HƯỚNG DẪN HỌC SINH 12 KHAI THÁC CHI TIẾT
TRONG TRUYỆN NGẮN TỰ SỰ
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn vấn đề
Đọc hiểu tác phẩm văn học là một hoạt động quen thuộc của thầy và trò
Trường THPT. Trong quá trình này, người giáo viên phải làm công việc giảng
văn, và học sinh thì phải phân tích tác phẩm văn học như là một kiểu bài khi làm
văn. Nhưng dù dạy hay học văn, khi tìm hiểu một tác phẩm văn học thì chúng ta
phải chia tách đối tượng ra thành từng phần từng bộ phận nhỏ để đánh giá tác
phẩm. Nhờ đó, mà chúng ta có thể hiểu và cảm thụ được vẻ đẹp của tác phẩm
văn học.
Vấn đề là khi đọc hiểu tác phẩm văn học, ta phải làm cách nào để thấy hết
mọi giá trị của tác phẩm về nội dung lẫn hình thức, về cả cái hay, cái đẹp đến cả
cái chưa tốt v.v Muốn thế chúng ta phải chú ý đến việc đọc hiểu tác phẩm theo
đặc trưng thể loại.
Là giáo viên trực tiếp giảng dạy, trực tiếp chấm trả bài cho học sinh, tôi
nhận thấy trong thời gian gần đây bài viết của học sinh thường khá hời hợt, nhiều
em giải quyết vấn đề một cách chung chung hoặc bắt chước một cách thái quá
những kiến thức trong các sách tham khảo mà ít chịu suy nghĩ tìm tòi. Điều này
làm tôi luôn cảm thấy băn khoăn, suy nghĩ.
Mặt khác, theo thói quen của nhiều người, trong tác phẩm tự sự người ta chỉ
quan tâm đến cốt truyện, nhân vật, tình huống và những đề kiểm tra của học sinh
cũng thường xoay quanh các vấn đề trên đã là nguyên nhân làm cho bài viết của
học sinh trở nên ít mới mẻ và sâu sắc. Trong khi đó các chi tiết trong mỗi tác
phẩm mới thực sự là tế bào, là mạch máu tạo nên sức sống và vẻ đẹp của từng
thiên truyện. Những bài viết biết khai thác chi tiết thường tạo nên những nét
riêng, nét mới mẻ và cá tính vì trong mỗi chi tiết luôn chứa đựng những lớp trầm
tích càng khai thác càng thấy giá trị.
2. Thực trạng vấn đề
Có nhiều công trình nghiên cứu đã cố gắng tìm một cách tiếp cận tác phẩm
đúng, có ý nghĩa như: Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể (Nhiều
Tiếng Việt (NXB Khoa học xã hội Hà Nội 1988) thì Chi tiết là: Phần rất nhỏ,
điểm nhỏ trong nội dung sự việc hoặc hiện tượng (Ví dụ: Kể rành rọt từng Chi
tiết). Là thành phần riêng rẻ hoặc tổ hợp đơn giản nhất của chúng có thể tháo
lắp được (Ví dụ: Chi tiết máy).
Như vậy trong đời sống hàng ngày từ “Chi tiết” được hiểu và dùng như là
một thành tố, một bộ phận nhỏ của một sự việc, tổng thể. Chi tiết được hiểu như
là một thành phần thuộc về cấu tạo.
