ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
====== ======
====== ======
HOÀNG THỊ HỒNG MINH
HOÀNG THỊ HỒNG MINH
HƢỚNG DẪN HỌC SINH PHÂN TÍCH
VÀ THẢO LUẬN CÁC TẦNG Ý NGHĨA NHÂN SINH
TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN
“CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA” CỦA
NGUYỄN MINH CHÂU
HƢỚNG DẪN HỌC SINH PHÂN TÍCH
VÀ THẢO LUẬN CÁC TẦNG Ý NGHĨA NHÂN SINH
TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN
“CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA” CỦA
NGUYỄN MINH CHÂU
Chuyên ngành: Lí luận và Phƣơng pháp dạy học Văn & Tiếng Việt
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Định nghĩa kết cấu tác phẩm văn học . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 33
1.2. Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
Kết cấu của truyện ngắn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 33
2. Lịch sử vấn đề . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .7
Kết cấu của truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”. . . . . . . . . . .
34
2. Phân tích chủ đề của truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” . . . . . . . . . 35
7
2.1.
Định nghĩa chủ đề . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 35
5. Phương pháp nghiên cứu. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
2.2.
Chủ đề truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” . . . . . . . . . . .. . . . . .35
3.2.1. Ca ngợi những giá trị đạo đức tốt đẹp của con người qua hình
tượng nhân vật trung tâm: người đàn bà hàng chài . .. . . . . . . . 43
3.2.2. Lên án bạo lực trong gia đình qua hình tượng nhân vật người đàn
văn chương. . . . . . . .. . . . . . . . . . . . . . . . . . .. 21
2. Các tầng ý nghĩa nhân sinh trong tác phẩm văn chương:. . . .. . . . . . . 26
Quan niệm về ý nghĩa nhân sinh trong tác phẩm văn chương .........26
Những biểu hiện cụ thể của ý nghĩa nhân sinh trong tác phẩm văn chương .
ông hàng chài . . . . . . . . . . .. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 52
3.2.3. Cảnh báo những nguy cơ xã hội tiềm ẩn . . . . . . . . . . . . . . . . .. 54
3.2.3.1. Hình tượng nhân vật chú bé Phác . . . . . . . . . . . . . . . . .54
3.2.3.2. Hình tượng nhân vật người con gái . . . . . . . . . . . . . .. ..55
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. .26
Cách thức phân tích và thảo luận các tầng ý nghĩa nhân sinh trong tác
3.2.4. Sự thức tỉnh để nhận ra chân lý mới: chân lý về nghệ thuật và
chân lý về cuộc sống . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . . . . . . . . . . . ..56
phẩm văn chương. . . .. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 27
Tầm quan trọng của ý nghĩa nhân sinh trong tác phẩm văn chương và trong
3.2.4.1. Đối với người chánh án . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 56
3.2.4.2. Đối với người nghệ sĩ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. 58
việc giáo dục, đào tạo nhân cách học sinh . ...31
3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2. Giải thích thiết kế .
PHẦN MỞ ĐẦU
chiếu quá trình phát triển văn xuôi Việt Nam đương đại.
63
Là một nhà văn suốt đời khát khao khám phá cái đẹp và sự chân thực
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .91
trong cuộc sống, ông viết các tác phẩm với mong muốn:“Đi tìm chất ngọc ẩn
3. Hướng dẫn thực hiện thiết kế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ... . . . . . . . . . 92
Phần chung của thực hiện thiết kế . . . . . . . . . . . . . … . . . . . . . . .92
Phần cụ thể: Hướng dẫn học sinh vận dụng PP phân tích và PP thảo luận
trong việc tìm hiểu các tầng ý nghĩa nhân sinh của truyện . . 95
Tự đánh giá về những ưu điểm và những bất cập của thiết kế
trong bề sâu tâm hồn con người”
Trước 1975, các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu mang đậm chất sử thi
và cảm hứng lãng mạn. Nguyễn Minh Châu được bạn đọc biết đến và yêu
mến qua các tiểu thuyết: Cửa sông, Dấu chân người lính và truyện ngắn giàu
. 99
chất sử thi như Mảnh trăng cuối rừng …đã góp phần dựng lên bức tượng đài
về sức mạnh và vẻ đẹp của dân tộc trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại.
PHẦN KẾT LUẬN
được chọn để giảng dạy trong nhà trường: Mảnh trăng cuối rừng, Bến quê,
Là một nhà văn tâm huyết suốt đời trăn trở, băn khoăn như ngọn nến tự
Bức tranh, Chiếc thuyền ngoài xa. Đặc biệt là truyện ngắn “Chiếc thuyền
đốt thân mình để cháy sáng; Nguyễn Minh Châu đã sớm ý thức được yêu cầu
ngoài xa” –một tác phẩm mới được chọn đưa vào dạy trong các trường
phải đổi mới tư duy văn học và đã âm thầm tự đổi mới và tự tìm hướng đi cho
THPT. Đây là một tác phẩm đương đại, đề ra những vấn đề trong cuộc sống
chính mình với một loạt truyện ngắn đậm chất đời tư-thế sự: Cỏ lau, Cơn
hôm nay, nên không xa lạ với học sinh. Đây cũng là tác phẩm hay và khó so
giông, Bức tranh, Bến quê…
với sự tiếp nhận của học sinh, vì nó chứa đựng nhiều mặt, nhiều tầng ý nghĩa
Những tác phẩm của ông giai đoạn này hấp dẫn người đọc bởi sự giản dị
ẩn không dễ tiếp cận.
mà chứa đựng chiều sâu nhân bản. Tâm điểm khám phá nghệ thuật của ông là
2.2. Truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài xa”.
cảnh tăm tối đói khổ, bấp bênh. Phía sau câu chuyện buồn này, trái tim nhân
Đánh giá về những tác phẩm của ông được viết vào những năm đầu của
hậu của Nguyễn Minh Châu vẫn ấm áp niềm tin yêu, sự trân trọng trước vẻ
thập kỷ 80 nhà văn Nguyên Ngọc đã nhận xét:“Nguyễn Minh Châu là một
đẹp của tình mẫu tử, sự can đảm và bao dung của người phụ nữ. Đó không
trong những nhà văn mở đường tinh anh và tài năng nhất của văn học nước
phải là kiểu vẻ đẹp chói sáng, hào hùng; mà là những hạt ngọc khuất lấp, lẫn
ta thời kỳ sau 1975”.
trong cái lấm láp, lam lũ của đời thường.
