hướng dẫn học sinh lớp 8 khai thác nghệ thuật trong tác phẩm văn học để nâng cao chất lượng môn ngữ văn - Pdf 24

BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
TÊN ĐỀ TÀI: HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 8
KHAI THÁC NGHỆ THUẬT TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC
ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN NGỮ VĂN
• Giáo viên thực hiện: Võ Thị Thu – Nguyễn Thị Kim Phương
• Đơn vị công tác: Trường THCS Bàu Năng – Dương Minh Châu.
1. Lý do chọn đề tài:
Xuất phát từ yêu cầu mục tiêu và nhiệm vụ đào tạo của trường phổ thông
trong giai đoạn mới là phải phát huy tính chủ động sáng tạo, nhằm mở rộng
kiến thức và rèn luyện năng lực cảm thụ văn chương…
2.Đối tượng – phương pháp nghiêm cứu:
∗ Đối tượng nghiên cứu:
Hướng dẫn học sinh lớp 8 khai thác nghệ thuật trong tác phẩm văn học để
nâng cao chất lượng môn ngữ văn.
∗ Phương pháp nghiên cứu:
- Đọc tài liệu, nghiên cứu tài liệu.
- Điều tra đàm thoại.
- Dự giờ- kiểm tra, đối chiếu so sánh.
- Phân tích tổng hợp.
3.Đề tài đưa ra kinh nghiệm mới:
Giáo viên đã sử dụng phương pháp tích cực là làm cho học sinh có cách
suy nghĩ như thế nào trong quá trình hoạt động. Để từ đó học sinh tiếp cận,
phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức
4.Hiệu quả áp dụng:
∗ Giáo viên:
- Thực hiện đúng tinh thần đổi mới phương pháp
- Sử dụng tốt phương pháp dạy học tích cực đạt hiệu quả.
- Đáp ứng được một trong những mục tiêu giáo dục.
∗ Học sinh:
- Học sinh tự rút ra kiến thức một cách chủ động.
- Phát triển được tư duy học sinh

2. Mục đích nghiên cứu:
- Khai thác được nghệ thuật trong tác phẩm văn học.

- Vận dụng linh hoạt các phương pháp để khai thác nghệ thuật.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Khai thác nghệ thuật trong tác phẩm văn
học để nâng cao chất lượng dạy và học ở trường THCS Bàu Năng.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện để tài này chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau đây:
• Nghiên cứu tài liệu: Khi làm đề tài này chúng tôi đã đọc qua các tài liệu
có liên quan, giúp chúng tôi có cơ sở lí luận để phân tích các tài liệu,
các dữ kiện có liên quan đến việc giúp học sinh khai thác nghệ thuật
trong tác phẩm văn học.
• Điều tra:
- Dự giờ: Thông qua các tiết dự giờ để tìm hiểu các giáo viên cách hướng
dẫn học sinh khai thác nghệ thuật trong tác phẩm như thế nào? Cách
hướng dẫn đó có hiệu quả chưa ? Để từ đó rút kinh nghiệm cho bản
thân mình.
- Thực nghiệm: Thông qua quá trình giảng dạy và kiểm tra đánh giá kết
quả học tập của học sinh ở các thời điểm trong năm học, đã giúp chúng
tôi có nhận xét phù hợp khi thực hiện đề tài.
- Kiểm tra đối chiếu so sánh:
• Kiểm tra điều chỉnh bổ sung.
• Kiểm tra đánh giá việc thực hiện, so sánh khi chưa áp dụng giải pháp và
khi áp dụng giải pháp.
5. Giải thuyết khoa học:
Môn ngữ văn là môn khoa học xã hội, trong giảng dạy văn đòi hỏi giáo viên
cần phải đặt ra các câu hỏi phù hợp nhằm kích thích sự suy nghĩ của học sinh.
Nhưng hiện nay học sinh lớp 8 của trường trung học cơ sở Bàu Năng học môn
ngữ văn chưa đồng điều. Giáo viên đã cố gắng cải tiến nhiều phương pháp

