Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
====== ======
HOÀNG THỊ HỒNG MINH HƢỚNG DẪN HỌC SINH PHÂN TÍCH
VÀ THẢO LUẬN CÁC TẦNG Ý NGHĨA NHÂN SINH
TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN
“CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA” CỦA
NGUYỄN MINH CHÂU
Chuyên ngành: Lí luận và Phƣơng pháp dạy học Văn & Tiếng Việt
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN MINH CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC THÁI NGUYÊN - 2008
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
1.1.Tác giả Nguyễn Minh Châu. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 1
1.2. Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
2. Lịch sử vấn đề . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .7
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu . .. .. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
2.3. Phân tích chủ đề truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” . . . . . . . 36
3. Những biểu hiện cụ thể của các tầng ý nghĩa nhân sinh trong truyện ngắn
“Chiếc thuyền ngoài xa” . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 39
3.1. Những chiêm nghiệm về chân lý nghệ thuật qua hai phát hiện của
nghệ sĩ Phùng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 40
3.2. Những chiêm nghiệm về chân lý đời sống qua câu chuyện về cuộc
đời người đàn bà hàng chài .. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 43
3.2.1. Ca ngợi những giá trị đạo đức tốt đẹp của con người qua hình
tượng nhân vật trung tâm: người đàn bà hàng chài . .. . . . . . . . 43
3.2.2. Lên án bạo lực trong gia đình qua hình tượng nhân vật người đàn
ông hàng chài . . . . . . . . . . .. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 52
3.2.3. Cảnh báo những nguy cơ xã hội tiềm ẩn . . . . . . . . . . . . . . . . .. 54
3.2.3.1. Hình tượng nhân vật chú bé Phác . . . . . . . . . . . . . . . . .54
3.2.3.2. Hình tượng nhân vật người con gái . . . . . . . . . . . . . .. ..55
3.2.4. Sự thức tỉnh để nhận ra chân lý mới: chân lý về nghệ thuật và
chân lý về cuộc sống . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . . . . . . . . . . . ..56
3.2.4.1. Đối với người chánh án . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 56
3.2.4.2. Đối với người nghệ sĩ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. 58
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
3.2.4.3. Quan niệm nghệ thuật mới mẻ của Nguyễn Minh Châu về
con người và cuộc sống . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 58
3.3. Mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống . . . . . . . . .. . . . . . . . . 59
4. Mối quan hệ đa dạng và thống nhất giữa các tầng ý nghĩa nhân sinh trong
truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”61
Chƣơng III: Thiết kế dạy học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”
1. Thiết kế. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . … 63
2. Giải thích thiết kế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .91
3. Hướng dẫn thực hiện thiết kế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ... . . . . . . . . . 92
Phần chung của thực hiện thiết kế . . . . . . . . . . . . . … . . . . . . . . .92
người, lúc này khó có thể đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống mới với
những vấn đề phức tạp, bức xúc bộn bề. Trong cuộc đấu tranh lâu dài giữa đời
thường, bao vấn đề nhân sinh đã đặt ra cho mỗi người nói chung và cho các
nhà văn như Nguyễn Minh Châu nói riêng. Nguyễn Minh Châu đã có sự
chuyển hướng về tư duy nghệ thuật: từ cuộc “chiến đấu cho quyền sống của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
cả dân tộc”, nhà văn cùng đất nước chuyển sang cuộc “chiến đấu cho quyền
sống của từng con người” {12, 390} .