Trong văn học, chi tiết theo định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia
Hà Nội, 1997) là: Các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và
tư tưởng và họ gọi chung là chi tiết nghệ thuật. Cũng theo nhóm tác giả này thì:
Tuỳ theo sự thể hiện cụ thể, chi tiết nghệ thuật có khả năng thể hiện, giải thích,
làm minh xác cấu tứ nghệ thuật của nhà văn, trở thành tiêu điểm, điểm hội tụ
của tư tưởng tác giả trong tác phẩm. Chi tiết nghệ thuật gắn với “quan niệm
nghệ thuật” về thế giới con người, với truyền thống văn hoá nghệ thuật nhất
định. Tất nhiên không phải mọi chi tiết trong tác phẩm đều có vai trò, vị trí và
giá trị như nhau. Có chi tiết chỉ đóng vai trò vật liệu xây dựng, làm tiền đề cho
cốt truyện phát triển thuận lợi và hợp lý, nhưng cũng có không ít chi tiết thể hiện
tập trung cho cấu tứ của tác giả. Vì vậy, khi phân tích tìm hiểu tác phẩm văn học,
chúng ta không thể không chú ý đến các chi tiết đó.Phân tích tác phẩm văn học
là phân tích các chi tiết thể hiện. Điều này ở trong Nhà trường từ trung học đến
đại học, các sách giáo khoa, sách giáo viên về làm văn, các giáo trình v.v đều
đã chỉ rõ như thế. Có thể dẫn chứng từ sách Làm văn 12 (chương trình cải cách):
“Nội dung khái quát của tác phẩm được gửi gắm qua các chi tiết (lời nói của
nhân vật, bộ điệu, cử chỉ, nét mặt, đồ vật, cảnh tượng ). Chi tiết bao giờ cũng
có khả năng thuyết minh, biểu hiện cái toàn thể (phạm vi ý nghĩa mà nó thuộc
vào). Nhưng không cần và không thể phân tích mọi chi tiết, chỉ cần chọn các chi
tiết tiêu biểu nhất, nói lên tư tưởng quan trọng của nhà văn và phù hợp với chủ
đề phân tích của đề bài. Biết lựa chọn thì bài làm tập trung, không dàn trải, lan
man” (Làm văn 12, SHS tr 57).
Nguyễn Du lại để quên không cho Kiều báo oán”. Và nhà thơ đã lý giải: “Thằng
bán tơ” kỳ thực là kẻ vu khống. Mà kẻ vu khống thì bao giờ cũng trong bóng tối,
bao giờ cũng nấp phía sau bọn quan chức để hại người.
Tương tự như vậy, ta có thể bắt gặp những chi tiết có ý nghĩa quan trọng
trong nhiều tác phẩm khác. Chẳng hạn, phân tích truyện ngắn “Đôi mắt” của
Nam Cao, đặc biệt là phân tích nhân vật Hoàng, học sinh thường quan tâm đến
ngoại hình, hành động của nhân vật. Tất nhiên phải bắt đầu từ chi tiết nhưng
không mấy khi đi sâu vào khai thác những chi tiết tiêu biểu có ý nghĩa làm nổi
bật chủ đề tư tưởng cũng như chủ đích nghệ thuật của nhà văn. Chẳng hạn như
những chi tiết bề ngoài hết sức đơn giản như “bộ ria mép giống như một chiếc
bàn chải nhỏ”. Chi tiết này không đơn giản chỉ làm cụ thể, rõ ràng, có hình khối,
khuôn mặt của nhân vật, mà quan trọng hơn là nó nói lên cá tính, bản chất của
nhân vật. Đồng thời tiếp tục tô đậm sự xa cách của Hoàng đối với mọi người
trong cuộc sống hiện tại đầy khó khăn gian khổ của buổi đầu kháng chiến chống
Thực dân Pháp. Hay như chi tiết “Chí chửu cũng như người ta hát” trong truyện
ngắn Chí Phèo. Mới nhìn qua, tưởng như đó là một câu nói vui, một lời nói mỉa
4
không có gì là quan trọng. Kỳ thực đây chính là chi tiết minh oan cho Chí. Nó
khẳng định hành động chửi của Chí là không hề có chủ định mà chỉ là một thói
quen, một hành động thường nhật. Và ẩn sâu bên trong chi tiết đó còn là nỗi đau,
là khát vọng được giao tiếp với mọi người của Chí. Đó cũng chính là chiều sâu
nhân bản của tác phẩm. Cũng là truyện ngắn Chí Phèo, nếu biết đi sâu phân tích
chi tiết bà cô Thị Nở không cho thị quan hệ với Chí, học sinh sẽ phát hiện ra một
điều mới mẻ khác. Đó là trước đây người ta thường cho rằng nguyên nhân đẩy
Chí đến bước đường cùng là do xã hội, do bọn thống trị tàn độc và thâm hiểm thì
chi tiết này góp phần làm sáng tỏ thêm một nguyên nhân khác. Đó là định kiến,
và chính định kiến mới là yếu tố cuối cùng giết chết Chí Phèo. Giáo sư Nguyễn
Đăng Mạnh trong một lần trả lời phỏng vấn trao đổi về tác phẩm Chí Phèo đã có
một nhận xét sâu sắc về câu nói ở cuối tác phẩm, nhận xét về cái chết của Bá
Kiến và Chí Phèo. Ý của Giáo sư là: Đây là lời của người dân làng bình thường,
loại chi tiết thường được dùng trong tác phẩm văn học. Có như vậy thì việc lựa
chọn mới chính xác.
