SKKN Hướng dẫn học sinh phân biệt văn thuyết minh với văn thuyết minh có yếu tố nghệ thuật nhằm nâng cao chất lượng môn ngữ văn 9 - Pdf 24

BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tên đề tài: “Hướng dẫn học sinh phân biệt văn thuyết minh với văn thuyết
minh có yếu tố nghệ thuật nhằm nâng cao chất lượng môn Ngữ văn 9”.
Người thực hiện: Cao Thuý Phượng.
Đơn vị công tác: Trường Trung học cơ sở Bàu Năng.
1. Lí do chọn đề tài:
Trước đây phân môn làm văn trong nhà trường với những phương thức cơ
bản và biệt lập: tả, kể, cảm nghĩ, nghị luận và các văn bản hành chính thông dụng
chưa đề cập đến đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự. Đó là
phương thức thuyết minh và thuyết minh có kết hợp các yếu tố nghệ thuật vào
trong chương trình. Là phương thức mới giúp các em biết kết hợp linh hoạt và sáng
tạo các phương thức khác cũng như vận dụng các yếu tố nghệ thuật. Đây chính là lý
do thôi thúc tôi chọn đề tài: “Hướng dẫn học sinh phân biệt văn thuyết minh với
văn thuyết minh có yếu tố nghệ thuật nhằm nâng cao chất lượng bộ môn Ngữ
văn 9.”
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hướng dẫn học sinh biết phân biệt văn
thuyết minh với văn thuyết minh có yếu tố nghệ thuật.
Thực hiện đề tài ở lớp 9A
1
, 9A
2
Trường Trung học cơ sở Bàu Năng năm học
2010- 2011.
Khi thực hiện đề tài này, tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu
sau:
Phương pháp thống kê.
Phương pháp đọc tài liệu.
Phương pháp so sánh.
Phương pháp khái quát, tổng hợp.
3. Đề tài đưa ra giải pháp mới:

Đó là những phương thức biểu đạt giúp các em thể hiện cảm nhận của mình
trong quá trình lĩnh hội tác phẩm văn chương. Còn việc lĩnh hội những tri thức
khách quan để trang bị cho các em cách ứng xử, cách thuyết trình một vấn đề mang
tính khoa học sao cho tương thích với sự hội nhập trong điều kiện kinh tế của thời
đại thì chương trình cũ chưa đề cập đến. Nói như vậy để khẳng định một lần nữa
cái hay, cái mới và sự cập nhật kịp thời của chương trình hiện nay theo chuẩn kiến
thức và kỹ năng là phải đưa phương thức thuyết minh và thuyết minh có kết hợp
các yếu tố nghệ thuật vào trong chương trình.
Là phương thức mới, đòi hỏi học sinh phải vận dụng tri thức khách quan để
thể hiện, đặc biệt là phải biết kết hợp linh hoạt và có sáng tạo các phương thức khác
cũng như vận dụng các yếu tố nghệ thuật để thể hiện. Nên không tránh khỏi những
khó khăn, thậm chí bị bế tắt trong quá trình tiếp thu kiến thức cũng như vận dụng
thực hành. Đây chính là lý do thôi thúc tôi chọn đề tài: “Hướng dẫn học sinh phân
biệt văn thuyết minh với văn thuyết minh có yếu tố nghệ thuật nhằm nâng cao
chất lượng bộ môn Ngữ văn 9.”
2. Mục đích nghiên cứu:
Từ việc đổi mới phương pháp giảng dạy ở tất cả các bậc học và xác định phải
khuyến khích học sinh tự học, tự nghiên cứu. Áp dụng những phương pháp dạy học
hiện đại để bồi dưỡng học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn
đề.Giáo viên phải thường xuyên nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp dạy học
có hiệu quả nhằm giúp học sinh biết so sánh, phân biệt được sự khác nhau của văn
thuyết minh và thuyết minh có kết hợp yếu tố nghệ thuật được rõ ràng và sâu sắc
hơn. Để phần nào tháo gỡ, giải quyết được những khó khăn mà thầy - trò gặp phải
trong tình hình học tập và chất lượng bộ môn hiện nay, với mục đích cuối cùng là
nâng cao chất lượng dạy – học.
3. Đối tượng nghiên cứu:
3
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Hướng dẫn học sinh biết phân biệt văn
thuyết minh với văn thuyết minh có yếu tố nghệ thuật.
Đặc biệt tập trung cho học sinh biết sắp xếp định hướng khi thực hành có