Là một nhà văn tâm huyết suốt đời trăn trở, băn khoăn như ngọn nến tự
đốt thân mình để cháy sáng; Nguyễn Minh Châu đã sớm ý thức được yêu cầu
phải đổi mới tư duy văn học và đã âm thầm tự đổi mới và tự tìm hướng đi cho
chính mình với một loạt truyện ngắn đậm chất đời tư-thế sự: Cỏ lau, Cơn
giông, Bức tranh, Bến quê…
Những tác phẩm của ông giai đoạn này hấp dẫn người đọc bởi sự giản dị
mà chứa đựng chiều sâu nhân bản. Tâm điểm khám phá nghệ thuật của ông là
những con người bình thường trong cuộc mưu sinh và trong hành trình nhọc
nhằn kiếm tìm hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách. Đặc biệt những năm cuối
đời, dòng mạch văn chương của ông xót xa trầm lắng trong bến bờ sâu thẳm
của nó – nơi ông hằng ám ảnh và manh nha tìm kiếm vấn đề số phận con
người. Thực tế văn học cho thấy: quá trình đổi mới ý thức nghệ thuật của
Nguyễn Minh Châu là quá trình trở về cội nguồn chủ nghĩa nhân văn, nối lại
truyền thống văn học trung đại thấm đẫm tình người tình đời, và là sự khơi
nguồn cảm hứng nhân văn cho những sáng tác trong những thập kỷ sau này.
Đánh giá về những tác phẩm của ông được viết vào những năm đầu của
thập kỷ 80 nhà văn Nguyên Ngọc đã nhận xét:“Nguyễn Minh Châu là một
trong những nhà văn mở đường tinh anh và tài năng nhất của văn học nước
ta thời kỳ sau 1975”.
Các tác phẩm của ông trong mấy thập kỷ qua đã thu hút sự tìm tòi, nghiên
cứu một cách khoa học, sâu sắc và khách quan của các nhà phê bình và
sinh cùng suy nghĩ, tìm cách lý giải. Để từ đó học sinh tự nhận thức, tự giáo
dục và tự phát triển.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
Những đặc sắc trong đổi mới về nội dung và nghệ thuật trong cách viết
của ông đã được một số bài viết đề cập đến ở nhiều khía cạnh, nhưng phương
pháp giúp học sinh tiếp cận các tầng ý nghĩa nhân sinh của tác phẩm này thì ít
người đề cập đến và chưa được nhất trí với nhau. Thực hiện đề tài hướng dẫn
học sinh phân tích và thảo luận các tầng ý nghĩa nhân sinh trong tác phẩm
này, tôi mong tìm hiểu sâu sắc hơn và giúp học sinh phân tích, thảo luận các
tầng ý nghĩa nhân sinh của tác phẩm đầy đủ hơn.
2. Lịch sử vấn đề.
Là một nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, kể từ truyện
ngắn đầu tay được đăng lần đầu tiên năm 1960, cho đến khi tạ thế 1989,
Nguyễn Minh Châu đã có 30 năm hoạt động trên các lĩnh vực báo chí và văn
học nghệ thuật. Với những đóng góp to lớn cho nền văn học nước nhà,
Nguyễn Minh Châu đã được nhận nhiều giải thưởng có giá trị.
- Giải thưởng Bộ Quốc phòng(1984-1989) cho toàn bộ tác phẩm của ông
viết về chiến tranh và người lính.
- Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam(1988-1989) cho tập truyện vừa
“Cỏ Lau”.
- Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật cho các tác phẩm:
“Dấu chân người lính, Cửa sông, Cỏ lau, Người đàn bà trên chuyến tầu tốc
hành”.
Toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu được in trong
“Nguyễn Minh Châu toàn tập” ( 5 tập) do NXB Văn học phát hành năm
2001 đã khẳng định vị trí của ông trong nền Văn học dân tộc.
Các sáng tác của Nguyễn Minh Châu luôn gây được sự chú ý và hấp dẫn
đối với bạn đọc nói chung và giới phê bình nói riêng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Nếu những tác phẩm trước năm 1975 của Nguyễn Minh Châu đi theo
dòng chảy lịch sử giàu cảm hứng lãng mạn và đậm chất sử thi - anh hùng ca
được thể hiện qua hình tượng người lính mang trong mình những phẩm chất
cao đẹp, ý chí sức mạnh phi thường, kết tinh những vẻ đẹp tinh thần và lý
tưởng cao cả của dân tộc Việt Nam đã gây được những tiếng vang lớn (Cửa
sông, Dấu chân người lính, Mảnh trăng cuối rừng); thì ở những tác phẩm viết
sau 1975, nhà văn không đi theo những khuôn mẫu định hình sẵn có trước
đây. Đổi mới tư duy nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 xuất
phát từ nhận thức sâu sắc: “Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm,
mà tâm điểm là con người([20,111]. Sau 1975, con người trở về với cuộc
sống đời thường, phải đối mặt với bao phức tạp trong cuộc sống thường nhật.