I.2. Khai thác chi tiết trong truyện ngắn tự sự
Chi tiết phong phú và đa dạng như thế khi phân tích tác phẩm văn học, tác
phẩm tự sự, đặc biệt là truyện ngắn chúng ta cần phải cân nhắc cẩn thận trong
việc lựa chọn chi tiết phù hợp. Trong bài viết này tôi quan tâm hơn về truyện
ngắn vì kì thực trong chương trình Ngữ văn 12, các tác phẩm tự sự chủ yếu thuộc
thể loại truyện ngắn. Và ở một phạm vi nhất định truyện ngắn có những điểm
khác với các thể loại tự sự khác, nhất là tiểu thuyết. Thế nhưng, trong quá trình
lựa chọn chi tiết để phân tích truyện ngắn nhiều người viết đã cho rằng các chi
tiết tự sự (các tình tiết) là những bộ phận thuộc về kết cấu cốt truyện, thể hiện
diễn biến của cốt truyện nên đã không chú ý.
Chúng ta đều biết truyện ngắn khác với tiểu thuyết không chỉ vì số lượng
trang, chữ, dài ngắn mà còn chính là khác về nội dung, kết cấu cốt truyện. Tiểu
thuyết (truyện dài) vừa dài và dày về số trang, số chữ mà còn miêu tả cuộc sống
đầy đủ về không gian và thời gian (dung lượng). Tiểu thuyết phản ánh hiện thực
cuộc sống theo một thời gian dài, xẩy ra ở nhiều nơi khác nhau với nhiều nhân
vật, thể hiện nhiều vấn đề. Vì vậy cốt truyện cũng phức tạp, đan chéo, quyện lẫn
vào nhau. Do đó, khi phân tích tiểu thuyết nhà nghiên cứu không thể nêu hết và
phân tích hết được các chi tiết biểu hiện của tác phẩm. Ngược lại truyện ngắn là
tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, diễn tả một cái khoảnh khắc, chốc lát của cuộc sống vì
vậy chi tiết phải cô đúc, ngôn ngữ mang nhiều ẩn ý, tạo ra cho tác phẩm những
chiều sâu về nội dung và nghệ thuật cần phải tìm hiểu.
Nhiều nhà văn đã có những phát biểu cụ thể về truyện ngắn như nhà văn
Vũ Thị Thường: “Viết truyện dài như làm một căn nhà đồ sộ, còn bắt tay viết
truyện ngắn là nhận lấy việc chạm trổ một cái khay, một tấm tranh khắc gỗ. Ở
truyện dài có thể có những chương “độn” nhưng ở truyện ngắn chỉ cần viết một
nữa trang lỏng lẻo là truyện đổ liền. Những chi tiết hay đến mấy đi chăng nữa
mà không phục vụ chủ đề, thì cũng trở nên vô ích” (Kinh nghiệm viết truyện
ngắn - Vương Trí Nhàn - NXB Tác phẩm mới). Hoặc như ý kiến của cố nhà văn
truyện ngắn - Rừng xà nu- Trích trong Để dạy tốt Văn học Việt Nam lớp 12 -
NXB Giáo dục 1996) và ông đã giải thích lý do vì sao: Truyện ngắn tuy ngắn
nhưng nhiều chi tiết, người viết phải biết rất nhiều, rất dài, phải có vốn sống, biết
cách chọn tình huống, cách xử lý bố cục, cách dựng truyện, dựng người, cách
nói, giọng nói, lời kể, lời văn v.v Những khả năng đó thì thời viết “Đất nước
đứng lên” ông chưa đủ độ chín.
Như vậy, khác với truyện dài, truyện ngắn tuy nhỏ bé hơn nhiều về số lượng
trang, chữ, về đối tượng phản ánh (cái chốc lát, cái khoảnh khắc của cuộc sống,
một ý tưởng v.v ) nhưng lại đòi hỏi, yêu cầu rất cao về nghệ thuật diễn đạt. Ở
truyện ngắn dĩ nhiên là truyện ngắn hay - không có những yếu tố thừa. Cho nên
khi phân tích truyện ngắn, chúng ta cần phải lựa chọn các chi tiết biểu hiện, là
những chi tiết tiêu biểu quan trong để thể hiện đúng và đầy đủ giá trị nội dung và
nghệ thuật tác phẩm. Bỏ qua hoặc quên đi một số chi tiết dù chỉ nhỏ bé nhưng lại
có ý nghĩa quan trọng và sẽ làm hạn chế giá trị biểu hiện của tác phẩm.