4
Quá trình dạy và học sẽ bị tẻ nhạt, nhàm chán, nặng nề hơn nếu như giáo viên
không hướng dẫn cụ thể cho học sinh biết phân biệt giữa văn thuyết minh với văn
thuyết minh có kết hợp các yếu tố nghệ thuật và các em sẽ dễ nhầm lẫn khi làm bài.
Do đó việc giúp học sinh biết phân biệt được văn thuyết minh với văn thuyết minh
có kết hợp yếu tố nghệ thuật là việc làm rất quan trọng, qua đó các em sẽ có được
kỹ năng phân biệt, so sánh trong việc thực hành làm văn thuyết minh có kết hợp các
yếu tố nghệ thuật đạt được chất lượng tốt hơn.
5
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận:
1.1. Các văn bản chỉ đạo:
Nghị quyết Trung ương IV khoá VII năm 1993 đã đề ra nhiệm vụ: “Đổi mới
phương pháp dạy học ở tất cả các cấp bậc học và xác định phải khuyến khích tự
học, tự nghiên cứu”.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định phát huy tinh thần độc lập, sáng
tạo của học sinh, sinh viên để nâng cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và
tay nghề. . . đổi mới dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo
của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khoá, làm chủ kiến thức,
tránh nhồi nhét, học vẹt.
Điều 24 Luật Giáo dục (do Quốc hội khoá X thông qua) đã chỉ rõ phương pháp
giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học
sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học;
rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại
niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
1.2.Vai trò và đặc điểm của văn thuyết minh và thuyết minh có kết hợp các
yếu tố nghệ thuật:
Văn thuyết minh là loại văn bản có khả năng cung cấp tri thức xác thực, hữu ích
cho con người.
Văn bản thuyết minh hay là một văn bản trình bày rõ ràng hấp dẫn đặc điểm cơ

, bản thân tôi nhận thấy kĩ năng phân biệt giữa văn thuyết
minh và văn thuyết minh có kết hợp yếu tố nghệ thuật ở các em đạt mức độ thấp,
rất hạn chế, mặc dù là học sinh cuối cấp.
Cụ thể trong bài viết số 1 ở lớp 9 là văn thuyết minh có sử dụng yếu tố nghệ
thuật mà các em chỉ biết viết một bài văn thuyết minh suông, chưa kết hợp các yếu
tố nghệ thuật trong bài làm mà chỉ viết theo cảm hứng và sở thích của mình cho đủ
bài, hết giờ thì thôi- không kể đó là dạng bài gì? Kiểu bài gì? Yêu cầu ra sao?
Do cấu trúc chương trình, lớp 8 các em học và làm văn thuyết minh, đầu năm
lớp 9 không tìm hiểu lại mà tiếp tục nâng cao thêm việc kết hợp các yếu tố nghệ
thuật cho bài viết.
Trước tình hình thực tế như thế thì giáo viên chúng ta cần phải bám sát và
thực hiện theo chuẩn kiến thức kĩ năng đã được hướng dẫn, thực hiện. Điều lưu ý là
7
khi soạn giảng ta cần phải linh động, sáng tạo sắp xếp hệ thống kiến thức cho phù
hợp với khả năng tiếp nhận của học sinh, từ đó giúp các em thoải mái, nhẹ nhàng
và có hứng thú khi học đến dạng văn này, các em hoạt động nhiều hơn, tích cực
hơn mà không có tâm trạng bị áp đặt hay nặng nề.
Nếu như giáo viên không có sự chuẩn bị để hướng dẫn học sinh biết phân
biệt, so sánh những điểm khác nhau cơ bản giữa văn thuyết minh và văn thuyết
minh có kết hợp các yếu tố nghệ thuật thì liệu các em có được sự hứng thú trong
giờ học, kết quả cao trong thực hành không.
2.2. Sự cần thiết của đề tài:
Chính những việc đã nêu trên, bản thân của mỗi giáo viên chúng ta phải lựa
chọn cách thức truyền đạt, hướng dẫn sao cho phù hợp, nhẹ nhàng mà dễ hiểu, dễ
phân biệt, nắm bắt và so sánh được giữa văn thuyết minh khác với thuyết minh có
kết hợp yếu tố nghệ thuật. Ngoài ra, khi soạn giáo án để thực hiện tiết dạy, giáo
viên cần phải bám theo chuẩn kiến thức và theo quan điểm mới: “không phải là bản
đề cương để ghi nhận những điều thầy cảm mà là bản thiết kế những việc làm cho
học sinh nhằm phát huy được tính năng động, tư duy sáng tạo của các em trong học
tập, trong làm bài."

