng hơn so với những truyện trước đó (Đứa con người vợ lẽ, Cô Vịa, Làng,
Con chó xấu xí). Tình người trong câu chuyện phải chăng là sự cảm thương,
đùm bọc, nương tựa vào nhau giữa những con người khốn khổ để cùng nhau
chống lại cái đói, cái nghèo hèn trong những đêm đen cuộc sống mà xây dựng
lại đời mình, vun đắp cho hạnh phúc gia đình trước mắt và lâu dài về sau. Tình
người đó phải chăng là tình thương rồi đến tình yêu, tình vợ chồng, mẹ con.
Tình người đó phải chăng là lòng bao dung, tinh thần trách nhiệm giữa những

- “Những giá trị tiêu biểu về tư tưởng và nghệ thuật của truyện ngắn
Kim Lân” - ĐHSP Hà Nội – 1997 của Nguyễn Văn Bao.
- “Những đặc sắc của truyện ngắn Kim Lân” - ĐHSP Hà Nội – 2002 của
Nguyễn Tiến Đức.
- “Nông thôn và hình ảnh người nông dân trong sáng tác của Kim Lân” -
ĐHSP Hà Nội – 2003 của Mã Thu Hà.
- “Phong cách nghệ thuật Kim Lân” - ĐHSP Hà Nội – 2004 của Nguyễn
Thị Thu.
- “Văn hóa Kinh Bắc và phong cách nghệ thuật Kim Lân” - ĐHSP Hà
Nội – 2005 của Phạm Thị Nga.
- “Truyện ngắn Kim Lân, nhìn từ phong cách thể loại” - ĐHSP Hà Nội –
2005 của Đặng Thị Minh Ngọc.
8
- “Văn hóa làng trong truyện ngắn Kim Lân” - ĐHSP Hà Nội – 2006 của
Vũ Thị Đỗ Quyên.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu liên quan đến tác phẩm “Vợ
nhặt”, về tác phẩm “Vợ nhặt” còn phải kể đến những bài phân tích, bình
giảng về truyện ngắn “Vợ nhặt”, một tác phẩm được chọn giảng trong nhà
trường ở chương trình lớp 12.
- Bài Phân tích tác phẩm “Vợ nhặt” trong “Để học tốt văn 12”
- Bài viết “Sự sống đối mặt với cái chết” của Nguyễn Thị Thanh Cảnh
trong “Tiếng nói tri âm” – tập 1.
- Bài viết “Bóng tối và ánh sáng trong câu chuyện nhặt vợ” của Trần
Đồng Minh trong “Tiếng nói tri âm” – tập 1.
- Bài viết “Ngọn lửa tình người thắp giữa đêm đen cuộc sống” của Vũ
Dương Quỹ trong “Về mét số nhân vật trong sách văn 12”
- Bài “Tác giả Kim Lân và hình tượng người đàn bà không tên trong
“Vợ nhặt”” của Trương Vũ Thiên An trên báo Giáo dục và thời đại – 1998.
Đây là những công trình khoa học nghiên cứu một cách công phu, hệ
thống, nêu bật được những giá trị tiêu biểu về nội dung và nghệ thuật của