Các tác phẩm của ông trong mấy thập kỷ qua đã thu hút sự tìm tòi, nghiên
Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” là một tác phẩm hay, có sức hấp
cứu một cách khoa học, sâu sắc và khách quan của các nhà phê bình và
dẫn, lôi cuốn người đọc. Tác phẩm đưa ra những vấn đề nhân sinh rất gần gũi,
nghiên cứu trong nước. Đã có nhiều công trình nghiên cứu các tác phẩm của
phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh lớp 12 - lứa tuổi gần hoàn thiện
ương.
người đề cập đến và chưa được nhất trí với nhau. Thực hiện đề t ài hướng dẫn
Các bài viết về con người và tác phẩm của ông được tập hợp trong
học sinh phân tích và thảo luận các tầng ý nghĩa nhân sinh trong tác phẩm
“Nguyễn Minh Châu - Con người và Tác phẩm” do Nguyễn Trọng Hoàn
này, tôi mong tìm hiểu sâu sắc hơn và giúp học sinh phân tích, thảo luận các
giới thiệu và tuyển chọn.
tầng ý nghĩa nhân sinh của tác phẩm đầy đủ hơn.
Đi sâu vào tìm hiểu phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, tác
2. Lịch sử vấn đề.
giả Tôn Phương Lan đã có công trình nghiên cứu khoa học riêng“Phong
Là một nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, kể từ truyện
cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu”.
ngắn đầu tay được đăng lần đầu tiên năm 1960, cho đến khi tạ thế 1989,
Ngoài ra còn có nhiều chuyên luận, nhiều bài báo, khoá luận tốt nghiệp,
hành”.
chú ý là hầu hết mọi người đều thừa nhận nét mới của ông không chỉ so với
Toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu được in trong
các nhà văn cùng thời, mà còn so với chính ông thời kỳ trước đó: Đó là sự
“Nguyễn Minh Châu toàn tập” ( 5 tập) do NXB Văn học phát hành năm
đổi mới của nhà văn về tư duy nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật về con
2001 đã khẳng định vị trí của ông trong nền Văn học dân tộc.
người, phương thức thể hiện…
Các sáng tác của Nguyễn Minh Châu luôn gây được sự chú ý và hấp dẫn
đối với bạn đọc nói chung và giới phê bình nói riêng.
Giáo sư Phong Lê đã thấy được ở Nguyễn Minh Châu “cái đa giọng
điệu, cái đa thanh của cuộc đời đã đi vào tác phẩm” và do nhận thức “cái
quyết định không phải là đề tài” nên Nguyễn Minh Châu đã “dần dần tạo ra
thế giới nghệ thuật của riêng mình”.
4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
phổ thông: Bức tranh, Bến quê, Chiếc thuyền ngoài xa.
đây. Đổi mới tư duy nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 xuất
Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” là truyện ngắn mới được đưa vào
phát từ nhận thức sâu sắc: “Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm,
giảng dạy ở bậc THPT, song cũng có nhiều bài báo, nhiều công trình nghiên
mà tâm điểm là con người([20,111]. Sau 1975, con người trở về với cuộc
cứu đi sâu vào phân tích những nét đặc trưng về nội dung và nghệ thuật, tuy
sống đời thường, phải đối mặt với bao phức tạp trong cuộc sống thường nhật.
nhiên về phương pháp giúp học sinh phân tích và thảo luận để tìm ra các tầng
Bởi vậy hình tượng con người trong sáng tác của ông giai đoạn này không
ý nghĩa nhân sinh của tác phẩm thì chưa được đề cập đến cụ thể và đầy đủ.
còn mang vẻ đẹp lý tưởng hoàn hảo mà được khám phá trong nhiều hoàn
Tiếp thu thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi muốn giúp học
cảnh, với nhiều mối quan hệ phức tạp với những uẩn khúc tâm lý, những bi
sinh phân tích và thảo luận tác phẩm như là hai biện pháp dạy học phù hợp
nhân sinh trong tác phẩm văn chương và các tầng ý nghĩa nhân sinh trong
con người và phương thức thể hiện của Nguyễn Minh Châu có nhiều đổi mới
truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”.
mục đích: đi sâu vào khám phá thế giới nội tâm đầy uẩn khúc với khát vọng
“Tìm ra con người trong con người” (Bakhtin). Qua việc đi sâu vào khám phá
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
4.1. Mục đích:
con người cá nhân đời tư, con người bên trong không đồng nhất với chính
mình; ông thấy được trong tâm hồn mỗi con người cái cao cả và thấp hèn, lý
6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Vận dụng hoạt động phân tích và thảo luận như những biện pháp
- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
* Phần kết luận:
tầng ý nghĩa nhân sinh của truyện.
* Danh mục các tài liệu tham khảo
- Thực nghiệm dạy học nhằm khẳng định tính khả thi và hiệu quả qua
việc hướng dẫn học sinh phân tích và thảo luận như là hai phương pháp chủ
B. PHẦN NỘI DUNG.
yếu và có mối quan hệ với nhau để cùng giáo viên khám phá chiều sâu của tác
Chƣơng I: Tiền đề lý luận và thực tiễn của đề tài.
phẩm.
1. Phƣơng pháp phân tích và thảo luận trong quá trình dạy học tác phẩm
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
văn chƣơng.
1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của hoạt động phân tích và thảo luận.
1.1: Phƣơng pháp phân tích:
2. Nghiên cứu thực tiễn qua việc thống kê khảo sát mức độ nắm vững
Phân tích: Là bước tiếp theo của cơ chế tiếp nhận văn học. Nó là hoạt
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
chọn và thao tác phối hợp. Ngoài việc phân tích mối liên hệ sự kiện của tác
8
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
phẩm, người viết còn phải phân tích mối quan hệ liên tưởng. Chính vì vậy, kết
Ấn tượng tổng hợp ban đầu về tác phẩm được hình thành trên cơ sở lắng
quả của hoạt động phân tích chắc chắn sẽ đem lại sự phong phú và sâu sắc
nghe tiếng nói của trực giác, của cảm xúc và sự rung cảm khi đọc tác phẩm, là
hơn cho tác phẩm văn học [14, 148]
sự cảm nhận trực tiếp về vẻ đẹp và ý nghĩa hình tượng của tác phẩm. Tuy vậy
Việc phân tích tác phẩm thành nhiều yếu tố để xem xét là hoạt động rất
thế giới nghệ thuật ấy sẽ soi sáng nhau, tạo nên một môi trường thẩm mỹ
phẩm. Thơ cần chú ý tới sự bộc lộ tình cảm của nhà thơ qua ngôn từ, hình
dành cho độc giả.