Bởi vậy hình tượng con người trong sáng tác của ông giai đoạn này không
còn mang vẻ đẹp lý tưởng hoàn hảo mà được khám phá trong nhiều hoàn
cảnh, với nhiều mối quan hệ phức tạp với những uẩn khúc tâm lý, những bi
kịch tâm hồn, những số phận trớ trêu qua đó thể hiện những chiêm nghiệm về
cuộc đời.
Quan tâm đến những số phận bất hạnh, lòng cảm thông thương xót của
Nguyễn Minh Châu không chỉ dừng lại ở những mất mát, những số phận bi
kịch của con người trong và sau chiến tranh, mà đã tìm về cuộc sống thường
nhật trong mỗi gia đình, với tâm sự và số phận mỗi cá nhân, với niềm thao
thức thế sự. Ông luôn cảm thông chia sẻ với những bi kịch đời thường và thể
hiện niềm tin sâu sắc vào con người và cuộc sống. Quan niệm nghệ thuật về
con người và phương thức thể hiện của Nguyễn Minh Châu có nhiều đổi mới
mục đích: đi sâu vào khám phá thế giới nội tâm đầy uẩn khúc với khát vọng
“Tìm ra con người trong con người” (Bakhtin). Qua việc đi sâu vào khám phá
con người cá nhân đời tư, con người bên trong không đồng nhất với chính
mình; ông thấy được trong tâm hồn mỗi con người cái cao cả và thấp hèn, lý
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
trí và bản năng,“rồng phượng và rắn rết”, “thiên thần và ác quỷ”; để từ đó
tích cực, sáng tạo của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giờ học tác
phẩm văn chương.
4.2. Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu nét đặc sắc về giá trị nội dung và hình thức nghệ thuật
trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, từ đó đề
xuất các biện pháp phân tích và thảo luận để học sinh phát hiện, bình giá các
tầng ý nghĩa nhân sinh của truyện.
- Thực nghiệm dạy học nhằm khẳng định tính khả thi và hiệu quả qua
việc hướng dẫn học sinh phân tích và thảo luận như là hai phương pháp chủ
yếu và có mối quan hệ với nhau để cùng giáo viên khám phá chiều sâu của tác
phẩm.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của hoạt động phân tích và thảo luận.
2. Nghiên cứu thực tiễn qua việc thống kê khảo sát mức độ nắm vững
những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, qua việc tìm hiểu
thực trạng việc đặt câu hỏi hướng dẫn học sinh phân tích và thảo luận, qua
quan sát tính tích cực của học sinh, nhằm đánh giá khả năng vận dụng biện
pháp phân tích và thảo luận phù hợp với nội dung của đề tài.
6. Bố cục luận văn: Luận văn gồm ba phần:
* Phần mở đầu : Luận văn trình bày các nội dung sau:
- Lý do chọn đề tài
- Lịch sử vấn đề
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu.
- Bố cục của luận văn
* Phần nội dung: Gồm ba chương:
Chương 1: Tiền đề lý luận và thực tiễn của đề tài.
công việc tháo rỡ một cấu trúc để lần ra mối dây liên kết các thành phần. Từ
những nguyên liệu, bộ phận đã được tách rời ấy, người đọc bằng cảm nhận đã
sáng tạo riêng ra cấu trúc mới, điều này làm sáng tỏ nhiều ý nghĩa tiềm ẩn của
cấu trúc cũ. Nghĩa là: giữa văn bản của nhà văn và văn bản tạo lại của người
đọc không bao giờ tách nhau, nhưng cũng không bao giờ trùng khít nhau. Hai
thế giới nghệ thuật ấy sẽ soi sáng nhau, tạo nên một môi trường thẩm mỹ
dành cho độc giả.