nó còn bổ sung hiện thực thứ hai: hiện thực đời sống tâm hồn con người trong
thời kì khắc nghiệt, khốn cùng. Điều đó khiến cho giá trị hiện thực của truyện
ngắn thêm sâu sắc và toàn diện. Từ đó, chúng tôI hi vọng góp thêm một tiếng
nói nhằm khẳng định những giá trị đặc sắc của truyện ngắn “Vợ nhặt”.
VIII. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần
phụ lục. Nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương nh sau:
Chương 1: Biểu hiện của chất thơ đời sống trong truyện ngắn “Vợ nhặt”
của Kim Lân.
10
Chương 2: Các phương pháp, biện pháp hướng dẫn học sinh phân tích
chất thơ đời sống trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân.
Chương 3: Thiết kế giáo án dạy học truyện ngắn “Vợ nhặt”theo hướng
phân tích chất thơ đời sống của tác phẩm.
Chương 1
BIỂU HIỆN CỦA CHẤT THƠ ĐỜI SỐNG TRONG TRUYỆN NGẮN
“VỢ NHẶT” CỦA KIM LÂN
1.1. TÌNH HUỐNG TRUYỆN GÓP PHẦN TẠO CHO TÁC PHẨM MANG
ÂM HƯỞNG MỘT BÀI CA SỰ SỐNG
Nói đến nghệ thuật truyện ngắn, người ta thường coi ba yếu tố sau đây là
cơ bản nhất: tình huống truyện, nhân vật truyện và cách trần thuật. Có nhiều
truyện ngắn, sự sáng tạo tình huống đóng vai trò then chốt. Đặt vào tình
huống Êy, nhân vật truyện bộc lộ sâu sắc tâm lí, tính cách. Tư tưởng của thiên
truyện cũng nhờ thế mà được thể hiện đậm đà. Và xoay quanh tình huống Êy,
các tình tiết cũng trở nên hấp dẫn. Truyện “Vợ nhặt” của Kim Lân thuộc loại
tác phẩm nh thế.
Là một truyện ngắn hay, “Vợ nhặt” của Kim Lân đã thu hút sự chú ý của
đông đảo người yêu văn chương. Không Ýt vẻ đẹp sâu xa của tác phẩm đã
được khám phá. Chỉ riêng khâu tình huống truyện, người nghiên cứu đã nhặt
được khá nhiều điều lí thú. Và theo người viết luận văn, tình huống truyện

kiện đặc biệt của đời sống được sáng tạo ra theo hướng lạ hóa. Tại đó, vẻ đẹp
nhân vật được hiện hình ảnh sắc nét, ý nghĩa tư tưởng được phát lộ toàn vẹn.
Người viết có được một tình huống đặc sắc là đã có một tiền đề khá chắc chắn
cho thành công của một truyện ngắn. Còn người đọc nắm được tình huống thì
xem như có một chìa khóa tin cậy để mở vào thế giới bí Èn của tác phẩm.
Truyện ngắn Kim Lân bao giờ cũng hấp dẫn mà

Vợ nhặt

là một tiêu
biểu. Sức hấp dẫn của những trang văn Êy là bởi cái tài và cái tâm của người
cầm bút. Bởi những nhân vật sống động. Bởi ngôn ngữ nghệ thuật giản dị mà
súc tích… và bởi một yếu tố vô cùng quan trọng: nghệ thuật sáng tạo tình
huống truyện độc đáo, hấp dẫn. Kim Lân rất chú trọng thủ pháp nghệ thuật
này. Ông gọi khái niệm tình huống truyện bằng cái tên giản dị:

cảnh ngộ

[50]. Nhà văn quan niệm: viết truyện ngắn phải hấp dẫn, phải làm cho người
đọc muốn đọc mãi và càng đọc càng thấy thích thú. Muốn vậy cần phải đặt
nhân vật vào những cảnh ngộ Ðo le, ngang trái, trớ trêu, khó xử, buộc nhân
12
vật phải lựa chọn cách giải quyết, nhờ đó phẩm chất, tính cách nhân vật được
bộc lộ một cách rõ nét.
Dễ thấy rằng hạt nhân của truyện ngắn

Vợ nhặt




tiệc vỉa hè

gồm bèn bát bánh đúc mà thành vợ thành chồng.
Họ đến rồi gắn bó với nhau ngỡ nh ngẫu nhiên, trái khoáy, vu vơ.
Song tìm hiểu kĩ một chút, ta vẫn tìm thấy trong đó những nguyên cớ đẹp
đẽ bên trong của cả hai người, một biểu hiện của chất thơ đời sống trong tác
phẩm. Mở đầu cuộc

tìm hiểu, tỏ tình

, Tràng cất tiếng hò, nêu sự hấp dẫn bằng

cơm trắng mấy giò

. Cô gái không tin nhưng Tràng khẳng định

thật đấy

.
Ngay sau lời khẳng định chắc nh đinh đóng cột, “ả ta đứng vùng ngay dậy,
ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng

rồi

liếc mắt, cười tít

, cười tình tứ – cái
cười mà từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ chưa bao giờ Tràng nhận được. Lần thứ hai
gặp lại, Tràng mời “ăn miếng giầu cái đã