ảnh, nhịp điệu và nhạc điệu. Truyện cần chú ý đến cốt truyện, kết cấu, tình
Quá trình phân tích cũng là quá trình người đọc vừa khám phá cái đẹp của
huống truyện, nhân vật, nghệ thuật tự sự. Kịch cần chú ý tới xung đột kịch,
tác phẩm bằng cách của chính mình, vừa hiểu thấu cái đẹp của sự sáng tạo,
hành động của nhân vật…
vừa sáng tạo thêm cái đẹp cho tác phẩm. Khi phân tích tác phẩm văn học,
* Bước 2: Phân tích chi tiết tác phẩm:
nhiều nhà nghiên cứu thường chú ý tìm hiểu những yếu tố ngoài văn bản như
Đây là bước phân tích từng yếu tố, từng phương diện của tác phẩm qua
hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. Đây là định hướng ban đầu tạo điều kiện có
việc cảm thụ ở bước 1. Tìm hiểu những chi tiết, phân tích những yếu tố,
thể hiểu đúng, hiểu sâu tác phẩm. Song cạnh đó, khi phân tích phải đặc biệt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Phân tích giá trị thẩm mỹ của tác phẩm:
Chi tiết nghệ thuật đóng vai trò hết sức quan trọng, nhất là những tác
Giá trị này thể hiện cái hay của cái đẹp của nghệ thuật, nội dung quy
định hình thức: cái độc đáo, cái đơn nhất ở phương thức trình bày nghệ thuật
thể hiện trí tuệ, tài năng và trình độ tinh nhạy của tác giả.
phẩm tự sự là sự đan kết của hàng loạt chi tiết (riêng đối với những truyện
ngắn thì việc lựa chọn chi tiết càng đòi hỏi chặt chẽ)
Tuy nhiên không phải mọi chi tiết đều đem ra phân tích, mà phải phát hiện
Nói cách khác: giá trị thẩm mỹ là cái hay, cái đẹp của tác phẩm thể hịên
ở phương tiện ngôn ngữ, hình tượng nghệ thuật, kết cấu, điểm nhìn, nhân vật
trữ tình…
ra những chi tiết mang chức năng nghệ thuật nổi bật, chi tiết tập trung hàm
lượng thông tin thẩm mỹ cao nhất.
Khi dạy những tác phẩm văn chương bắt buộc phải phân tích được những
- Phân tích hình tượng:
chi tiết đặc sắc cơ bản của tác phẩm để nắm được chủ đề tư tưởng của tác
giáo viên hướng dẫn học sinh khám phá, nắm bắt chiều sâu của tác phẩm. Giá
giả và phải đặt hình tượng trong mối tương quan chung của toàn tác phẩm
trị của tác phẩm do hoạt động phân tích đem lại là lượng thông tin, là cái mới,
cũng như trong bối cảnh của xã hội. Khi phân tích tránh áp đặt cứng nhắc
là sự khám phá phát hiện. Không có tác phẩm nào là không có vấn đề, nhưng
những kiểu ý nghĩa cho hình tượng, làm mất đi, giảm đi ý nghĩa khái quát của
khi phân tích chúng ta phải tập trung vào những vấn đề làm nên cái hay cái
hình tượng và lệch đi so với dụng ý của tác giả.
đẹp của tác phẩm, bởi những vấn đề đó lôi cuốn, hấp dẫn làm người đọc phải
Có hai loại hình tượng nghệ thuật khi phân tích phải nắm được đặc trưng
của nó: đó là hình tượng nhân vật và hình tượng cảm xúc. Khi phân tích hình
tượng nhân vật, phải chú ý phân tích quá trình phát triển của hình tượng tính
tò mò, tranh cãi.
Khi phân tích một tác phẩm để nắm bắt được giá trị của nó, ta cần phân
tích một số vấn đề sau:
cách, mức độ điển hình hoá và giá trị thẩm mỹ của hình tượng. Còn khi phân
- Phân tích một vấn đề cơ bản nào đấy về nội dung và nghệ thuật.
- Phân tích hình tượng nhân vật trung tâm.
Trong quá trình học tập, những ý nghĩ hình thành trong đầu óc học sinh
- Phân tích phương thức kể chuyện trong tác phẩm.
được diễn đạt thành lời dưới dạng nói thầm, nhưng vẫn chỉ là ở trạng thái tiềm
Nhìn chung: Quá trình phân tích tác phẩm văn chương đòi hỏi phải linh
ẩn; chỉ khi chúng được đem ra trao đổi trong đối thoại, thảo luận thì chúng
hoạt, sáng tạo, không thể dập khuôn máy móc; phân tích tác phẩm này không
mới không còn ở dạng tiềm ẩn nữa. Vì vậy trong quá trình dạy học cần tạo ra
thể giống với việc phân tích tác phẩm kia. Song ta có thể rút ra hai giai đoạn
những câu hỏi nêu vấn đề để kích thích suy nghĩ của học sinh; giáo viên
của phân tích tác phẩm mang tính bắt buộc và tương đối ổn định là:
khuyến khích giúp đỡ học sinh bày tỏ ý kiến cá nhân về vấn đề đang cần được
+ Lựa chọn các yếu tố để phân tích: Đây là giai đoạn đòi hỏi người đọc
giải quyết để học sinh tự đánh giá, trao đổi, thảo luận và đề xuất các giải
phải tỉnh táo, tinh tế bóc tách lớp vỏ ngôn ngữ để tìm ra một loạt các mối
mình cho là đúng hay sai, sẵn sàng chấp nhận những ý kiến đúng để điều
Khi phân tích nên vận dụng 3 bước trên một cách linh hoạt.
1.2. Phƣơng pháp thảo luận:
chỉnh quan điểm của mình”[13, 156-157]
Trong thảo luận, giáo viên phải là người tổ chức các tình huống dẫn tới
Là một trong những phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ
thảo luận, hướng sự chú ý của học sinh vào những điểm quan trọng nhằm đạt
động, sáng tạo của người học theo hướng dạy học lấy hoạt động của học sinh
mục đích của bài học, can thiệp khi cuộc thảo luận đi chệch hướng hoặc bế
làm trung tâm, dạy học thông qua việc tổ chức các hoạt động nhằm phát huy
tắc, dẫn dắt học sinh đạt được những cấp độ hiểu biết cao hơn. Vì vậy điều
tính tích cực của học sinh. Trong cách dạy học tích cực có sự giao tiếp thường
khiển thảo luận là một việc khó, phải có sự chuẩn bị chu đáo, phải có kiến
xuyên qua lại giữa thày và trò, giữa trò với trò. Bài học được xây dựng từ
thức vững. Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu, có đầu óc nhạy bén
những đóng góp của học sinh thông qua các hoạt động học tập do thầy tổ
tích, biết phê phán những ý kiến khác nhau trước một chủ đề nêu ra, biết lập
Gv: Tôn trọng câu trả lời của học sinh. Lắng nghe mọi ý kiến và khéo
luận để bảo vệ ý kiến của mình trước tập thể, có dịp suy nghĩ về một vấn đề
léo khuyến khích, gợi ý, dẫn dắt để học sinh cùng trả lời và lôi cuốn các học
dưới nhiều góc độ, đưa ra những ý kiến mới mẻ. Thông qua thảo luận, tranh
sinh khác cùng tham gia. Song giáo viên phải có định hướng để điều khiển
luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ,
quá trình thảo luận giúp học sinh bám sát yêu cầu đã nêu ra
qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới. Bài học vận dụng được
vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi học sinh và của cả lớp chứ không phải
chỉ dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của giáo viên.