Văn bản thuyết minh cung cấp tri thức khách quan về sự vật, hiện tượng,
giúp người đọc, người nghe hiểu được chúng một cách đúng đắn, đầy đủ. Cung cấp
tri thức, văn bản thuyết minh đặt mục đích làm cho người ta hiểu lên hàng đầu, yếu
tố cảm nhận hay thưởng thức được đặt xuống hàng thứ yếu. Ngôn ngữ trong văn
bản thuyết minh yêu cầu chính xác, chặt chẽ, tường minh. Nó không đa nghĩa mà
càng đơn nghĩa càng tốt; tuy nhiên không loại trừ việc thuyết minh hấp dẫn nhờ
cách đặt vấn đề, cách nêu tình huống độc đáo và một số biện pháp nghệ thuật khác.
Cách làm bài văn thuyết minh:
Tri thức để làm bài văn thuyết minh:
Bài văn thuyết minh là bài cung cấp tri thức cho người đọc (người nghe) để
họ có thể hiểu, nắm được đặc điểm, bản chất của một sự vật, hiện tượng nào đó. Vì
thế muốn thuyết minh được mạch lạc, rõ ràng, người viết phải có vốn tri thức nhất
định về điều mình viết. Muốn có tri thức, người viết phải trực tiếp tìm hiểu sự vật,
9
quan sát, ghi chép, hỏi những người am hiểu, Đó là cách tích luỹ kiến thức trực
tiếp. Tuy nhiên, không phải mọi vấn đề cần thuyết minh đều đòi hỏi phải đi thực tế
và cũng khó mà đi thực tế. Bởi vậy, tri thức cũng có thể tích luỹ một cách gián tiếp
thông qua sách vở, thông qua mạng in-tơ-nét,… Cũng có khi phải kết hợp sử dụng
các nguồn tri thức với nhau.
Qui trình làm bài văn thuyết minh:
Bài văn thuyết minh cũng được làm theo qui trình chung của một bài tập
làm văn, gồm 4 bước: tìm hiểu đề, tìm ý; lập dàn ý; viết bài và sửa chữa. Muốn viết
được bài văn thuyết minh thành công cần phải tìm hiểu đề và tìm được các ý cho
bài viết. Sau khi tìm được ý, phải chọn phương pháp thuyết minh cho phù hợp. Sau
đó là lập dàn ý và viết bài. Trong khi viết, có thể bổ sung, thêm bớt ý cho dàn bài
hoàn chỉnh. Bước cuối cùng là sửa lại bài viết, nhất là sửa các lỗi chính tả, lỗi ngữ
pháp.
Các phương pháp thuyết minh:
Đối với bài văn thuyết minh về sự vật, hiện tượng có thể sử dụng những
phương pháp thuyết minh sau đây:

Khắc Viện (trong bài Ôn dịch thuốc lá) nêu ví dụ: Thấm vào các tế bào, chất
hắc ín lại thường gây ra ung thư. Ta đến bệnh viện K sẽ thấy rõ: Bác sĩ viện trưởng
cho biết trên 80 % ung thư vòm họng và ung thư phổi là do thuốc lá. (Ngữ văn 8,
tập 1, trang 119)
- Phương pháp dùng số liệu (con số):
Thật ra, nêu các con số cũng là một cách nêu ví dụ. Nhưng ở đây nhấn mạnh
đến ý nghĩa của con số. Các con số thống kê tự bản thân nó đã có ý nghĩa lớn gây
ấn tượng mạnh mà không cần phải thuyết minh thêm. Trong bài Đấu tranh cho
một thế giới hoà bình, G. Mác-két sử dụng việc nêu số liệu rất ấn tượng: Một ví
dụ trong lĩnh vực tiếp tế thực phẩm: Theo tính toán của FAO, năm 1985, người ta
thấy trên thế giới có gần 575 triệu người thiếu dinh dưỡng. Số lượng ca-lo trung
bình cần thiết cho những người đó chỉ tốn kém không bằng 149 tên lửa MX Chỉ
cần 27 tên lửa MX là đủ trả tiền nông cụ cần thiết cho các nước nghèo để họ có
được thực phẩm trong bốn năm tới. (Ngữ văn 9, tập 1, trang18)
- Phương pháp so sánh:
11
So sánh là một biện pháp nhằm làm cho người đọc, người nghe hình dung rõ
sự vật được nói tới.So sánh là một trong ba thể tiêu biểu để triển khai nội dung của
bài ca dao: phú, tỉ ( so sánh) và hứng. Diễn tả vẻ đẹp của cô gái, ca dao viết: Cổ
tay em trắng như ngà – Con mắt em sắc như là dao cau. Ngà làm cho ta cảm nhận
được màu trắng cổ tay, dao cau giúp ta cảm nhận được độ sắc của cặp mắt. Nhờ so
sánh mà đối tượng được hình dung rất cụ thể, sinh động.
Viết về thành phố Sài Gòn ba trăm năm tuổi, muốn nhấn mạnh Sài Gòn
vẫn trẻ, Minh Hương so sánh: Sài Gòn vẫn trẻ […]. Ba trăm năm so với năm
ngàn năm tuổi của Đất nước thì cái đô thị này còn xuân chán. Sài gòn cứ trẻ hoài
như một cây tơ đương độ nõn nà, trên đà thay da, đổi thịt (Ngữ văn 7, tập 1, trang
168). So sánh ba trăm năm với ba ngàn năm; Sài Gòn với cây tơ đương độ nõn
nà, người đọc thấy ngay là Sài Gòn vẫn trẻ.
- Phương pháp phân loại và phân tích:
Thuyết minh là văn bản dùng cho nhiều loại đối tượng khác nhau. Có món ăn,