cám đắng chát

thì

cơm trắng mấy
giò” là xa vời, chỉ có trong tưởng tượng, trong giấc mơ. Và chắc chắn, Tràng
biết rằng giấc mơ Êy không biết khi nào mới trở thành hiện thực nhưng hắn
vẫn mơ, vẫn nghĩ đến ngay trong lúc khó nhọc nhất. Điều này cho thấy, dù
trong bất kì hoàn cảnh nào, ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp hơn không bao
giê bị thui chột, bị tiêu diệt trong tâm hồn người dân lao động. Hình như cuộc
sống càng khó khăn thì niềm lạc quan, yêu đời, vui sống càng trỗi đậy mạnh
mẽ trong tâm trí người lao động thật thà, chất phác như Tràng – một vẻ đẹp
tâm hồn thật đáng trân trọng, một biểu hiện của chất thơ đời sống trong tác
phẩm.
Câu hò Tràng cất lên chỉ đùa cho vui nhưng có một sự thật đã xảy ra đó là
có một cô gái “đứng vùng ngay dậy, ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng

. Đúng
14
là một tình huống giả mà thật, đùa mà không đùa. Về phía mình, phải chăng
cô gái đã nhầm một câu hò vu vơ giữa chợ thành một lời hứa hẹn thật? cái đói
quay quắt đã ném cô vào một đời sống vất vưởng. Đời sống vất vưởng nghiệt
ngã đã biến cô thành một kẻ chanh chua, chao chát, cong cớn, trơ tráo, chẳng
những làm biến dạng tính cách con người, nạn đói khủng khiếp còn nh một
cơn lũ lớn đã cuốn phăng đi bao sinh mệnh. Chới với giữa dòng lũ, tiếng nói
thường trực nhất tất nhiên là tiếng nói của bản năng: cần phải sống đã, cần phả
bám ngay vào tất cả những gì có thể bám được. Và bản năng ham sống đã
khiến cô làm tất cả những gì để có thể thoát khỏi cái chết đang đe dọa từng

cuộc đời mỗi con người.
Êy vậy mà Tràng có được vợ chỉ sau mấy câu đùa và bốn bát bánh đúc,
còn cô gái chấp nhận theo về làm vợ một người đàn ông cũng chỉ qua mấy câu
đùa cợt, hái han và sau khi ăn xong bốn bát bánh đúc. Có phải cuộc hôn nhân
này là dễ dãi, là trò đùa? Đi hết câu chuyện ta mới rằng, cuộc hôn nhân này
không phải là trò đùa, cũng không phải sự thách thức hòan cảnh. Bởi sau khi
người đàn bà đồng ý “cùng về” với Tràng, cả hai đã có những suy nghĩ, hành
động, cách ứng xử rÊt nghiêm túc, đúng mực đối với việc hệ trọng của đời
mình – từ nay trở đi đã trở thành vợ chồng của nhau. Họ quyết định đến với
nhau thật nhanh chóng tuy không xuất phát từ tình yêu nhưng đâu phải là
quyết định liều lĩnh?
Trong lóc cái đói đang vây bủa, chỉ sau mấy hôm gặp lại Tràng thấy “ả
rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, ả gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi
cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt” thì việc bỗng dưng được đãi bốn bát
bánh đúc là điều khó có thể ngờ tới nhưng đã trở thành sự thật đối với cô gái.
Chỉ qua vài câu hỏi đáp và hành động đó cũng đủ cơ sở để cô tin rằng người
đàn ông này có thể là chỗ dựa vững chắc cho cuộc đời mình. Còn Tràng, mới
đầu cũng phân vân, suy nghĩ “thóc gạo này đến cái thân mình chả biết có nuôi
nổi không, lại còn đèo bòng”. Qua suy nghĩ đó ta thấy Tràng cũng đắn đo,
cũng cân nhắc có phần trần trừ, e ngại nhưng rồi “sau không biết nghĩ thế nào
hắn tặc lưỡi một cái: - Chậc, kệ!”.
Nhìn từ phía Tràng, tình huống này không hẳn là lưỡng lự giữa sự đùa cợt
phất phơ và ý định nghiêm túc, mà ở chiều sâu chính là sự phân vân giữa một
bên là sự khước từ của lòng vị kỉ, một bên là sự cưu mang của lòng vị tha. Sau
những gì đã “gây ra” bởi hàng loạt những trò đùa tầm phào, Tràng có “trợn”,
nghĩa là thoáng lo sợ và ân hận của kẻ đã trót đẩy trò đùa đi quá trớn. Nếu lóc
Êy Tràng bỏ của chạy lấy người thì về lí chẳng ai trách được gã trai Êy.
Nhưng tình người trong gã thì chắc mất mát đi nhiều lắm. Và Tràng cũng
16
chẳng hơn thứ bèo bọt là bao. Song, Tràng đã “Chậc, kệ!”. Có vẻ nh một