Như trên đã nói, thực tế trong việc phân tích tác phẩm văn học được dạy ở
trường Phổ thông, chúng ta có lúc đã có những thiếu sót đó, đặc biệt là khi phân
tích các truyện ngắn văn học ở chương trình lớp 12. Dưới đây bài viết sẽ xin
được giới thiệu một số vấn đề về khai thác chi tiết trong truyện ngắn tự sự ở
chương trình Ngữ văn 12 hiện nay.
7
II. HƯỚNG DẪN HỌC SINH KHAI THÁC CHI TIẾT QUA MỘT SỐ
TRUYỆN NGẮN TỰ SỰ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12
Truyện ngắn nói riêng cũng như Văn học Việt Nam nói chung từ sau cách
mạng tháng Tám - 1945 đến nay đã có sự thay đổi, phát triển hơn truyện ngắn
trước 1945 về cả hình thức lẫn nội dung. Những tác phẩm được tuyển chọn để
dạy ở chương trình Ngữ văn 12 có thể coi là tiêu biểu cho truyện ngắn, thể hiện
đầy đủ các đặc điểm của truyện ngắn đã nói ở trên. Đó là những truyện như: Vợ
nhặt (Kim Lân), Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài), Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành),
Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi) và Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn
Minh Châu). Mỗi tác phẩm đã phản ánh hiện thực cuộc sống, đặt ra những vấn
kiếp người (em gái của Tràng có tên là đục), như vậy tên gọi của nhân vật là theo
8
ý đồ nghệ thuật của nhà văn. Hoặc như bối cảnh của truyện: những dòng người
“đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và
nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào
người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo
bên đường. Không khí vẩn mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác
người…”. Đây quả là một khung cảnh thê lương, một không khí của đám ma,
một không gian đầy mùi tử khí… Truyện “Vợ nhặt” của Kim Lân đã xây dựng
được một tình huống vô cùng độc đáo để thể hiện ý tưởng: Một nông dân nghèo
rớt mồng tơi, tưởng chừng không bao giờ có vợ lại được có vợ bằng cách
“nhặt”, mà chỉ cần bốn bát bánh đúc. Tuy nhiên nhà văn không chỉ dừng ở đó.
Thông qua tình huống khác thường độc đáo này, Kim Lân “đã thể hiện một tình
cảm nhân hậu với những người cùng khổ”, ý nghĩa của truyện: trong sự túng đói
quay quắt, trong bất cứ hoàn cảnh khốn khó nào, người nông dân vẫn khát khao
vươn lên trên cái chết, cái thảm đạm, để mà vui, để mà hy vọng.
II.1.2. Hướng dẫn khai thác các chi tiết về nhân vật
Tương tự như trên, tôi cho học sinh tìm hiểu theo các bước: xác định và
gọi tên nhân vật, tìm các chi tiết quan trọng biểu hiện nổi bật nội dung tư tưởng
cũng như nghệ thuât của vấn đề rồi đi sâu vào phân tích các chi tiết đó. Chẳng
hạn về nhân vật Tràng, từ chi tiết ngoại hình (thô nháp, vập vạp), đến tính cách
chậm chạp (tư duy bằng miệng) rồi hoàn cảnh éo le: dân ngụ cư, cha chết sớm,
nhà nghèo (chỉ có một túp lều dúm dó mọc trên một mảnh đất lổn nhổn những
cỏ), mẹ già cả… đều tập trung nhấn mạnh đến khả năng rất khó lấy vợ của
Tràng. Việc anh có vợ nhà văn miêu tả bằng một loạt chi tiết hết sức tình tế.
Hạnh phúc đến thật bất ngờ tưởng không bao giờ có được ở một thân phận thấp
hèn xấu xí, cho nên Tràng từ ngỡ ngàng thành niềm vui cụ thể, Tràng cảm nhận
và tận hưởng “Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông
nghèo khổ ấy, nó ôm ấp, mơn mang khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay
vuốt nhẹ trên sống lưng”. Vì vậy đến khi đã về đến nhà, đã có thị ở nhà rồi, mà
vẫn cú chênh vênh, đơn độc thế nào. Cái xăm xăm của Tràng mới thực khỏe, tự
tin như vậy”. Đúng là ở Tràng đã có sự chuyển biến, thay đổi lớn lao, là bước
ngoặt quan trọng trong đời anh.