Quá trình phân tích cũng là quá trình người đọc vừa khám phá cái đẹp của
tác phẩm bằng cách của chính mình, vừa hiểu thấu cái đẹp của sự sáng tạo,
vừa sáng tạo thêm cái đẹp cho tác phẩm. Khi phân tích tác phẩm văn học,
nhiều nhà nghiên cứu thường chú ý tìm hiểu những yếu tố ngoài văn bản như
hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. Đây là định hướng ban đầu tạo điều kiện có
thể hiểu đúng, hiểu sâu tác phẩm. Song cạnh đó, khi phân tích phải đặc biệt
chú ý những yếu tố bên trong cấu trúc văn bản, bởi đây là một trong những
khâu quan trọng, có ý nghĩa quyết định.
Theo GS Trần Đăng Xuyền [34, 121] thì việc phân tích trực tiếp tác
phẩm được tiến hành theo 3 bước: Tổng – Phân – Hợp
* Bước 1: Đọc kỹ tác phẩm, cảm thụ tác phẩm qua trực giác bằng tình
cảm, lý trí trong tính chỉnh thể toàn vẹn của nó để nhận ra diện mạo, âm
hưởng, và tinh thần chung, cùng với những nét đặc sắc về nghệ thuật.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Ấn tượng tổng hợp ban đầu về tác phẩm được hình thành trên cơ sở lắng
nghe tiếng nói của trực giác, của cảm xúc và sự rung cảm khi đọc tác phẩm, là
sự cảm nhận trực tiếp về vẻ đẹp và ý nghĩa hình tượng của tác phẩm. Tuy vậy
tình cảm, cảm xúc của chủ thể tiếp nhận còn dựa trên cơ sở hiểu biết khoa học
và quan niệm thẩm mỹ đúng đắn trên cơ sở của một vốn văn hoá sâu rộng và
vốn sống phong phú, chứ không phải là thứ tình cảm vu vơ. Cần tiếp nhận tác
phẩm văn học trên tổng thể, trong tính chỉnh thể của nó. Bởi mỗi tác phẩm
văn học là một chỉnh thể nghệ thuật tạo ra một xã hội riêng, một thế giới riêng
thể hiện tư tưởng tình cảm của mình. Hình tượng nghệ thuật là bức tranh về
đời sống được nhà văn sáng tạo một cách khái quát, điển hình và là kết tinh
của những ấn tượng sâu sắc về cuộc đời đã làm nhà văn phải trăn trở, day dứt.
Nó vừa cụ thể, vừa khái quát, có đặc điểm phi vật thể; nên khi phân tích hình
tượng nghệ thuật phải chú ý mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, tránh sa
đà vào sự kiện hoặc miêu tả lại nhân vật, tường thuật lại biến cố.
Phân tích hình tượng phải nắm được phương thức tạo hình tượng của tác
giả và phải đặt hình tượng trong mối tương quan chung của toàn tác phẩm
cũng như trong bối cảnh của xã hội. Khi phân tích tránh áp đặt cứng nhắc
những kiểu ý nghĩa cho hình tượng, làm mất đi, giảm đi ý nghĩa khái quát của
hình tượng và lệch đi so với dụng ý của tác giả.
Có hai loại hình tượng nghệ thuật khi phân tích phải nắm được đặc trưng
của nó: đó là hình tượng nhân vật và hình tượng cảm xúc. Khi phân tích hình
tượng nhân vật, phải chú ý phân tích quá trình phát triển của hình tượng tính
cách, mức độ điển hình hoá và giá trị thẩm mỹ của hình tượng. Còn khi phân
tích hình tượng cảm xúc phải chú ý đến cảm xúc chủ quan của tác giả.
- Phân tích chi tiết nghệ thuật:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Chi tiết nghệ thuật đóng vai trò hết sức quan trọng, nhất là những tác
phẩm tự sự là sự đan kết của hàng loạt chi tiết (riêng đối với những truyện
ngắn thì việc lựa chọn chi tiết càng đòi hỏi chặt chẽ)
Tuy nhiên không phải mọi chi tiết đều đem ra phân tích, mà phải phát hiện
ra những chi tiết mang chức năng nghệ thuật nổi bật, chi tiết tập trung hàm
lượng thông tin thẩm mỹ cao nhất.