nổi ”, và “người ta có gặp bước khó khăn, đối khổ này, người ta mới lấy đến
con mình”. Trong hoàn cảnh Êy, những người đã từng trải qua cuộc đời cơ cực
nh bà cụ Tứ không tránh khỏi nỗi lo âu cho tương lai của con mình “biết rằng
chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không”. Nhưng tất
cả những thứ đó không thắng nổi niềm lạc quan luôn tồn tại trong tâm hồn
người dân lao động. Bởi sau đó bà lão nói toàn chuyện vui: chuyện mua phên
liếp để ngăn nhà, chuyện nuôi gà. Vì bà hi vọng vào một tương lai tốt đẹp sẽ
đến với gia đình mình.
Như vậy, có thể nói chuyện Tràng nhặt được vợ giữa lúc đói khát là một
tình huống Ðo le, trớ trêu, chứa đựng đầy ngạc nhiên, lo lắng, băn khoăn.
Nhưng cuối cùng vượt lên tất cả, sự kết hợp của Tràng và người vợ nhặt đã tạo
nên một sức sống mới đầy đủ và mạnh mẽ hơn – cuộc sống vợ chồng. Sức
sống Êy là biểu hiện cho niềm ham sống, yêu đời, yêu người của những người
trẻ tuổi nh vợ chồng Tràng. Và sức sống Êy đã truyền niềm vui sống, niềm lạc
quan sang bà cụ Tứ sau khi ngạc nhiên, lo âu, tủi hờn trước việc con trai mình
có vợ. Niềm vui sống, khát vọng sống của các nhân vật hay chính là âm hưởng
của một bài ca sự sống?
1.2. CÁCH ỨNG XỬ CAO ĐẸP CHAN CHỨA TÌNH NGƯỜI ĐỐI LẬP VỚI
HOÀN CẢNH KHẮC NGHIỆT
Cuộc hôn nhân của Tràng và người “vợ nhặt” diễn ra thật nhanh chóng,
chỉ sau có hai lần “tầm phơ tầm phào”, chỉ sau có mấy câu nói đùa. Nếu trước
sau chỉ là một trò đùa, thì con người đã thành bèo bọt. May thay các nhân vật
đã bước ra khỏi trò đùa kia với tư cách con người thể hiện rõ nét trong cách
ứng xử của họ với nhau. Cách ứng xử của mỗi nhân vật gồm ngôn ngữ ứng
xử, hành động ứng xử và thái độ ứng xử đã đối lập với hoàn cảnh khắc nghiệt
bởi Èn chứa trong đó là chan chứa tình người.
18
Khi cô gái đồng ý “cùng về” với mình. Còn bao nhiêu tiền, Tràng dồn
vào ba việc: mua cho vợ mét cái thóng, ăn với nhau một bữa cơm