Khác với sự đổi thay theo chiều hướng đi lên, thẳng đứng của Tràng, ở nhân
vật bà cụ Tứ, tâm lý được miêu tả diễn biến phức tạp, theo hai bước: lúc mới gặp
nàng dâu mới và sáng hôm tân hôn. Ở mỗi bước, nhà văn đã khéo léo lựa chọn
nhiều chi tiết có ý nghĩa để miêu tả nhân vật nhất là tâm lý nhân vật, rối rắm đó:
ngạc nhiên có, sững sờ có, vui mừng có, buồn tủi có, lo lắng có, tin tưởng có.
Diễn biến tâm trạng của nhân vật có vẻ như nếp gấp như thế, nhưng điểm
sáng ở bà cụ Tứ như có người đã nhận xét: Truyện gồm ba nhân vật, lại xuất
hiện muộn mằn nhất và là một bà lão “gần đất xa trời” nhưng thật kỳ lạ, chính
bà lão chứ không phải ai khác đã thắp sáng sự tin tưởng, niềm hy vọng cho
người khác. Có thể thấy rõ điều đó qua một số chi tiết như: Khi Tràng đánh diêm
đốt đèn, thắp sáng, bà cụ Tứ dã nói: “Có đèn ấy à ? Ừ thắp lên một tí cho sáng
sủa ” Một chút sáng nhỏ bé lần đầu xuất hiện trên cái tối tăm của cuộc sống
nhưng nó là khát khao, ước mong cháy bỏng của bà.
Chính vì vậy, trong đêm tâm hôn và sáng hôm sau bà đã nói với con và dâu
bằng những lời lẽ tràn đầy niềm tin hy vọng: “Biết thế nào hả con, ai giàu ba
họ, ai khó ba đời ? Có ra thì con cái chúng mình về sau” hay bàn chuyện sửa
sang nhà cửa, chăn nuôi… Câu nói “Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà” nghe có
vẻ phấn khởi mà sao vẫn thấy thật tội nghiệp, người đọc dễ liên tưởng đến bài ca
dao than thân “Mười quả trứng” của ông cha ta: “Tháng giêng, tháng hai/ Tháng
ba, tháng bốn/ Tháng khốn tháng nạn/ Đi vay đi dạm/ Được một quan tiền/ Ra
chợ Cửa Diên/ Mua một con gà mái về nuôi”. Rồi chi tiết nồi “chè khoán” (mà
10
thực chất là cháo cám) với nhận xét “Ngon đáo để” của bà chính là niềm tin về
hạnh phúc cuộc sống.
Cùng với những chi tiết miêu tả nhân vật, truyện ngắn “Vợ nhặt” còn có
nhièu chi tiết về kết cấu, cốt truyện rất đặc sắc. Nhờ đó mà ý nghĩa của chủ đề
của tác phẩm càng trở nên sâu sắc hơn. Đó là tiếng hờ khóc tỉ tê “của những nhà
quanh nhân vật Mỵ. Có thể thấy ở nhân vật này đầy ắp những chi tiết hay, chi tiết độc
đáo. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể đi hết mọi chi tiết mà quan trọng nhất là biết
lựa chọn những chi tiết có giá trị lớn nhất trong việc thể hiện ý đồ tư tưởng của tác phẩm
và biết khai thác sâu ý nghĩa của mỗi chi tiết ấy.
Mở đầu truyện ngay từ những dòng đầu tác giả đã rất khéo léo giới thiệu
về Mỵ: “Ai ở xa về có việc vào nhà thống Lý Pá Tra thường trông thấy có một
11
cô con gái ngồi quay sợi bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng
vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vả, chẻ củi hai đi cõng nước dưới khe suối
lên, cô ấy cũng cuối mặt, mặt buồn rười rượi Cô ấy là vợ A Sử, con trai của
Thống Lý Pá Tra”. Cách miêu tả, dẫn dắt như thế có sức gây ấn tượng về nhân
vật mà nhà văn muốn giới thiệu. Tôi đã hướng dẫn học sinh, khi đọc hiểu đoạn
giới thiệu này tập trung vào chi tiết: Lúc nào cũng cúi mặt, mặt buồn rười
rượi, đặc biệt chi tiết Mỵ ngồi “bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa”. Tác giả
đã tỏ ra tất tinh tế và sâu sắc khi đặt nhân vật trong sự đối lập với khung cảnh
xung quanh: giữa cảnh giàu sang của nhà Thống Lý Pá Tra “nhiều nương, nhiều
bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng” thì Mỵ đặt ngang với vật vô tri vô giác, vị trí
thấp kém: tảng đá, tàu ngựa. Ẩn dụ này chính là thân phận thấp hèn, với địa vị
nô lệ mặc dù, nghịch lý thay, tuy không phải là con gái nhưng lại là con dâu của
Thống Lý Pá Tra. Nói về thân phận Mỵ ở nhà Pá Tra là phải nói đến chi tiết đó.