động, như đang đi lại, đang tụ lại cùng nhau, hay đang toả ra. Hoặc cũng rất có
thể, khi đêm đã xuống, dưới ánh sao chi chít xao động dưới cả mặt nước bí ẩn nữa,
sẽ có cuộc tụ họp của cái thế giới người bằng đá sống động đó, biết đâu !. . .
Tường Lan khi thuyết minh về ruồi xanh đã tưởng tượng ra một phiên
toà của Ngọc Hoàng có vệ sĩ Nhện, có tội nhân Ruồi Xanh, có luật sư bào chữa.
Lời khai của Ruồi Xanh chính là một cách thuyết minh về loài ruồi, họ hàng
và nơi sinh sống của nó: Con là Ruồi Xanh, thuộc họ côn trùng hai cánh, mắt
lưới. Họ hàng con rất đông gồm Ruồi trâu, Ruồi vàng, Ruồi giấm Nơi ở là nhà vệ
sinh, chuồng lợn, chuồng trâu, nhà ăn, quán vỉa hè…., bất kì chỗ nào mà có thức
ăn mà không đậy điệm con đều lấy làm nơi sinh sống.
Văn Hùng khi thuyết minh về chiếc kim khâu đã dùng phép nhân hoá và
tự thuật, để cho cây kim tự kể chuyện và giới thiệu về mình: Trong các dụng cụ
của con người, có lẽ chúng tôi thuộc loại bé nhất. Tuy bé nhưng nhà ai cũng cần
đến. Các bạn có biết chúng tôi là ai không ? Chúng tôi là những cái kim khâu bằng
kim loại, bề ngang độ nửa mi-li-mét, bề dài khoảng hai, ba xăng-ti-mét. . .
Nhìn chung văn bản thuyết minh ở lớp 9 vẫn là kiểu văn bản thuyết minh đã
học ở lớp 8, nhưng được nâng cao hơn về cách thức và hiệu quả thuyết minh, đặc
13
biệt là việc sử dụng một số yếu tố nghệ thuật và yếu tố miêu tả làm cho bài văn
thuyết minh sinh động, hấp dẫn. Tuy vậy, cần luôn luôn nhớ rằng các yếu tố trên
chỉ là yếu tố phụ trợ, dùng quá nhiều thì bài thuyết minh sẽ không còn là thuyết
minh nữa.
3.2.3 Quá trình thực hiện kinh nghiệm “Hướng dẫn học sinh phân biệt được
văn thuyết minh với văn thuyết minh có yếu tố nghệ thuật”
VỀ GIÁO VIÊN:
Bám sát và thực hiện theo chuẩn kiến thức kĩ năng,
Sắp xếp phân nhóm cho học sinh thảo luận,
Hỗ trợ học sinh trong quá trình thảo luận, thuyết trình,
Nhận xét, bổ sung và gút chốt kiến thức trọng tâm. . .
VỀ HỌC SINH:

Trung học cơ sở ở Việt Nam.
Khác với văn bản nghị luận, tự sự, miêu tả, biểu cảm, hành chính - công
vụ, văn bản thuyết minh trình bày tri thức một cách khách quan, giúp ta hiểu
được đặc trưng tính chất của sự vật, hiện tượng, và biết cách sử dụng chúng vào
mục đích có lợi cho con người. Văn bản thuyết minh gắn với tư duy khoa học,
nó đòi hỏi tính chính xác rạch ròi. Muốn làm được văn bản thuyết minh phải
tiến hành điều tra, nghiên cứu, học hỏi tri thức thì mới làm được.
Đưa văn bản thuyết minh vào nhà trường là cung cấp cho học sinh một
kiểu văn bản thông dụng, rèn luyện kĩ năng trình bày các tri thức có tính khách
quan, khoa học, nâng cao năng lực tư duy biểu đạt cho học sinh. Loại văn bản
này vốn không có gì xa lạ đối với học sinh vì thực ra trong từng bài giảng của
thầy cô tất cả các bộ môn đều là lời nhận xét tốt cho văn thuyết minh mà chỉ
cần giáo viên chúng ta có ý thức hướng dẫn là các em làm được.
Sự khác biệt của văn bản thuyết minh với các văn bản khác:
Khác với văn bản tự sự vì không có sự việc và diễn biến.
Khác với miêu tả vì không đòi hỏi miêu tả cụ thể cho người đọc cảm thấy,
mà cốt làm cho người ta hiểu.
15
Khác với văn bản nghị luận vì đây cái chính là trình bày nguyên lí, qui
luật, cách thức chứ không phải là luận điểm, suy luận hay lí lẽ.
Khác với văn bản hành chính – công vụ là văn bản trình bày quyết định,
nguyện vọng, thông báo.
Thực ra trên thực tế, không có một văn bản nào tồn tại độc lập một phương
thức biểu đạt (kể cả các văn bản thuộc loại văn bản truyền miệng như truyện cổ
tích, truyện cười).Một văn bản có sức thuyết phục cao thường phải kết hợp hợp lí
với các phương thức biểu đạt khác. Nhưng chú ý, không vì phải kết hợp mà làm lu
mờ phương thức chính (tuỳ từng yêu cầu đề bài). Văn thuyết minh cũng vậy, sự kết
hợp các yếu tố nghệ thuật trong văn thuyết minh mục đích để làm phong phú, nổi
bật đối tượng, giúp văn bản hấp dẫn, thuyết phục người đọc mà vẫn đảm bảo tri
thức khách quan có tính riêng của văn thuyết minh.