cứ đôi lứa nào trên cõi đời này.
Khi hai vợ chồng về tới nhà, Tràng “tươi cười” giới thiệu vợ với mẹ
nhưng anh chưa vội mà nói: “Thì u hẵng vào ngồi lên giường lên diếc chĩnh
chện cái đã nào”. Không thể phủ nhận đây là thứ ngôn ngữ thô mộc của người
nông dân lam lò, nó thô ráp, xù xì như chính bản chất chân thật của họ nhưng
qua cách nói, cách mời mẹ “ngồi lên giường lên diếc chĩnh chệ” ta nhận thấy
một tấm lòng, một đức tính của con đối với mẹ đó là sự kính trọng, lễ phép.
Bởi Tràng biết đây là chuyện hệ trọng nên anh đã có cách bắt đầu để giới thiệu
không kém phần nghiêm trang. Ai dám bảo anh cu Tràng không biết đến lễ
nghi? Sau đó anh từ tốn nói: “Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ.
Chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau…Chẳng qua nó cũng là cái số cả…”.
Giọng tuy ngập ngừng nhưng lời lẽ thật chững chạc. mỗi chữ, mỗi câu vừa Êm
tình người, vừa sâu nghĩa lí. “Nhà tôi…làm bạn…duyên…kiếp… cái số cả…”,
mỗi lời nói của Tràng nh những ngọn lửa vừa để sưởi Êm, chở che cho người
con gái đang cô quạnh ngượng ngùng, vừa để soi sáng cái đầu óc chậm chạp,
già nua của bà cụ Tứ. Với những ngôn ngữ Êy thể hiện một quyết tâm trong
lòng Tràng. Nói tới “duyên – kiếp” là chạm vào vùng thiêng liêng nhất trong
mảnh đất của đôi lứa gái trai. “Duyên” là sự hấp dẫn, sự lôi cuốn, gọi mời, là
tình yêu giữa hai người. “Kiếp” là đời sèng cơ cực cùng cảnh ngộ, cùng hội
cùng thuyền mà tạo hoá xô đẩy trôi đến gần nhau, cảm thông với nhau, rồi
chia sẻ và thương nhau. Từ câu chuyện “tầm phào” ở bên đường bữa nọ, rồi
tới lúc đưa cô ả đi qua ngõ xóm và nói lời bỡn cợt “vợ mới, vợ miếc”, giờ đây
giữa mái Êm của căn nhà, trước mặt mẹ, bằng ngôn ngữ giới thiệu nghiêm
túc, Tràng đã thực sù coi mối quan hệ giữa mình với người con gái như có
tiền định, có lương duyên do trời sắp xếp, do đời run rủi, ràng buộc. Với mẹ,
mặc dù không lo được vợ cho mình nhưng Tràng không trách mà vẫn kính
trọng, yêu thương; với vợ dù theo không nhưng anh không rẻ rúng mà vẫn tôn
trọng, thân tình. Tưởng rằng cuộc sống khốn khó đã làm mất đi những tình
20
cảm thiêng liêng Êy nhưng qua ngôn ngữ ứng xử và hành động ứng xử của

nhiên”. Thái độ và cung cách nh thế chỉ có thể có ở người có ý thức về cảnh
ngộ mình và thân phận mình. Té ra, những chao chát, chỏng lỏn, cong cớn kia
chỉ là những du nhập từ bên ngoài vào, nh một thứ vũ khí để tự vệ, để đối phó
với cảnh sống khắc nghiệt kia. Bản tính sâu xa đến giờ mới hiện ra, mà có lẽ
cuộc hôn nhân này mới làm hồi sinh thì phải! Nh thế, nảy nở bởi một trò đùa,
nhưng bên trong con người vốn dĩ là một cái mầm nghiêm túc luôn khát sống
và khát làm Người. Ta mới hiểu được vì sao, cô tự rơi vào một hoàn cảnh rất
dễ bị khinh rẻ, nhưng người đọc và cả người trong truyện không thấy khinh
mà lại thấy thương, rồi thấy qúy, dù lắm lúc thấy buồn cười.
Ngôn ngữ ứng xử và hành động ứng xử của cô không những thể hiện
lòng tự trọng của một con người mà như một luồng gió mới thổi vào gian lều
rách nát, vào cuộc sống u ám của hai mẹ con Tràng: cô dịu dàng ngoan ngoãn
nghe lời nhắc nhở của chồng; lời khuyên nhủ, dặn dò của mẹ chồng. Cô dậy
sím làm mọi việc đúng như một người vợ hiền tần tảo đảm đang: giặt quần áo
cho chồng, gánh nước đổ đầy chum, dọn vườn, quét sân, nấu cơm, dọn cơm…,
Tràng thực sự bõng tỉnh như trở thành con người khác. Còn bà cụ Tứ xăm xắn
quét dọn, “tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt u ám bủng beo của bà rạng rỡ
hẳn lên”.
Với bà cụ Tứ, tuy con trai có được vợ theo không một cách dễ dàng
nhưng trong ngôn ngữ ứng xử và hành động ứng xử không có một biểu hiện gì
là coi thường hay rẻ rúng người con dâu “nhặt” được. Trong hoàn cảnh đói
khát mà con trai mình lại “đèo bòng” hẳn bà không thể không buồn và lo lắng.
Nhưng với tấm lòng bao dung, nhân hậu của một người mẹ bà nén lại nỗi
buồn tủi, xót xa; mỗi lời bà nói đều mang lại niềm vui cho các con: “U cũng
mừng lòng”, thể hiện tình thương, sự đồng cảm với con dâu: “Con ngồi xuống
đây. Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân”. Mẹ chồng và nàng dâu tuy mới gặp
mặt nhưng không hề có khoảng cách, cứ như họ đã quen biết, hiểu nhau từ lâu
lắm rồi.Trong bữa ăn, bà nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau này
22
để an ủi, động viên các con: “Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà…, ngoảnh đi