Tìm hiểu nhân vật Mỵ, qua đoạn giới thiệu chúng ta thường đi sâu vào các
khía cạnh: nỗi đau thể xác, nỗi đau tinh thần và sức sống kỳ diệu của nhân vật. Ở
mỗi khía cạnh tôi hướng dẫn học sinh tập trung khai thác các chi tiết phục vụ cho
các nội dung trên. Chẳng hạn ở nỗi đau thể xác có chi tiết “Bao giờ cũng thế,
suốt năm suốt đời như thế. Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được
đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm
cả ngày” đã nói lên sự hành hạ, bóc lột thậm tệ sức lao động của con người. Nội
dung này càng được khẳng định qua chi tiết người chị dâu tuổi chưa cao nhưng
lưng đã còng sát đất. Rồi chi tiết Mỵ bị trói đứng vào cột nhà trong suốt đêm, chi
tiết A Sử đạp chân vào mặt Mỵ khi cô đang bóp chân cho hắn, chi tiết A Sử đi
chỉ là kẻ nô lệ thấp kém trong gia đình Pá Tra mà còn như là một người tù đang ở
chính ngay trong nhà người chồng. Đặc biệt qua chi tiết căn buồng, nhà văn đã tạo dựng lên
được một thứ ngục thất tinh thần, ở đó nó không chỉ giam hãm thân xác, mà còn giam hãm
cả tuổi xuân và tình yêu của Mị.
Khai thác khía cạnh sức sống kỳ diệu của nhân vật Mị, tôi cũng bắt đầu bằng việc
cho học sinh tìm các chi tiết. Có thể thấy ở nội dung chi tiết cũng rất nhiều và đặc sắc. Từ
chi tiết Mị vào rừng tìm lá ngón để tự tử nhưng không đành lòng chết vì thương bố, đến chi
tiết Mị nổi loạn trong đêm tình mùa xuân và sau nữa là chi tiết Mị cởi trói cho A Phủ. Có thể
nói, nhà văn đã rất thành công trong việc miêu tả tâm lý nhân vật Mỵ để nói lên
sự trỗi dậy mãnh liệt của lòng ham sống và khát khao hạnh phúc ở nhân vật này.
Chi tiết Mỵ cởi trói cho A Phủ đã được nhiều người phân tích rạch ròi, bởi vì nó
là đỉnh cao của sự trỗi dậy ở Mỵ, là hành động tất yếu không thể khác hơn. Có
điều nhà văn đã khéo léo trong việc dẫn dắt, miêu tả diễn biến phức tạp tâm
trạng của nhân vật và chi tiết “tiếng sáo gọi bạn tình” chính là bước dẫn dắt đó.
Đây là chi tiết được Tô Hoài miêu tả rất tinh tế để thể hiện sự trỗi dậy mãnh liệt
trong tâm hồn của Mỵ.
Thật vậy, đọc truyện chúng ta ai cũng biết, lúc đầu sống trong cảnh nô lệ ở
nhà Thống Lý Pá Tra, Mỵ đã định tự tử bằng lá ngón, nhưng vì thuơng cha nên
Mỵ đã không thực hiện. Dần dẫn Mỵ đã bị tê liệt sức phản kháng đó: “Ở lâu
trong cái khổ, Mỵ quen khổ rồi. Bây giờ thì Mỵ tưởng mình cũng là con trâu,
mình cũng là con ngựa Mỗi ngày Mỵ càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi
trong xó cửa” . Tuy nhiên đó chỉ là cái bên ngoài, ngòi bút của nhà văn đã đi sâu
vào ngõ ngách tâm hồn của nhân vật để khám phá và khơi dậy cái sức sống
mãnh liệt ở Mỵ. Chi tiết “tiếng sáo gọi bạn mùa xuân” chính là sự biểu tượng
của sự trỗi dậy đó. Phần sáng của truyện cũng bắt đầu bằng chi tiết này. Trong
truyện tiếng sáo gọi bạn đã theo sát diễn biến tâm trạng của Mỵ. Lúc đầu, khi
mùa xuân đến có tiếng ai thổi sáo gọi bạn đi chơi, nghe tiếng sáo Mỵ đã thiết
tha, bồi hồi, nhẩm thầm lời bài hát, Mỵ uống rượu say và Mỵ quyết định đi chơi
Tết như mọi thanh niên khác. Tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lơ lửng ngoài đường.