Học sinh tham gia thảo luận sẽ được nâng cao dần khả năng diễn đạt ý
Giáo viên có thể gợi ý một số giải pháp để học sinh lựa chọn.
3. Kết luận:
Hs: Thảo luận và đánh giá kết quả : Khẳng định hay bác bỏ những cách
giải quyết đã nêu ra.
kiến của mình cho người khác nghe, và sau đó được tiếp nhận ý kiến phản hồi
Gv: Phát biểu kết luận và đề xuất những vấn đề mới.
chia sẻ suy nghĩ băn khoăn, cũng như những kinh nghiệm, hiểu biết của bản
Hoạt động thảo luận tạo ra hứng thú khám phá, đem lại niềm vui, thúc
thân, cùng nhau xây dựng nhận thức, thái độ mới trong một môi trường quen
đẩy động cơ bên trong của quá trình học tập. Qua việc thảo luận học sinh hiểu
thuộc, thân thiện, gần gũi và hợp tác. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn
sâu, nhớ lâu, biết vận dụng linh hoạt những kiến thức đã học, đồng thời phát
nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ phía giáo viên.
triển năng lực tư duy, năng lực giải quyết các vấn đề trong cuộc sống.
Hoạt động thảo luận có thể tiến hành theo các bước sau:
Trong thảo luận nhóm, mỗi thành viên trong nhóm nhỏ đều được hoạt
động tích cực không thể ỷ lại vào vài người năng động nổi trội hơn; những
16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
của mình thành những tình huống có vấn đề.
Hướng dẫn cách làm việc nhóm.
- Hiệu quả dạy học phụ thuộc vào tinh thần tham gia của mọi thành viên
+ Bước 2: Làm việc theo nhóm: Phân công trong nhóm, các cá nhân làm
việc độc lập.
trong nhóm.
* Để phương pháp thảo luận có hiệu quả, giáo viên phải lưu ý:
Trao đổi ý kiến và thảo luận trong nhóm.
- Chia nội dung bài dạy thành những vấn đề nhỏ có kiên kết với nhau.
Ghi lại ý kiến thống nhất và cử đại diện trình bày kết quả.
+ Bước 3: Thảo luận và tổng kết trước lớp:
Mỗi vấn đề nhỏ có thể coi là một chủ đề thảo luận.
- Tại một thời điểm, có thể giao cho nhiều nhóm cùng thảo luận một chủ
Các nhóm báo cáo kết quả.
đề, hoặc cũng có thể giao cho mỗi nhóm thảo luận một chủ đề. Sự liên kết
Thảo luận chung.
giữa các nhóm sẽ tạo sự thống nhất và kết quả chung của bài dạy.
- Tạo điều kiện thuận lợi để học sinh học hỏi lẫn nhau, biết lắng nghe và
thông tin bùng nổ. Tuy nhiên phương pháp thảo luận bị hạn chế bởi thời gian
đánh giá ý kiến người khác, thể hiện quan điểm cũng như điều chỉnh suy nghĩ
có hạn trong khi hoạt động thảo luận đòi hỏi phải linh hoạt về nội dung, tổ
của mình.
chức, thời gian. Giáo viên quen với kiểu dạy thuyết trình, chưa có kinh
18
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
nghiệm tổ chức dạy theo nhóm. Nên giáo viên phải biết định hướng dạy học,
lựa chọn nội dung, sắp xếp thời gian và tổ chức hợp lý mới đạt hiệu quả cao.
1.3: Mối quan hệ giữa hai phƣơng pháp trên trong quá trình dạy học
tác phẩm văn chƣơng.
Mục đích cao nhất của việc dạy học văn trong nhà trường là phải thực
hiện tốt các chức năng của giáo dục và đào tạo con người học sinh; trong đó
đích và nhiệm vụ trên, phải có phương pháp dạy học thích hợp đó là con
cho học sinh nhận ra giá trị nghệ thuật độc đáo của cách trình bày cuộc sống
đường ngắn nhất để đi tới đích.
theo một quan điểm thẩm mỹ nhất định của nhà văn và tạo nên vẻ đẹp chân
Trong một thời gian dài: Phương pháp dạy học trên thế giới chủ yếu là
chính, mới lạ của tác phẩm. Từ đó giúp học sinh tích luỹ ngày càng phong
phương pháp truyền thống - dạy học lấy giáo viên làm trung tâm. Để trang bị
phú kinh nghiệm nghệ thuật để họ tự đọc, tự hiểu và thưởng thức được các tác
cho học sinh một trình độ kiến thức nhất định, thì người giáo viên thường sử
phẩm một cách độc lập. Để thoả mãn được mục đích tiếp cận trên không có
dụng phương pháp dạy học thuyết trình, giảng giải (phân tích, bình luận) thày
con đường nào khác là phải tìm hiểu, phát hiện, khám phá chiều sâu của tác
nói, trò nghe ghi chép. Giáo viên chủ động tranh thủ truyền thụ những hiểu
phẩm văn”[16, 108].
biết và kinh nghiệm của mình. Học sinh tiếp thu thụ động cố ghi nhớ và tái
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Để phát huy được tính năng động, chủ động sáng tạo ở học sinh, ngành
phân tích sẽ tạo ra lớp học sinh thụ động, ỷ lại không biết cách tự học , thiếu
giáo dục đã có nhiều đổi mới về phương pháp dạy học ở nhà trường phổ
hứng thú, đam mê. Còn nếu lạm dụng sử dụng phương pháp dạy học mới
thông; mà cụ thể là chuyển từ kiểu dạy học lấy giáo viên làm trung tâm, sang
trong dạy bộ môn Văn, cạnh việc khuyến khích học sinh suy nghĩ, phát hiện
kiểu dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
vấn đề, thảo luận (từ những câu hỏi có vấn đề đến câu hỏi khó và câu hỏi khái
Dạy học lấy học sinh làm trung tâm, người giáo viên luôn tôn trọng mục
quát vấn đề); giáo viên hướng học sinh tìm tòi và từng bước đi tới đích. Song
hoạt động học - giải thích, phân tích, giảng bình để dẫn dắt, khêu gợi, định
học, được tập dượt về phương pháp nghiên cứu. Giáo viên quan tâm vận dụng
hướng những rung động thẩm mỹ của học sinh đối với tác phẩm. Thông qua
vốn hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân và của tập thể học sinh để xây
hệ thống câu hỏi có vấn đề; giáo viên gợi mở, dẫn dắt, tạo ra bầu không khí
dựng bài học. Giáo viên là người linh hoạt tổ chức, hướng dẫn, điều khiển tiết
trao đổi trong lớp, đưa học sinh vào việc cùng thể nghiệm, nhận thức những
học với sự tham gia tích cực của học sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh
vấn đề đặt ra trong tác phẩm, tự giải đáp những băn khoăn thắc mắc của bản
bộc lộ và phát triển tiềm năng của mỗi học sinh. Học sinh tự giác học tập, tự
thân và của các bạn. Đồng thời giáo viên cũng uốn nắn những hiểu biết sai,
đánh giá và đánh giá lẫn nhau. Giáo viên hướng dẫn học sinh kỹ năng tự đánh
lệch lạc; phát triển và nâng cao năng lực tiếp nhận của học sinh nhằm mục
giá, khuyến khích óc sáng tạo và rèn luyện, kỹ năng phát hiện và giải quyết
đích: giáo dục, giáo dưỡng và phát triển.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
+ Mâu thuẫn giữa trình độ nhận thức giữa các học sinh trong một lớp học cụ
thể
giá mới, những phát hiện về con người và cuộc sống của mỗi tác giả. Chiều
sâu của tác phẩm chứa đựng cái chân, thiện, mĩ cũng như cái tâm, cái tài của
+ Mâu thuẫn giữa mức độ tiếp nhận của học sinh với yêu cầu cần đạt
được về kiến thức kỹ năng trong một lượng thời gian nhấn định.