Khi dạy những tác phẩm văn chương bắt buộc phải phân tích được những
chi tiết đặc sắc cơ bản của tác phẩm để nắm được chủ đề tư tưởng của tác
phẩm. Bỏ qua chi tiết quan trọng thì coi như chưa phân tích tác phẩm văn
chương.
Mỗi tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật, trong đó các yếu tố,
tác phẩm.
+ Phối hợp các thao tác đã phân tích, khái quát hoá, tổng hợp để thấy được
chiều sâu của tác phẩm và dụng ý của tác giả.
Tổng hợp trên cơ sở đã phân tích các chi tiết của tác phẩm nhằm đưa
ra những tổng kết, nhận định, đánh giá khái quát, nâng cao giá trị của tác
phẩm giúp người đọc có nhận định, đánh giá đúng đắn, sâu sắc về tác phẩm
văn học hay hiện tượng văn học
Khi phân tích nên vận dụng 3 bước trên một cách linh hoạt.
1.2. Phƣơng pháp thảo luận:
Là một trong những phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của người học theo hướng dạy học lấy hoạt động của học sinh
làm trung tâm, dạy học thông qua việc tổ chức các hoạt động nhằm phát huy
tính tích cực của học sinh. Trong cách dạy học tích cực có sự giao tiếp thường
xuyên qua lại giữa thày và trò, giữa trò với trò. Bài học được xây dựng từ
những đóng góp của học sinh thông qua các hoạt động học tập do thầy tổ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
chức và hướng dẫn; qua đó học sinh vừa nắm đựơc phương pháp đi tới kiến
thức. Theo phương pháp dạy học tích cực, dạy học không chỉ đơn giản là
cung cấp kiến thức mà còn phải hướng dẫn hành động.
Trong quá trình học tập, những ý nghĩ hình thành trong đầu óc học sinh
được diễn đạt thành lời dưới dạng nói thầm, nhưng vẫn chỉ là ở trạng thái tiềm
ẩn; chỉ khi chúng được đem ra trao đổi trong đối thoại, thảo luận thì chúng
mới không còn ở dạng tiềm ẩn nữa. Vì vậy trong quá trình dạy học cần tạo ra
những câu hỏi nêu vấn đề để kích thích suy nghĩ của học sinh; giáo viên
khuyến khích giúp đỡ học sinh bày tỏ ý kiến cá nhân về vấn đề đang cần được
giải quyết để học sinh tự đánh giá, trao đổi, thảo luận và đề xuất các giải
pháp. Thông qua thảo luận học sinh được bày tỏ suy nghĩ và hiểu biết của
mình trước mọi người để được chia xẻ, bổ sung, uốn nắn.
Theo GS.TS Trần Bá Hoành thì “Thảo luận là một dạng tương tác nhóm,
về chất lượng ý kiến đã diễn đạt của mình. Học sinh phải tập diễn đạt ý kiến
bằng ngôn ngữ của mình thay vì nhắc lại lời trong SGK hoặc trong bài giảng
của giáo viên; học sinh phải biết sử dụng vốn từ vựng phù hợp với lĩnh vực
của vấn đề đang thảo luận, biết minh hoạ ý kiến của mình bằng các ví dụ,
hình ảnh, sơ đồ, biết tạo cơ hội cho những thành viên khác trong lớp thảo luận
nêu ra những ý kiến, hiểu biết của họ về vấn đề mình vừa mới trình bày. Tiến
hành hợp lý, sáng tạo phương pháp thảo luận sẽ lôi cuốn học sinh tham gia
tích cực vào hoạt động đánh giá và tự đánh giá.
Hoạt động thảo luận tạo ra hứng thú khám phá, đem lại niềm vui, thúc
đẩy động cơ bên trong của quá trình học tập. Qua việc thảo luận học sinh hiểu
sâu, nhớ lâu, biết vận dụng linh hoạt những kiến thức đã học, đồng thời phát
triển năng lực tư duy, năng lực giải quyết các vấn đề trong cuộc sống.