vầng trăng trong bài “Ánh trăng” của Nguyễn Duy… là những đề khơi gợi tính
sáng tạo không chỉ hiểu biết về cuộc sống mà còn tạo cho các em những cơ hội
giúp các em biết nhận định cũng như cảm thụ văn chương.
Những vấn đề mà đề tài đề cập trước khi qua phần thực hành không được cụ thể
trong tiết học nào cả. Chính vì thế ta cần phải vận dụng phương pháp tích hợp trong
soạn giảng, tăng cường khâu củng cố, dặn dò và kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh
qua các tiết để nắm bắt kịp thời khả năng tiếp thu và vận dụng kiến thức của từng
học sinh cho sát sao.
Phần thực hành:
Xác định mục tiêu cần đạt theo chuẩn kiến thức đã được qui định để thiết kế
toàn bộ giáo án cho phù hợp với đối tượng cũng như đặc điểm trang thiết bị của
trường.
Tiết 4: “Sử dụng một biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh”
giúp học sinh hiểu rằng: để cho bài văn thuyết minh sinh động, hấp dẫn, gây ấn
tượng, người ta có thể sử dụng một số biện pháp nghệ thuật như kể chuyện, tự
thuật, đối thoại theo lối ẩn dụ, nhân hoá hoặc các hình thức vè, diễn ca…và cho học
sinh biết cách sử dụng một số biện pháp nghệ thuật vào văn bản thuyết minh.
17
Tiết 5: “Luyện tập sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản
thuyết minh” giúp học sinh biết cách vận dụng một số biện pháp nghệ thuật vào
văn bản thuyết minh.
Tiết 9: Sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh.
Tiết 10: Luyện tập Sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh.
Nhằm: + Củng cố kiến thức đã học về văn thuyết minh.
+ Hiểu vai trò, tác dụng của yếu tố miêu tả trong văn thuyết minh.
+ Có ý thức và biết sử dụng tốt yếu tố miêu tả trong việc tạo lập văn bản
thuyết minh.
Tiết 79, 80, 163, 164: Ôn tập và tổng kết phần làm văn.
3.2.4.So sánh văn thuyết minh và thuyết minh có yếu tố nghệ thuật:
Giữa văn thuyết minh và văn thuyết minh có kết hợp yếu tố nghệ thuật có

Đây là thuyết minh có kết hợp yếu tố nghệ thuật nhân hoá, ẩn dụ, vừa miêu
tả, liệt kê. . .
Bài “Hạ Long- đá và nước” là một bài giới thiệu vẻ đẹp của Vịnh Hạ Long,
thắng cảnh nổi tiếng của Việt Nam được công nhận là di sản văn hoá thế giới.
Nội dung của bài viết là thuyết minh sự kì lạ vô tận của Vịnh Hạ Long do đá
và nước tạo nên. Thông thường, khi giới thiệu về cảnh đẹp Hạ Long người ta
thường nói Vịnh Hạ Long rộng bao nhiêu? Có bao nhiêu hòn đá? Mang hình thù kì
lạ như thế nào?…
Nhưng Nguyên Ngọc giới thiệu Hạ Long theo một phương diện mà nói tới đó,
nước đem đến cho du khách những cảm giác thú vị: thả cho thuyền nổi trôi hoặc
buôn theo dòng, hoặc chèo nhẹ, hoặc lướt nhanh… trong khi dạo chơi đó, du khách
có cảm giác hình thù của các đảo biến đổi kết hợp với ánh sáng, góc nhìn, ban ngày
hay ban đêm, các đảo đá Hạ Long biến thành một thế giới có hồn, một thập loại
chúng sinh sống động.
Trong bài này tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hoá để nói về những
khối đá trên vịnh đồng thời kết hợp với việc miêu tả để làm rõ sắc thái những
con người đá mà chủ yếu là tưởng tượng và liên tưởng: tưởng tượng những
cuộc dạo chơi (qua những cụm từ có thể), khơi gợi những cảm giác có thể có
(những từ đột nhiên, bỗng, bỗng nhiên, hoá thân) dùng phép nhân hoá để tả các đảo
đá (gọi chúng là thập loại chúng sinh, là thế giới người, là bọn người đá hối hả trở
19
về…). Nước tạo như sự di chuyển và khả năng di chuyển theo mỗi cách tự nhiên,
sự thú vị của cảnh sắc thiên nhiên tạo nên một thế giới sống động biến hoá lạ lùng.
Tường Lan khi thuyết minh về ruồi xanh đã tưởng tượng ra một phiên toà
của Ngọc Hoàng có vệ sĩ Nhện, có tội nhân Ruồi Xanh, có luật sư bào chữa.
Lời khai của Ruồi Xanh chính là một cách thuyết minh về loài ruồi, họ hàng
và nơi sinh sống của nó: Con là Ruồi Xanh, thuộc họ côn trùng hai cánh, mắt
lưới. Họ hàng con rất đông gồm Ruồi trâu, Ruồi vàng, Ruồi giấm… Nơi ở là nhà vệ
sinh, chuồng lợn, chuồng trâu, nhà ăn, quán vỉa hè…, bất kì chỗ nào mà có thức ăn
mà không đậy điệm con đều lấy làm nơi sinh sống.