nhà văn.
Việc đổi mới phương pháp dạy học thực chất là đổi mới cách dạy và
Để khắc phục vấn đề này, trên lớp giáo viên phải luôn hướng dẫn điều
cách học.Việc vận dụng phương pháp dạy học truyền thống (phương pháp
khiển hoạt động tiếp nhận, lĩnh hội tác phẩm văn chương bằng những thao
phân tích) kết hợp phương pháp dạy học mới (phương pháp thảo luận) chính
tác: dẫn dắt, gợi mở, thảo luận, phân tích, giảng bình, khái quát hoá hệ thống
là vận dụng hài hoà, linh hoạt cách dạy của giáo viên và cách học của học
sinh là: “Cuộc sống nói từ mặt góc độ từ đó con người nhìn nó(về mặt mục
ý nghĩa và nó cũng góp phần làm nên kết cấu của truyện. Muốn phân tích các
đích, lý tưởng, phương hướng, hành động, giá trị, hành vi)”(6, 590)
xung đột và để học sinh tự lý giải các vấn đề, giáo viên phải tạo điều kiện cho
học sinh phân tích và thảo luận nguồn gốc nảy sinh xung đột, khích lệ học
sinh chủ động tìm, phát hiện xung đột và lý giải vấn đề tác giả đặt ra. Giáo
viên động viên học sinh bộc lộ thái độ chủ quan của mình (đồng tình-phản
Và rộng hơn: Nhân sinh quan là“Hệ thống những ý nghĩ tồn tại tương
đối lâu về cuộc sống của con người”(6, 956)
Ý nghĩa là: “cái được thể hiện, được nói lên được biểu thị bằng lời,bằng
một cử chỉ hành động”(6,956)
đối) trong cách giải quyết xung đột của tác giả trong tác phẩm. Nghĩa là giáo
Từ những định nghĩa trên, chúng tôi thấy ý nghĩa nhân sinh nói về cuộc
viên giúp học sinh hoá thân vào tác phẩm để tự giải quyết những mâu thuẫn
sống của con người được nhìn nhận từ phương diện các chuẩn mực đạo đức
xung đột trong tác phẩm.
xã hội nhằm phục vụ cho cuộc sống con người trở nên tốt đẹp hơn. Ý nghĩa
Để khám phá chiều sâu của tác phẩm phải bám sát vào các hình tượng
2.2. Những biểu hiện cụ thể của ý nghĩa nhân sinh trong tác phẩm
trong tác phẩm văn chƣơng:
văn chƣơng:
Tác phẩm văn chương luôn hàm chứa những ý nghĩa sâu xa mà nếu chỉ
Mục đích của dạy học tác phẩm văn chương là góp phần hình thành và
nhìn vào bề ngoài của nó người đọc không thể nào thấy hết được. Mục đích
phát triển nhân cách học sinh về, tư tưởng, đạo đức, lối sống, thẩm mỹ. Dạy
của giờ học tác phẩm văn chương là giúp học sinh khám phá ra dược chiều
tác phẩm văn chương chính là dạy nhân cách làm người; bởi tác phẩm văn
sâu đó.
chương là những thông điệp nghệ thuật về cách nhìn nhận con người và cuộc
Để khám phá ra chiều sâu các tầng ý nghĩa nhân sinh của tác phẩm văn
đời một cách đa diện, nhiều chiều. Vì vậy dạy tác phẩm văn chương chính là
chương, chúng ta có thể kết hợp phương pháp phân tích và phương pháp thảo
dạy nội dung ý nghĩa nhân sinh - dạy học sinh cách làm người. Dạy học sinh
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Ở phương pháp mới này, giáo
trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với môi
viên là người tổ chức hướng dẫn học sinh tự chiếm lĩnh các tầng ý nghĩa nhân
trường sinh thái.
sinh của tác phẩm; còn học sinh có thể đưa ra những suy nghĩ độc lập, những
- Thức tỉnh người đọc nhận ra sự thật và chân lý mới: chân lý về hiện
thực cuộc sống, về số phận mỗi cá nhân và về nghệ thuật.
chính kiến của mình trước một vấn đề dưới những góc độ khác nhau. Học
sinh biết lập luận để bảo vệ ý kiến của mình trước tập thể, biết lắng nghe và
Như vậy ý nghĩa nhân sinh trong tác phẩm văn chương vừa vạch ra
nhận xét ý kiến người khác, biết học hỏi lẫn nhau.