Khi bị A Sử ngăn cản trói tàn bạo vào cột nhà thì Mỵ vẫn nghe tiếng sáo đưa Mỵ
người dân đến mức như thấm sâu vào nếp suy nghĩ và cảm xúc từng người: Tnú
thấy cụ Mết như một cây xà nu đại thụ và ngực cụ “căng như một cây xà nu
lớn”, còn cụ Mết cũng luôn tự hào “không có gì mạnh bằng cây xà nu đất ta”…
Để làm nổi bật hình tượng cây xà nu, còn có thể khai thác rất nhiều những
chi tiết khác. Đó là chi tiết “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không cây nào là không
bị thương”, “Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh
nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”
đã thể hiện sự cùng chung gian khổ, cùng chung số phận của cây xà nu với con
người Tây Nguyên bất khuất. Những chi tiết “Trong rừng ít có loại cây sinh sôi
nảy nở khoẻ như vậy”, “Cũng có ít loài cây ham ánh sáng mặt trời đến thế” đã
tượng trưng cho niềm khát khao tự do, lòng tin vào lý tưởng cách mạng của
người dân Tây Nguyên, của đồng bào miền Nam trong cuộc kháng chống Đế
14
quốc Mỹ xâm lược. Chi tiết “có những cây vượt lên được cao hơn đầu người,
cành lá sum sê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ. Đạn đại bác không
giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể
cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh thay thế những cây đã ngã” đã thể hiện
sự tồn tại kì diệu của rừng xà nu qua những hành động huỷ diệt của kẻ thù, cũng
đồng thời là biểu trưng cho sức sống bất diệt, sự bất khuất, kiên cường và sự
vươn lên mạnh mẽ của con người Tây Nguyên trong cuộc chiến một mất một
còn với bè lũ cướp nước và bán nước.
II.3.2. Đọc hiểu hình tượng nhân vật Tnú
Tnú là nhân vật chính, nhân vật trung tâm của tác phẩm, đi sâu khai thác
nhân vật này cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình đọc hiểu “Rừng xà nu”.
Thông qua hướng dẫn học sinh khai thác các chi tiết cụ thể trong tác phẩm các
em sẽ làm nổi bật hình tượng nhân vật cũng như chủ đề tư tưởng của tác phẩm.
Để giúp học sinh dễ tìm hiểu, có thể gọi ra những luận điểm chính làm cơ sở
khai thác chi tiết. Chẳng hạn luận điểm: Tnú là người có tính cách gan góc, dũng
cảm, mưu trí, học sinh sẽ đi vào khai thác các chi tiết Tnú cùng Mai xung phong
vào rừng nuôi dấu cán bộ sau khi đã chứng kiến cái chết của anh Xút, của bà
về thăm làng. Lúc đầu cô gọi anh là: “đồng chí” và giọng hơi lạnh lùng, đôi mắt
nghiêm khắc. Sau đó khi đọc xong giấy phép của Tnú, cô mới cười và gọi Tnú là
“anh” và xưng lại là “em”.Có người cho là Dít đã quá nguyên tắc khi xử sự
như thế đối với anh rể của mình. Có thể là Dít hơi nguyên tắc, nhưng nếu để ý
đến thái độ của mọi người “im lặng chờ đợi chung quanh” và khi Dít đã đọc
xong tờ giấy phép có chữ ký của người chỉ huy thì “tiếng cười nói im đi một lúc
bây giờ lại rộn lên, chật cả căn nhà nhỏ”, đồng thời có để ý đến cảnh làng Xô
Man đổi thay, quy cũ và đang trong tư thế sẵn sàng chống lại mọi âm mưu của
kẻ thù thì chúng ta mới thông cảm cho cách xử sự của cô đối với ông anh của
mình. Bởi vì, sau đó Dít đã trở lại với hình ảnh của cô em gái với nụ cười trên
môi và lời xưng hô “anh”, “em” ngọt ngào, đó chính là tình cảm thật của cô. Dít
đã hành động như mọi người Xô Man, Dít tiêu biểu cho người làng Xô Man
cảnh giác, đề phòng sẵn sàng chờ đón quân thù, nhưng sinh hoạt làng xóm thì
vẫn hồ hởi, tự tin, vui vẻ. Đó chính là sức mạnh để tồn tại của người Xô Man
truớc sự tàn bạo của quân thù…
Do khuôn khổ cũng như mục đích của bài viết không tập trung vào việc
khai thác các chi tiết cụ thể trong tất cả các tác phẩm truyện ngắn tự sự của
chương trình lớp 12 THPT, nên tôi chỉ đề cập vào ba tác phẩm và mỗi tác phẩm
cũng chỉ đề cập đến một số vấn đề có ý nghĩa như những minh chứng trong việc
hướng dẫn học sinh 12 khai thác các chi tiết trong quá trình đọc hiểu các truyện
ngắn tự sự mà tôi đã áp dụng trong khi giảng dạy trên lớp với mong muốn làm
thay đổi động hình và giúp cho đối tượng học sinh trở nên năng động hơn trong
quá trình học tập cũng như lĩnh hội tác phẩm văn học.