thức phong phú, hấp dẫn dễ kích thích tính tò mò, ham hiểu biết của học
sinh tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành động cơ, nhu cầu nhận
thức cũng như hứng thú học tập bộ môn Ngữ văn.
Ngữ văn là môn khoa học xã hội giúp học sinh nắm được những kiến
thức cơ bản trong đời sống xã hội, hiểu biết về đời sống cũng như giúp
học sinh vận dụng những kiến thức đã học vào giao tiếp.
b. Mục tiêu dạy học môn ngữ văn:
Mục tiêu của môn Ngữ văn nói chung và của tiết dạy nói riêng
không chỉ hướng tới hình thành cho học sinh tư duy độc lập, tư duy
sáng tạo và hình thành phát triển năng lực tự học đồng thời tạo điều
kiện thuận lợi cho học sinh được tập dượt tham gia giải quyết những
vấn đề thực tế có liên quan đến kiến thức đời sống xã hội.
Hiện nay sách giáo khoa Ngữ văn 8 THCS được viết theo cách
hướng dẫn học sinh hoạt động chiếm lĩnh kiến thức. các câu hỏi trong
sách giáo khoa Ngữ văn là một trong những phương án gợi ý của tác

giả. Câu hỏi ở mức độ nhận thức càng cao thì mức độ tư duy của học
sinh càng cao. Như vậy giáo viên sẽ xem xét cách đặt câu hỏi gợi mở
nhằm tạo điều kiện cho học sinh động não, tích cực tham gia vào quá
trình luyện tập.
II. Cơ sở thực tiển:
1. Thực trạng của việc hướng dẫn học sinh khai thác nghệ thuật trong
các tác phẩm văn học ở sách giáo khoa môn Ngữ văn:
Qua quá trình trực tiếp giảng dạy và dự giờ đồng nghiệp, bản thân của
chúng tôi đã nhận thấy những vấn đề sau:
• Học sinh:
+ Tình trạng chung hiện nay là học sinh thụ động.
+ Học sinh trung bình yếu chưa mạnh dạn phát biểu.
+ Không biết cách khai thác nghệ thuật trong các văn bản ở sách giáo
khoa.

2. Giải quyết vấn đề đặt ra:
a. Các câu hỏi phát triển tư duy của học sinh:
Hiện nay, nhiều nước trên thế giới coi việc xác định mục tiêu nhận thức
của học sinh là phù hợp với việc đánh giá kết qủa của nhiểu môn học trong
nhà trường phổ thông. Nhận thức của học sinh chia làm sáu mức độ từ thấp
đến cao. Đó là:
Nhận biết: Là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây; nghiã là có
thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ
liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lí thuyết phức tạp.
Thông hiểu: Là khả năng nắm được, hiểu được ý nghiã của các khái niệm,
hiện tượng, sự vật, giải thích được, chứng minh được, có thể cụ thể hoá
mức độ thông hiểu bằng các yêu cầu.
Vận dụng: Là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh
cụ thể mới: Vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề

đặt ra; là khả năng đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng kiến thức, biết sử
dụng phương pháp, nguyên lí hay ý tưởng giải quyết một vấn đề nào đó.
Phân tích: Là khả năng phân chia một thông tin ra thành các phần thông
tin nhỏ sau cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối
liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng.
Tổng hợp: Là khả năng tổng hợp, sắp xếp, thiết kế lại thông tin; khai thác,
bổ sung thông tin từ các nguồn tư liệu khác để sáng lập một hình mẫu mới.
Đánh giá: Là khả năng xác định giá trị của thông tin: bình xét, nhận định,
xác định được giá trị của một tư tưởng, một nội dung kiến thức, một
phương pháp. Đây là mức độ cao nhất của nhận thức vì nó chứa đựng các
yếu tố của các mức độ nêu trên. Khả năng đánh giá thể hiện khi học sinh
phải quyết định vấn đề nào cần được áp dụng như thế nào trong tình huống
mới.
• Yêu cầu của từng câu hỏi nhận thức:
- Câu hỏi ở mức độ “nhận biết”