được bản chất quy luật cuộc sống, về chân lý nghệ thuật; về cái thiện, cái ác,
26
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
27
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Câu hỏi tái hiện: Giúp học sinh tái hiện kiến thức đã học, từ đó khái
quát, hệ thống hoá kiến thức.
chương thì giờ học sẽ nhàm chán, đơn điệu bởi sự áp đặt có định hướng của
- Câu hỏi gợi mở: Có thể dựa vào những vấn đề then chốt về nội dung và
giáo viên; còn học sinh không có cơ hội phát biểu chính kiến của mình về
nghệ thuật của tác phẩm văn chương, giúp học sinh từng bước phát hiện, phân
những vấn đề nhà văn đặt ra. Còn nếu chỉ sử dụng phương pháp thảo luận thì
tích, đánh giá từng bộ phận của tác phẩm.
thời gian bị hạn chế trong một tiết học. Nếu chỉ cho học sinh phát biểu những
- Câu hỏi phát hiện: Tác động vào suy nghĩ của học sinh, buộc học sinh
ý kiến, nhận định, đánh giá của mình về một vấn đề văn học, thì giáo viên
phải tự huy động vốn hiểu biết về tác phẩm văn chương và vốn sống của mình
không có thời gian đi sâu giải thích, phân tích, bình luận, nên học sinh chưa
để tìm tòi, phát hiện những vấn đề về nội dung và nghệ thuật, từ đó nâng cao
hiểu đủ, hiểu sâu các tầng ý nghĩa của tác phẩm.
hứng thú và khả năng sáng tạo của học sinh.
hiện, tự đề xuất các giả thiết và lựa chọn giải pháp giải quyết vấn đề; giáo
phân tích, bình giá và đặc biệt là qua hệ thông câu hỏi (câu hỏi tái hiện, gợi
viên và học sinh cùng đánh giá
mở, câu hỏi phát hiện, nêu vấn đề) giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh thảo luận
28
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
29
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
+ Học sinh tự phát hiện vấn đề nảy sinh, tự lựa chọn vấn đề để giải
XHCN cho học sinh một cách cân đối và toàn diện. Nói khác, dạy học văn
quyết, tự giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả; có ý kiến bổ
chính là dạy học nhân cách làm người về tư tưởng, đạo đức, tình cảm, thẩm
sung khi giáo viên kết thúc.
mĩ. Xã hội như thế nào thì văn học như thế ấy - văn học gắn với cuộc sống;
tâm của xã hội đối với số phận mỗi con người, tôn trọng con người, lên án
Dựa vào nội dung trọng tâm bài giảng, giáo viên có thể đặt ra một vài
câu hỏi “có vấn đề” để học sinh trả lời trước lớp hoặc thảo luận trong nhóm
mặt xấu, đề cao cái tốt cái thiện…góp phần quan trọng trong việc hình thành
và phát triển nhân cách học sinh, cụ thể như sau:
nhỏ và trình bày quan điểm của mình trước lớp. Có thể dừng lại vài phút
+ Qua việc ca ngợi những giá trị đạo đức tốt đẹp của con người, đồng
khuyến khích học sinh nêu câu hỏi qua vấn đề học sinh trình bày, hoặc để học
cảm, bênh vực những số phận khổ đau bất hạnh, phê phán tố cáo những thế
sinh nói lên nhận định của mình về ý chính trong đoạn vừa nghe giáo viên
lực vùi dập con người; giáo viên giáo dục học sinh và giúp học sinh tự giáo
phân tích, hoặc có thể cho học sinh trả lời viết trong nửa trang về một câu hỏi
dục Sự tôn trọng, tin yêu, thông cảm, bênh vực con người; đồng cảm chia xẻ
được nêu ra.
với những số phận bất hạnh, phát hiện ra bản chất tốt đẹp của con người; lên
- Cuối giờ: Cho học sinh phát biểu trước lớp (hoặc viết ra giấy) những
31
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
hiện qua các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với
tưởng và phong cách nghệ thuật của một tác giả. Trong quá trình sáng tác,
thiên nhiên và con người với với chính mình.
không có kết cấu nhà văn sẽ không thể hoàn thành được tác phẩm. Kết cấu
Như vậy giáo viên không chỉ giúp học sinh chiếm lĩnh được nội dung các
chặt chẽ góp phần tạo nên giá trị tác phẩm.
tầng ý nghĩa nhân sinh trong tác phẩm văn chương, mà người giáo viên còn
1.2. Kết cấu của truyện ngắn:
giúp học sinh tự giáo dục bằng các tri thức tiếp nhận được từ văn học: lòng
Truyện ngắn thuộc thể loại tự sự, nên kết cấu của truyện ngắn thuộc loại
yêu nước, tinh thần nhân văn, lý tưởng sống cao đẹp, thị hiếu thẩm mỹ cao,
lành mạnh, có văn hoá, có cá tính tích cực, để từng bước hình thành nhân
thực sự “là tác phẩm nghệ thuật có bề sâu nhưng lại không được dài”.
Như vậy kết cấu chính là sự tổ chức phức tạp và sinh động các phương
diện của tác phẩm văn học. Hiểu một cách bản chất nhất, kết cấu không phải
là bản thân các yếu tố hình tượng hay trần thuật mà là sự tổ chức các yếu tố
đó.
(T.Capôtô- nhà văn Mỹ)
1.3. Kết cấu của truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”
“Chiếc thuyền ngoài xa” có kết cấu lồng với hai tuyến truyện đan cài
vào nhau: một tuyến xoay quanh nhân vật số phận - tính cách: người đàn bà
Trong tác phẩm văn học, không phải cứ là tổ chức thì được coi là kết cấu
tác phẩm. Chỉ được coi là kết cấu nghệ thuật những kiểu tổ chức bộc lộ được
ý đồ nghệ thuật của tác giả và thể hiện quy luật lôgíc của đời sống.
Kết cấu nghệ thuật là hư cấu, nhưng hư cấu bắt nguồn từ nhận thức và lý
giải đời sống của nhà văn. Do đó kết cấu là một yếu tố rất quan trọng của hình
hàng chài; một tuyến xoay quanh nhân vật tư tưởng: người nghệ sĩ nhiếp ảnh,
đồng thời cũng đóng vai trò người trần thuật.
Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” có kết cấu luận đề về đạo đức
nhân văn, về tâm lý xã hội, bố cục được xây dựng theo 3 phần:
Phần 1:
thức nghệ thuật để bộc lộ tư tưởng chủ đề của tác phẩm, thể hiện tài năng, tư
32
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
33
- Chủ đề về quan niệm nghệ thuật: : Sáng tạo nghệ thuật là một quá trình
nghịch lý đa dạng và phức tạp. Phải có cái nhìn tỉnh táo, độ lượng mới hiểu và
gian nan, khổ ải nhọc nhằn; người nghệ sĩ phải có tâm huyết và sự đam mê.
thấy được bản chất tốt đẹp của con người
Nghệ thuật không chấp nhận sự sao chép đại khái.