Hoạt động thảo luận có thể tiến hành theo các bước sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
1. Gv: Nêu vấn đề (chọn một số vấn đề cơ bản có chiều sâu, mang tính gợi
mở để thảo luận) để học sinh phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh.
2. Hs: Phát biểu vấn đề, đề xuất cách giải quyết (Học sinh bộc lộ quan
niệm, thái độ, tình cảm và kinh nghiệm sống của bản thân mình trước những
vấn đề nêu ra)
Gv: Tôn trọng câu trả lời của học sinh. Lắng nghe mọi ý kiến và khéo
léo khuyến khích, gợi ý, dẫn dắt để học sinh cùng trả lời và lôi cuốn các học
sinh khác cùng tham gia. Song giáo viên phải có định hướng để điều khiển
quá trình thảo luận giúp học sinh bám sát yêu cầu đã nêu ra
Giáo viên có thể gợi ý một số giải pháp để học sinh lựa chọn.
3. Kết luận:
Hs: Thảo luận và đánh giá kết quả : Khẳng định hay bác bỏ những cách
giải quyết đã nêu ra.
Gv: Phát biểu kết luận và đề xuất những vấn đề mới.
Thực tế dạy học cho thấy: trong một lớp học có những học sinh nói quá
Đánh giá và kết luận.
Nêu ra vấn đề mới.
Ưu điểm và hạn chế của phương pháp thảo luận nhóm:
* Ưu điểm:
- Giờ học sôi nổi, tạo cơ hội cho mọi thành viên trong nhóm làm quen,
trao đổi, hợp tác với nhau, bộc lộ sự hiểu biết và quan điểm của mình về nội
dung và phương pháp học tập, giúp họ có nhiều cơ hội rèn luyện kỹ năng diễn
đạt và cách tư duy của mình.
- Tạo điều kiện thuận lợi để học sinh học hỏi lẫn nhau, biết lắng nghe và
đánh giá ý kiến người khác, thể hiện quan điểm cũng như điều chỉnh suy nghĩ
của mình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
- Giáo viên nhận biết được những thông tin phản hồi về tri thức và kinh
nghiệm từ phía học sinh về nội dung bài học qua các phát biểu độc lập, sáng
tạo của học sinh.
* Hạn chế:
- Dù có nhiều ưu điểm, nhưng phương pháp thảo luận nhóm cũng có
những hạn chế khó khăn, nhất định.
- Để thảo luận có hiệu quả, giáo viên phải có kỹ năng chuyển tri thức
của mình thành những tình huống có vấn đề.
- Hiệu quả dạy học phụ thuộc vào tinh thần tham gia của mọi thành viên
trong nhóm.
* Để phương pháp thảo luận có hiệu quả, giáo viên phải lưu ý:
- Chia nội dung bài dạy thành những vấn đề nhỏ có kiên kết với nhau.
Mỗi vấn đề nhỏ có thể coi là một chủ đề thảo luận.
- Tại một thời điểm, có thể giao cho nhiều nhóm cùng thảo luận một chủ
đề, hoặc cũng có thể giao cho mỗi nhóm thảo luận một chủ đề. Sự liên kết
giữa các nhóm sẽ tạo sự thống nhất và kết quả chung của bài dạy.
Áp dụng phương pháp thảo luận, trong giờ học học sinh được tranh luận
phẩm văn”[16, 108].
Dạy văn và dạy học tác phẩm văn chương còn phải đạt mục đích giáo
dục phẩm chất, nhân cách con người về tư tưởng, đạo đức, tình cảm thẩm mỹ.
Qua các giờ dạy - học văn, giáo viên phải thường xuyên giáo dục học sinh và
giúp học sinh tự giáo dục bằng các tri thức tiếp nhận được từ văn học: lòng
yêu nước, tinh thần nhân văn, lý tưởng sống cao đẹp, có thị hiếu thẩm mỹ cao,
lành mạnh, có văn hoá, có cá tính tích cực để từng bước hình thành nhân cách
người lao động mới.