nghệ thuật.
- Bài văn thuyết minh có chất
lượng cao hơn, đạt hiệu quả
cao hơn.
- Bài văn thuyết minh sinh
động, hấp dẫn, gây ấn tượng.
- Vừa gây hứng thú nhưng
không làm lu mờ đối tượng
thuyết minh.
4. Kết quả so sánh số liệu:
So với năm học 2009 - 2010 (khi chưa được sử dụng giải pháp này) năm học
2010 - 2011 (khi được áp dụng giải pháp).Tôi đã thu được kết quả - một kết quả
khá mĩ mãn - với bảng thống kê như sau:
NĂM
HỌC
LỚP TS
YẾU T. BÌNH KHÁ GIỎI
TS % TS % TS % TS %
2009-
2010
9A
4
9A
5
78 25 32,1 49 62,8 3 3,8 1 1,3
2010-
2011
9A
1
9A

của văn thuyết minh thành những tiết học bổ ích cho các em học sinh bởi tính thời
đại và đa dụng của nó. Đặc biệt là phù hợp với nhu cầu đào tạo con người mới hiện
nay.
Nhưng với khả năng có hạn của bản thân tôi đã chủ động tổng hợp cũng như
đúc kết kinh nghiệm qua các tiết dự giờ từ đồng nghiệp, từ các bài viết của học sinh
ở các khâu luyện tập thực hành và làm bài viết để hình thành đề tài.
Khi thực hiện được như thế, luôn luôn tự hào với bản thân là một giáo viên
dạy văn để giúp các em càng yêu thích môn Ngữ văn hơn. Có như thế thì mục đích
cuối cùng sẽ đạt được hiệu quả cao mang lại những gì mà bản thân người dạy văn,
của ngành mong muốn.
2. Hướng phổ biến áp dụng đề tài:
Với kinh nghiệm hướng dẫn học sinh biết phân biệt văn thuyết minh với văn
thuyết minh có yếu tố nghệ thuật, tôi nhận thấy trong tiết học và qua bài làm của
các em phát huy được tính tích cực học tập, góp phần nâng cao chất lượng bộ môn.
Cho nên đề tài này sẽ tiếp tục áp dụng đối với bộ môn Ngữ văn khối lớp 8, 9
Trường THCS Bàu Năng và được phổ biến đến một số trường THCS trong huyện.
3. Hướng nghiên cứu tiếp đề tài:
Khi thực hiện với kết quả có được là tín hiệu khả quan. Chính vì vậy năm học
sau tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu và thực hiện đề tài “Sử dụng yếu tố miêu tả trong văn
thuyết minh”.
Tuy nhiên, đây chỉ mới là bước đầu rất mong được sự nhận xét, góp ý chân
tình của anh chị em đồng nghiệp, các cấp quản lí chuyên môn và Hội đồng khoa
học các cấp để đề tài này được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn.
23

24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status