- Câu hỏi ở mức độ “ phân tích”:
+ Mục tiêu: Kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn đề, từ đó đi đến kết
luận,
tìm mối quan hệ mới, từ diễn giải hoặc đưa ra kết luận.
+ Tác dụng: Cho học sinh thấy có khả năng tìm ra được các mối quan hệ
mới, tự diễn giải hoặc đưa ra kết luận.
+ Cách đặt câu hỏi:
Ví dụ: Văn bản: “ Thuế máu” của Nguyễn Ái Quốc.
- Hỏi: Những từ ngữ, hình ảnh nào có giá trị biểu cảm trong đoạn văn
này?
- Hỏi: Sử dụng những từ ngữ hình ảnh đó có tác dụng gì?
- Câu hỏi ở mức độ “tổng hợp”:

+ Mục tiêu: Kiểm tra xem học sinh có thể đưa ra những dự đoán, giải
quyết một vấn đề, đưa ra câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo
+ Tác dụng: Thúc đẩy sự sáng tạo của học sinh, học sinh phải tìm những
nhân tố và ý tưởng mới để có thể bổ sung cho nội dung, khiến học sinh
phải đoán, giải quyết vấn đề.
+ Cách đặt câu hỏi:
Ví dụ: Văn bản: “ Tức nước vỡ bờ” của Ngô Tất Tố.
- Hỏi: Em có nhận xét gì về nghệ thuật khắc hoạ nhân vật của tác giả?
- Câu hỏi ở mức độ “đánh giá”:
+ Mục tiêu: Kiểm tra xem học sinh có thể đóng góp ý kiến và đánh giá các
ý tưởng và giải pháp,… đưa vào những tiêu chuẩn đã đề ra
+ Tác dụng: Cho thấy học sinh có khả năng đánh giá được ưu điểm, nhược
điểm và mặt hạn chế hay giới hạn sử dụng của những ý tưởng giải pháp đã
đề ra.
+ Cách đặt câu hỏi:
Ví dụ: Văn bản: “ Tức nước vỡ bờ” của Ngô Tất Tố.
- Hỏi: Theo em sự thay đổi thái độ của chị Dậu có được miêu tả chân

làng cách xa biển nửa ngày sông.
- Hỏi:Tác giả sử dụng phương thức biểu đạt gì ở hai câu thơ đầu?
+ Trả lời: Kể.
- Hỏi: Em có nhận xét gì về lời giới thiệu đó?
+ Trả lời: Lời kể về quê hương làng biển vốn làm nghề chài lưới bằng những
lời thơ bình dị.
2. Cảnh thuyền chài ra khơi đánh cá:
- Hỏi: Cảnh thuyền ra khơi đánh cá được miêu tả trong không gian và thời
gian như thế nào?
+ Trả lời: Không gian: Trời trong, gió nhẹ; thời gian: sớm mai hồng. Đó là
một không gian đẹp, lành mạnh, đầy hứa hẹn cho một chuyến đi.

- Hỏi: Hình ảnh “Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã” và “Cánh buồn
giương to như mảnh hồn làng” tác giả sử dụng phép tu từ gì?
+ Trả lời: So sánh
- Hỏi: Biện pháp so sánh được sử dụng trong các câu thơ này có tác dụng
gì ?
+ Trả lời: Làm cho khung cảnh vừa có hình vừa có hồn, đẹp một cách lãng
mạn, bay bổng.
- Hỏi: Hình ảnh so sánh “ Con tuấn mã” và một loạt động từ mạnh ( hăng,
phăng, vượt và rướn…) đã khắc hoạt hình ảnh gì?
+ Trả lời: Hình ảnh con thuyền rẽ sóng ra khơi hùng dũng như một con tuấn
mã trên đường đua, vẽ lên một khung cảnh hùng tráng, bất ngờ, đầy sức
sống.
- Hỏi: Hình ảnh người dân chài và cuộc sống của họ trong chuyến ra khơi
đánh cá được miêu tả như thế nào?
+ Trả lời: Miêu tả cuộc sống lao động vất vả của người dân làng biển.
3. Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về:
- Hỏi: Cảnh dân làng đón thuyền cá trở về bến đựơc miêu tả như thế nào?
+ Trả lời: Đông vui và phấn khởi