16
III. MỘT VÀI KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC QUA VIỆC HƯỚNG DẪN HỌC
SINH 12 KHAI THÁC CHI TIẾT TRONG TRUYỆN NGẮN TỰ SỰ
Chương trình thay sách giáo khoa Ngữ văn 12 mới diễn ra được bốn năm
và tôi cũng chỉ áp dụng vấn đề hướng dẫn học sinh 12 khai thác chi tiết trong
truyện ngắn tự sự được vài năm, nhưng qua thực tế kiểm nghiệm trên những tiết
học, giờ kiểm tra và những bài viết cụ thể của học sinh chúng tôi nhận thấy có
nhận thức được.
17
KẾT LUẬN
Cũng như Nguyên Ngọc, nhiều nhà văn chuyên viết truyện ngắn ở trong
và ngoài nước đều thừa nhận một điều viết truyện ngắn là khó, nhất là đối với
truyện ngắn hay. Làm sao để đạt được những ý nghĩa lớn trong một hình thức
nhỏ. Chính vì vậy không chỉ nhà văn mới coi “Truyện ngắn là một trong những
thể tài văn học khó nhất” (A Phađeep) mà những người nghiên cứu phê bình,
phân tích văn học cũng thấy như vậy. Nhiều sách tham khảo cho học sinh, các
giáo trình đại học, các công trình nghiên cứu v.v có khi cùng viết về một tác
phẩm truyện ngắn văn học, nhưng không ai giống ai. Bởi vì mỗi người, mỗi sách
đã có cách nhìn và tiếp cận truyện ngắn khác nhau.
Đọc hiểu truyện ngắn tự sự, do đó cũng không hề đơn giản và muốn làm
tốt đều này chắc chắn phải biết cách lựa chọn các chi tiết. Thực ra, ở truyện ngắn
không có một chi tiết nào là thừa. Tất cả đều nương tựa vào nhau để diễn đạt ý
tưởng nội dung, chủ đề cho nên phân tích truyện ngắn thì không nên bỏ qua
những chi tiết đó.
Ở chương trình Ngữ văn 12 những truyện ngắn tự sự được đưa vào giảng
dạy đều là những tác phẩm có giá trị về nội dung và nghệ thuật. Tuy nhiên với số
lượng quá ít ỏi (chỉ gồm 5 tác phẩm), lại quá hạn chế về mặt thời gian sẽ là hạn
chế rất lớn trong việc nhìn nhận, tìm hiểu, đánh giá cũng như yêu thích một nền
văn học lớn của dân tộc. Làm sao để tránh được những hạn chế này là một điều
trăn trở lớn của mỗi giáo viên.
Trong bối cảnh hiện nay, các môn khoa học xã hội, trong đó có môn ngữ
văn đang được ít quan tâm ở các đối tượng học sinh, việc tạo ra những hướng đi
tích cực, có hiệu quả là một điều cần thiết. Hướng dẫn đối tượng học sinh khai
thác các chi tiết cụ thể trong truyện ngắn tự sự, không chỉ giúp học sinh tăng
thêm khả năng ghi nhớ, có cách nhìn, cách đánh giá năng động, sáng tạo mà ở
một phương diện nào đó, đây cũng chính là cách tiếp cận tác phẩm theo đặc