Phần 3:
- Chủ đề về chân lý đời sống: Cuộc đời không hề đơn giản mà luôn tồn
Mối quan hệ mật thiết hữu cơ giữa nghệ thuật và đời sống. Qua những
điều Phùng được nghe và chứng kiến, cho ta thấy nghệ thuật và cuộc sống
tại những nghịch lý; phải có cái nhìn tỉnh táo, độ lượng mới hiểu và thấy được
bản chất tốt đẹp của con người.
không phải là một. Nghệ thuật thì đẹp trong khi cuộc sống thì đầy nhọc nhằn,
2.3. Phân tích chủ đề truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”:
khổ cực. Bức ảnh được chọn in trong lịch ở cuối truyện là lời khẳng định:
Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”toát lên hai chủ đề cơ bản:
nghệ thuật là cuộc sống, nghệ thuật bước ra từ cuộc sống; cuộc sống sinh ra
chọn lựa vào các thời điểm, anh vẫn không tìm được bức ảnh ưng ý. Ngẫu
chất của đời sống”. Chủ đề của tác phẩm lớn thường là những vấn đề khái
nhiên anh chụp được một cảnh đắt trời cho – một cảnh đẹp toàn bích, có
quát vượt lên trên những vấn đề cụ thể. Chủ đề đóng vai trò rất lớn trong việc
thuyền – biển – sương. Phùng đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc, đã
chụp được những bức ảnh tuyệt đẹp đầy chất nghệ thuậtmà chính anh cũng
34
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
35
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
phải sững sờ, ngỡ ngàng, xúc động trước vẻ đẹp tuyệt đỉnh của nó. Đặc biệt là
mạnh mẽ hoành tráng, lúc nhộn nhịp khẩn trương, lúc êm ả thanh bình. Cuộc
bức ảnh “đắt” nhất đẹp như là “một bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời
sống của bà con vạn chài thật phẳng lặng qua cái nhìn của người nghệ sĩ. Tình
thế” (Lời cô y tá)
Bức ảnh đẹp đến nỗi:“Đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong tim như có cái
gì bóp thắt vào”.
Không chỉ “vỡ lẽ” về cuộc sống: cuộc sống không giản đơn thuận chiều
mà chứa đựng nhiều nghịch lý; người nghệ sĩ còn phát hiện ra được “con
Người nghệ sĩ chân chính hài lòng và tâm đắc với bức ảnh, anh xem nó
người bên trong con người” qua câu truyện về cuộc đời đầy uẩn ức của người
là sự “toàn bích”, “toàn thiện”, là cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh. Toàn bộ
đàn bà vùng biển. Lúc đầu Phùng và Đẩu –người cán bộ toà án – chỉ thấy chị
khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp, một cái đẹp gợi ra
thật đáng thương. Nhưng qua những lời tâm sự giản dị, chân tình anh mới
sự thơ mộng và bình yên của cuộc sống. Qua đó thể hiện quan niệm: Sự toàn
hiểu: ẩn sau hình hài thô kệch lam lũ, sau dáng vẻ nhẫn nhục cam chịu là một
vẹn của cái đẹp nghệ thuật là cái đẹp hài hoà giữa cái đẹp, cái thơ của thiên
tâm hồn am hiểu lẽ đời, sống có khát vọng, có mục đích; một trái tim nhân ái
nhiên với cuộc sống lao động và con người trong sự bình yên thanh thản.
37
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
thuật không phải lúc nào cũng phát hiện được mặt trái của hiện thực. Nghệ
Các tầng ý nghĩa nhân sinh trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”
thuật thì đẹp trong khi cuộc sống thì đầy những nghịch lý bất ngờ không thể
được biểu hiện cụ thể qua kết cấu truyện và đặc biệt là qua việc phân tích hệ
đoán trước, không dễ lý giải cắt nghĩa được. Điều cốt yếu của người làm nghệ
thống nhân vật trong truyện với những mối quan hệ trong gia đình và những
thuật là không cho phép mình tự bằng lòng với bề ngoài của cuộc sống, mà
quan hệ ngoài xã hội.
phải đi sâu vào khám phá, phát hiện được bản chất đích thực của cuộc sống
bộn bề đầy phức tạp để có cái nhìn đúng đắn, sâu sắc hơn đối với con người,
với cuộc đời góp phần làm chuyển biến cuộc sống, đưa xã hội phát triển.
Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” có kết cấu luận đề với 3 phần thể
thuật là đào sâu, khám phá bề sâu, bề xa của hiện thực, khám phá vẻ đẹp
khuất lấp, bình dị trong đời sống hàng ngày.
- Phần 2:
Những chiêm nghiệm về chân lý đời sống. Qua câu chuyện của người
Nhân vật tôi trên hành trình đi tìm chân lý nghệ thuật đã phát hiện ra
đàn bà hàng chài, tác giả thể hiện cách nhìn nhận về con người và cuộc đời:
chân lý đời sống, đây là hai vòng tròn đồng tâm có tâm điểm là con người.
không thể nhìn đời, nhìn người một cách giản đơn; mà cần phải nhìn nhận
Văn học hôm nay tập trung vào đời tư con người - những con người cá nhân
cuộc sống và con người một cách đa diện, nhiều chiều mới thấy được những
bé nhỏ để khám phá đời sống tâm hồn và những quy luật vĩnh hằng của giá trị
giá trị đạo đức tốt đẹp của con người cũng như những nguy cơ xã hội tiềm ẩn.
nhân bản. Nghệ thuật chân chính phải bắt nguồn từ hiện thực trần trụi, khốc
Qua đó thức tỉnh người đọc có cách sống mới, cách ứng xử mới giữa con
liệt đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ. Bức ảnh lịch ở cuối truyện là lời khẳng
người với con người một cách nhân đạo hơn.
Nhân vật Phùng - người nghệ sĩ nhiếp ảnh - trong chiến tranh anh là một
người lính, khi chiến tranh kết thúc anh trở thành một nghệ sĩ nhiếp ảnh.
thơ mộng, cái đẹp ấy sẽ đẹp hơn nếu gắn với con người và cuộc sống lao
đọng.
Theo yêu cầu của người trưởng phòng, Phùng đã tìm đến vùng phá nước
Không chỉ bất ngờ chụp được một “cảnh đắt trời cho”– một chiếc thuyền
miền Trung cách Hà Nội 600 km để chụp một bức ảnh tĩnh vật về thuyền và
đẹp như mơ - một cảnh tượng mà cả cuộc đời người nghệ sĩ hiếm khi bắt gặp;
biển cho bộ lịch năm mới. Tại đây anh phải thức khuya, dậy sớm để kiếm tìm,
Phùng còn được chứng kiến một bi kịch gia đình ẩn sau bức tranh thiên nhiên
lựa chọn cho được một bức ảnh ưng ý. Điều này chứng tỏ anh không chỉ là
tuyệt mĩ mờ sương hư ảo kia.