+ Đối với học sinh THCS câu hỏi ở ba mức độ này là phù hợp. Các mức
độ cao hơn chỉ thích hợp với học sinh giỏi và học sinh ở các lớp trên
+ Các câu hỏi hướng dẫn học sinh hoạt động chiếm lĩnh kiến thức hợp lí ít
nhất phải đạt được các yêu cầu sau:
*Giúp học sinh đạt tới mục tiêu chung của bài học sát với nội dung và tiến
trình bài học
* Không quá khó để buộc học sinh phải suy nghĩ như không thể trả lời
được và không dễ quá để đa số học sinh có thể trả lời được
* Phù hợp với điều kiện cho phép
*Có câu hỏi phân hoá ở các mức độ cho các đối tượng học sinh khác nhau
* Có câu hỏi liên hệ thực tế.

c. Biện pháp tổ chức cho học sinh hoạt động phân tích, cắt nghiã và
khái quát hoá ý nghiã nghệ thuật một cách tích cực sáng tạo.
Thực chất của biện pháp này là giáo viên thiết kế một hệ thống câu hỏi
lôgic chặt chẽ dẫn dắt hoc sinh đi từ cảm thụ cụ thể đến khái quát hoá ý
nghiã của các chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm, từ những kết luận mang
tính bộ phận đến những kết luận khái quát hơn và cuối cùng là chủ đề tư
tưởng. Để thực hiện tốt công việc này câu hỏi giáo viên đặt ra phải có tính
hướng đích rõ ràng: Câu hỏi định hướng phân tích, câu hỏi định hướng cắt
nghiã và câu hỏi khái quát hoá . Câu hỏi cần cụ thể nhưng không vụn vặt,
sáng lời nhưng không lộ ý, vừa gợi mở vừa thách thức trí tuệ của học sinh .
Và điều quan trọng nhất là những câu hỏi ấy phải nhằm tích cực hoá các
hoạt động tư duy cảm xúc của học sinh chứ không phải để thách đố học
sinh.
Ví dụ : Dạy tiết : 101 Bài : 25 Văn bản : BÀN LUẬN VỀ PHÉP
HỌC
( Nguyễn
Thiếp )
Hướng dẫn học sinh phân tích, cắt nghiã và khái quát hoá ý nghiã nghệ

trọng vọng; học để làm quan, để được nhàn nhã , nhiều bổng lộc,
vinh thân phì gia. Tác hại chúa tầm thường thần nịnh hót, nước
mất, nhà tan.
∗ Hỏi: Thái độ của tác giả khi phê phán những lối học lệch lạc này
như thế nào?
 Trả lời: Những kẻ bất tài, vụ lợi mà ra làm quan thì gây hại lâu
dài cho dân cho nước.
∗ Hỏi: Em có nhận xét gì về cách lập luận ở đoạn văn này ?
 Trả lời: Cả đoạn văn theo kết cấu nhân – quả hết sức lôgic và
chặt chẽ.

∗ Hỏi: Từ lối học xưa, em có liên tưởng và suy nghĩ gì về mục đích,
phương pháp học của chúng ta ngày nay ?
 Trả lời: Học phải đi đôi với hành , vận dụng kiến thức đã học vào
thực tế cuộc sống hằng ngày,nếu không thì học phí công vô ích.
- Học sinh khái quát:
∗ Hỏi: Em hãy khái quát luận điểm thứ hai
 Trả lời: Lối học hình thức, thực dụng đem lại những hiệu quả
nặng nề cần phải phê phán.
3. Quan điểm và phương pháp học tập đúng đắng:
- Học sinh phân tích:
∗ Hỏi:Theo tác giả, cần phải có phương pháp như thế nào để việc học
có hiệu quả?
 Trả lời: Muốn học tốt phải học rộng , học sâu và nắm được cốt
lõi của vấn đề.
- Học sinh cắt nghiã:
∗ Hỏi: Giải thích câu “ Học rộng rồi tóm lại cho gọn, theo điều học
mà làm” nghiã là thế nào ?
 Trả lời: Phải có một kiến thức rộng lớn chứ không chỉ đóng
khung trong sách giáo khoa , phải biết ngẫm nghĩ cho sâu và nắm