thường trở nên đẹp đẽ, đáng yêu bởi hàm chứa trong nó là vẻ đẹp của sự sống.
Mét trong những biểu hiện của vẻ đẹp Êy là sự sống mạnh mẽ, không ngừng
sinh sôi nảy nở, không một thế lực nào có thể huỷ diệt. Sự sống trong “Vợ
nhặt” là như vậy.
Cái hoạ chết đói năm 1945 quả là khủng khiếp. Không chỉ đói xóm, đói
làng mà đói nửa nước. Từ Bắc Trung Bộ trở ra, từ thu đông 1944 đến xuân hè
1945 hơn hai triệu người nằm xuống.
Kim Lân chọn bối cảnh Êy cho truyện “Vợ nhặt”. Không nhiều dòng
miêu tả trực tiếp nhưng là những dòng rất hiếm trong văn chương từ đó đến
nay. Cái nghèo ở Ngô Tất Tố, cái đói ở Nam Cao khiến ta thương cảm rơi
nước mắt. Cái đói và cái chết ở Kim Lân khiến người đọc khiếp sợ, rụng rời.
Cái đói, cái chết hiện ra với nhiều bộ mặt, nhiều biến thể: khi thì trong
hình ảnh xác những người chết đói nằm la liệt trên bãi chợ; khi thì ở bãng
những người đói rật rê như những bãng ma đằng sau gốc đa hay gốc gạo, khi
lại hiện ra trong hình ảnh bầy quạ bu kín trên ngọn cây, chỉ chờ những người
đói đổ xuống là ùa tới moi gan, rỉa thịt, khi lại hiện trong hình ảnh khói của
những nhà đốt đống rấm để xua đi mùi tử khí. Chưa chết thì ủ rũ, hốc hác, thở
than tuyệt vọng. Đến nh Tràng “to lớn, lưng rộng nh lưng gấu” cũng chỉ “đi
từng bước một, đầu chúi về đằng trước” nh bị những lo lắng đè hẳn người
xuống. Cô gái nhanh nhảu, táo tợn mới mấy hôm đã “tả tơi, gầy sọp, xám xịt”.
Không gian toàn một màu ảm đạm, chết chóc. Cái chết lan tràn khắp nơi, cái
sống chỉ còn thoi thóp, leo lét. Trong hoàn cảnh, đến việc nuôi sống bản thân
mình còn chẳng xong Êy, một chuyện trái đời đã xảy ra: việc lấy vợ, lấy
chồng, việc Tràng dám “đèo bòng”. Lấy vợ lấy chồng là việc trọng đại của
một đời người. Không những thế còn là khao khát chính đáng của mỗi cá nhân
về một mái Êm gia đình có vợ chồng, con cái yêu thương nhau, hoà hợp và
hạnh phúc. Con người ta sống có thể thiếu ăn, thiếu mặc nhưng không thể
24
thiếu được tình yêu, hạnh phúc lứa đôi. Có ý kiến cho rằng, sự kết hợp giữa
Tràng và cô gái trong hoàn cảnh Êy là liều lĩnh, là thách thức, tuyên chiến với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status