một người yêu nghề, khát khao khám phá, sáng tạo; mà ta còn thấy: Sáng tạo
* Phát hiện ra một bi kịch gia đình:
nghệ thuật là một quá trình gian nan, vất vả đòi hỏi phải có tâm huyết và trách
Bước ra từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ là một người đàn bà có
một vẻ đẹp đơn giản và toàn bích”, trên nền bức tranh thiên nhiên đó là hình
“trong mấy phút đầu tôi đứng há mồn ra mà nhìn”. Người nghệ sỹ như chết
ảnh con người
“vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc trên
lặng không tin vào những gì đang diễn ra trước mắt. Anh hoàn toàn bất ngờ
mui khum khum” khiến cho bức ảnh sinh động, có hồn. Tất cả tạo nên một nét
khi thấy đằng sau cảnh đẹp mê hồn của tạo hoá kia vừa làm anh ngây ngất lại
“mơ hồ, loè nhoè”- một vẻ đẹp huyền ảo bất ngờ đối với người nghệ sĩ. Qua
chứa đựng cái ác, cái xấu đến không thể tin được. Bức ảnh nghệ thuật “toàn
đó ta thấy con người luôn là đối tượng khám phá, là trung tâm của nghệ thuật.
bích ” mà Phùng đã bất ngờ chụp được hoàn toàn trái ngược với sự thực về
Đứng trước một sản phẩm nghệ thuật tuyệt tác của tạo hoá, tâm hồn
gia đình làng chài trong bức ảnh của anh. Hoá ra những gì đẹp đẽ mà bức ảnh
người nghệ sĩ rung động thực sự, anh bỗng trở nên “bối rối” “trong tim như
của anh ghi lại được chỉ là vẻ đẹp bề ngoài giả tạo mà thôi; đó chỉ là một lớp
khái quát sâu sắc về một cuộc đời, một số phận. Chính vì vậy mà nhân vật để
phải vậy, khổ đau vẫn còn, cái ác vẫn ẩn nấp và hiện hình trong cuộc sống
lại những ấn tượng khó quên.
tưởng như bình lặng.
Nhân vật được khắc hoạ từ nhiều phương diện trở nên sống động, gần
Sự thật nghiệt ngã và phũ phàng mà Phùng được chứng kiến đã xé
gũi, bình dị như bao con người lao động khác mà ta vẫn thường gặp trong
toang màn sương mờ ảo che phủ con thuyền ngoài xa, xua đi vẻ đẹp lãng mạn
cuộc sống. Chị không giống như phần đông các nhân vật nữ trong văn học
hư ảo trong bức ảnh, và làm đổ vỡ cái nhìn duy mỹ trong quan niệm về nghệ
trước năm 1975 nói chung và trong các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu nói
thuật của nghệ sĩ Phùng. Bức ảnh rất đẹp, nhưng nó chỉ là nghệ thuật thuần
riêng thường mang một vẻ đẹp dịu dàng quyến rũ. chị tiêu biểu cho những
tuý chứ chưa phải là cuộc sống. Hoá ra cuộc sống vô cùng phức tạp và chứa
người phụ nữ lam lũ, vất vả nhọc nhằn trong cuộc sống đời thường đầy gian
những đường nét thô kệch…rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi…tái ngắt,…tấm lưng
lúc nào, bao giờ cái ác cũng tồn tại; ta không nên chỉ nghĩ đến việc tiêu diệt
áo bạc phếch, rách rưới”
nó mà còn cần phải ngăn chặn, cảnh báo và cải tạo. Đây chính là tầng ý nghĩa
nhân sinh thứ nhất của truyện
Chỉ qua vài chi tiết miêu tả ngoại hình chân thực tác giả đã hé mở cho
thấy bao dự cảm về số phận và tính cách nhân vật: Đó là một người đàn bà
3.2. Những chiêm nghiệm về chân lý đời sống qua câu chuyện về
cuộc đời ngƣời đàn bà hàng chài:
chịu nhiều đau khổ, thiệt thòi cả về vật chất lẫn tinh thần. Trước hết, đây là
một người đàn bà kém nhan sắc, không một nét nào ở chị gợi lại một thời
3.2.1. Ca ngợi những giá trị đạo đức tốt đẹp của con ngƣời qua hình
tƣợng nhân vật ngƣời đàn bà hàng chài:
thiếu nữ tươi đẹp. Năm tháng và cuộc sống mưu sinh vất vả nhọc nhằn càng
làm cho chị thay đổi. Dường như cuộc sống khắc nghiệt vẫn đang đeo bám và
cố vắt kiệt sức sống của chị.
42
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
43
động tiêu biểu cho những kiếp người luôn phải gồng mình lên để chống chọi,
Họ –ba con người: người mẹ tội nghiệp đáng thương, người bố độc ác, tàn
để mưu sinh, để tồn tại.
nhẫn và đứa trẻ hồn nhiên ngây thơ sẽ chẳng rời xa nhau được. Họ sẽ còn luẩn
- Qua bi kịch gia đình mà Phùng được chứng kiến anh cảm nhận được:
quẩn giữa yêu thương, thù hận và hành hạ lẫn nhau. Họ gieo vào lòng người
+ Chị là người vợ chịu nhiều thiệt thòi bất hạnh, tự mình chấp nhận và nén
đọc bao băn khoăn trăn trở: cuộc sống và số phận của họ rồi sẽ ra sao ?
chịu mọi đau khổ để giữ gìn mái ấm gia đình.
Cảnh bạo lực không chỉ dừng ở đó mà vẫn tiếp diễn “ba ngày một trận
Vì cuộc sống mưu sinh chị đã phải thức suốt đêm để kéo lưới, để chèo chống
nhẹ, năm ngày một trận nặng” khiến người can thiệp không chỉ là thằng Phác
con thuyền gia đình bình yên nơi biển cả đầy bất trắc. Không chỉ vậy chị còn
mà là cả những người ngoài cuộc với mọi giải pháp tích cực có, tiêu cực cũng
tự nguyện gồng mình chịu đòn roi của chồng, chịu nỗi đau thể xác mà không
buông ra, chắp tay vái lấy vái để rồi lại ôm chầm lấy”. Bao tủi hờn cay đắng,
dáng vẻ “lúng túng, sợ sệt” đáng thương đến tội nghiệp, chị dường như cố tìm
thương mình, thương con ở người đàn bà khốn khổ như tan thành nước mắt.
cách thu mình lại. Cách xưng hô của một người quen cúi đầu nhẫn nhịn: “con
Chị khóc lặng lẽ trong chua xót, đau đớn, tủi nhục; vì dù cố gắng giữ gìn
– quý toà”, nó cũng thể hiện khoảng cách giữa con người trong xã hội: giữa
không muốn để các con trông thấy cảnh bạo lực trong gia đình mà không
cá nhân chị và người đại diện công lý. Thật là bất ngờ: những lời đầu tiên của
được. Những đứa con cuối cùng vẫn biết sự thật khiến chị “vừa đau đớn, vừa
chị ở chốn công đường lại là những lời lạy lục van xin khẩn thiết: Xin toà
vô cùng tủi hổ, nhục nhã”. Đứa con – thằng Phác – vì yêu mẹ, thương mẹ mà
đừng bắt bỏ chồng dù đó là người chồng cục súc vũ phu luôn hành hạ, đày ải
44
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
45