đức, có tri thức có năng lực vận dụng tri thức vào cuộc sống góp
phần làm hưng thịnh đất nước.
• Tóm lại: Để thành công khi sử dụng các câu hỏi trong quá trình dạy
học giáo viên cần hiểu rõ những điều nên làm và những điều không nên
làm như sau:
- Nên làm:
+ Nên nêu câu hỏi chung cho cả lớp.
+ Dừng lại khi đặt câu hỏi
+ Khuyến khích chờ đợi câu trả lời của học sinh
+ Chú ý phân bố hợp lí số học sinh được chỉ định trả lời

+ Phân phối, tạo điều kiện để mỗi học sinh điều được trả lời câu hỏi ít
nhất một lần trong giờ học.
+ Yêu cầu học sinh giải thích câu trả lời của mình
+ Yêu cầu học sinh liên hệ câu trả lời với những kiến thức khác
+ Mở rộng câu hỏi đã cho bằng cách đặt câu hỏi phụ
+ Nếu học sinh gặp khó khăn khi trả lời, có thể gợi ý câu trả lời bằng
cách đặt câu dẫn dắt
+ Công nhận những câu trả lời đúng bằng lời nói hoặc bằng cử chỉ
dáng điệu
+ Sửa chữa những câu trả lời thừa hay thiếu
+ Cử học sinh khác nhận xét câu trả lời của bạn
- Không nên:
+ Nhắc lại câu hỏi nhiều lần
+ Tự trả lời câu hỏi của mình đưa ra
+ Nhắc lại câu trả lời của học sinh
+ Bàn luận và phê phán những câu trả lời sai
3. Kết quả cụ thể:
Đề tài đã được định hướng ngay từ tháng 01 năm 2010 đến tháng 3
năm 2011 và qua thời gian hướng dẫn học sinh lớp 8 khai thác nghệ thuật

Chất lượng tư duy của học sinh phụ thuộc vào chất lượng hệ thống câu hỏi mà
giáo viên sử dụng khi hướng dẫn học sinh tiếp cận, phát hiện và chiếm lĩnh
kiến thức. Từ đó nâng cao chất lượng học tập của học sinh.
Sách giáo khoa Ngữ văn mới là công cụ để tổ chức hoạt động tự lực của
học sinh trong quá trình chiếm lĩnh tri thức trong quá trình dạy học. Hướng
dẫn học sinh khai thác tốt nghệ thuật trong tác phẩm văn học ở sách giáo
khoa bằng ngôn ngữ riêng của mình.
Đặt câu hỏi nhằm phát triển tư duy học sinh trong giờ học chỉ có thể có
hiệu qủa khi hệ thống câu hỏi phù hợp với điều kiện dạy học, phù hợp với
trình độ học sinh và giúp các em đạt được mục tiêu bài học.
2. Hướng phổ biến của đề tài:
Với kinh nghiệm “ Hướng dẫn học sinh lớp 8 khai thác nghệ thuật trong
tác phẩm văn học” chúng tôi nhận thấy đã phát huy được tính tích cực tự giác
học tập của học sinh, từ đó chất lượng học tập của học sinh ngày càng được
nâng cao. Nên giáo viên có thể áp dụng vào các tiết dạy giảng văn lớp 6, lớp
7, lớp 8 ở trường THCS Bàu Năng.
3. Hướng nghiên cứu tiếp đề tài :
Bằng những lí luận và giải pháp cụ thể của đề tài, bản thân chúng tôi đã
vận dụng có hiệu quả vào thực tiển dạy học chương trình Ngữ văn 8. Ở các
tiết dạy văn bản và sẽ tiếp tục nghiên cứu tiếp các phương pháp giảng dạy
theo hướng tích cực khác nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn để từ
đó góp phần đạt mục tiêu giáo dục và đào tạo của ngành giáo dục, đặt biệt là
học sinh ở cấp trung học cơ sở.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu tập huấn giáo viên dạy học kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến
thức kĩ năng trong chương trình giáo dục phổ thông
Bộ giáo dục và đào tạo
2. Phương pháp dạy học văn bản nghị luận ở trường phổ thông .
Hoàng Thị Mai chủ biên

3. Hội đồng khoa học Ngành
a. Nhận xét:

b. Xếp loại:……………………

TM Hội đồng khoa học Ngành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status