BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tên đề tài: “Hướng dẫn học sinh phân biệt văn thuyết minh với văn thuyết minh
có yếu tố nghệ thuật nhằm nâng cao chất lượng môn Ngữ văn 9”.
1. Lí do chọn đề tài:
Trước đây phân môn làm văn trong nhà trường với những phương thức cơ bản và
biệt lập: tả, kể, cảm nghĩ, nghị luận và các văn bản hành chính thông dụng chưa đề cập
đến đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự. Đó là phương thức
thuyết minh và thuyết minh có kết hợp các yếu tố nghệ thuật vào trong chương trình. Là
phương thức mới giúp các em biết kết hợp linh hoạt và sáng tạo các phương thức khác
cũng như vận dụng các yếu tố nghệ thuật. Đây chính là lý do thôi thúc tôi chọn đề tài:
“Hướng dẫn học sinh phân biệt văn thuyết minh với văn thuyết minh có yếu tố nghệ
thuật nhằm nâng cao chất lượng bộ môn Ngữ văn 9.”
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hướng dẫn học sinh biết phân biệt văn thuyết
minh với văn thuyết minh có yếu tố nghệ thuật.
Thực hiện đề tài ở lớp 9A
1
, 9A
2
Trường Trung học cơ sở Bàu Năng năm học 2010-
2011.
Khi thực hiện đề tài này, tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Phương pháp thống kê.
Phương pháp đọc tài liệu.
Phương pháp so sánh.
Phương pháp khái quát, tổng hợp.
3. Đề tài đưa ra giải pháp mới:
Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học văn trong nhà trường đồng thời giúp học sinh
lĩnh hội kiến thức đầy đủ nhất, tối ưu nhất trong các tiết học mới và khó để vận dụng vào
thực hành đạt hiệu quả cao nhất.
thức thuyết minh và thuyết minh có kết hợp các yếu tố nghệ thuật vào trong chương trình.
Là phương thức mới, đòi hỏi học sinh phải vận dụng tri thức khách quan để thể
hiện, đặc biệt là phải biết kết hợp linh hoạt và có sáng tạo các phương thức khác cũng như
vận dụng các yếu tố nghệ thuật để thể hiện. Nên không tránh khỏi những khó khăn, thậm
chí bị bế tắt trong quá trình tiếp thu kiến thức cũng như vận dụng thực hành. Đây chính là
lý do thôi thúc tôi chọn đề tài: “Hướng dẫn học sinh phân biệt văn thuyết minh với văn
thuyết minh có yếu tố nghệ thuật nhằm nâng cao chất lượng bộ môn Ngữ văn 9.”
2. Mục đích nghiên cứu:
Từ việc đổi mới phương pháp giảng dạy ở tất cả các bậc học và xác định phải
khuyến khích học sinh tự học, tự nghiên cứu. Áp dụng những phương pháp dạy học hiện
đại để bồi dưỡng học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề.Giáo viên
phải thường xuyên nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp dạy học có hiệu quả nhằm
giúp học sinh biết so sánh, phân biệt được sự khác nhau của văn thuyết minh và thuyết
minh có kết hợp yếu tố nghệ thuật được rõ ràng và sâu sắc hơn. Để phần nào tháo gỡ, giải
quyết được những khó khăn mà thầy - trò gặp phải trong tình hình học tập và chất lượng
bộ môn hiện nay, với mục đích cuối cùng là nâng cao chất lượng dạy – học.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Hướng dẫn học sinh biết phân biệt văn
thuyết minh với văn thuyết minh có yếu tố nghệ thuật.
Đặc biệt tập trung cho học sinh biết sắp xếp định hướng khi thực hành có hiệu quả
từ khâu tìm hiểu đề, lập dàn ý, viết đoạn, liên kết đoạn, viết văn bản thuyết minh hoàn
chỉnh theo phương thức mới, khó và hay.
2
Thực hiện đề tài ở lớp 9A
1
, 9A
2
Trường Trung học cơ sở Bàu Năng năm học
2010- 2011.
4. Phương pháp nghiên cứu:
1.1. Các văn bản chỉ đạo:
Nghị quyết Trung ương IV khoá VII năm 1993 đã đề ra nhiệm vụ: “Đổi mới phương
pháp dạy học ở tất cả các cấp bậc học và xác định phải khuyến khích tự học, tự nghiên
cứu”.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định phát huy tinh thần độc lập, sáng tạo
của học sinh, sinh viên để nâng cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề. . .
đổi mới dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi
trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khoá, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt.
Điều 24 Luật Giáo dục (do Quốc hội khoá X thông qua) đã chỉ rõ phương pháp giáo
dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù
hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học; rèn luyện kĩ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú
học tập cho học sinh.
1.2.Vai trò và đặc điểm của văn thuyết minh và thuyết minh có kết hợp các yếu tố
nghệ thuật:
Văn thuyết minh là loại văn bản có khả năng cung cấp tri thức xác thực, hữu ích cho
con người.
Văn bản thuyết minh hay là một văn bản trình bày rõ ràng hấp dẫn đặc điểm cơ bản
của đối tượng thuyết minh.Sử dụng ngôn ngữ chính xác, cô đọng, chặt chẽ,sinh động,
không hư cấu, bịa đặt, tưởng tượng.
Thuyết minh có kết hợp các yếu tố nghệ thuật là một phương thức biểu đạt mới, khó
và có tính tỉ mĩ. Mới là lần đầu tiên áp dụng vào chương trình cấp Trung học cơ sở và khó
là ở chỗ đòi hỏi học sinh phải biết kết hợp các yếu tố nghệ thuật vào,vận dụng các tri thức
khách quan để thực hiện. Điều này đòi hỏi các em phải có sự quan sát, tổng hợp sự việc
hiện tượng dưới gốc nhìn của những tri thức vốn có từ đời sống cũng như học tập qua
sách vở.
Phương thức thuyết minh trong chương trình học gồm tất cả 14 tiết (8 tiết ở khối
lớp 8 và 6 tiết ở khối lớp 9 – có 2 tiết bài viết) có sự liên kết và tích hợp rất chặt chẽ (từ
thuyết minh đến thuyết minh có kết hợp) đòi hỏi học sinh phải có khả năng cũng như kĩ
năng phân tích, đúc kết kiến thức một cách khoa học.
nhận của học sinh, từ đó giúp các em thoải mái, nhẹ nhàng và có hứng thú khi học đến
dạng văn này, các em hoạt động nhiều hơn, tích cực hơn mà không có tâm trạng bị áp đặt
hay nặng nề.
Nếu như giáo viên không có sự chuẩn bị để hướng dẫn học sinh biết phân biệt, so
sánh những điểm khác nhau cơ bản giữa văn thuyết minh và văn thuyết minh có kết hợp
các yếu tố nghệ thuật thì liệu các em có được sự hứng thú trong giờ học, kết quả cao trong
thực hành không.
2.2. Sự cần thiết của đề tài:
Chính những việc đã nêu trên, bản thân của mỗi giáo viên chúng ta phải lựa chọn cách
thức truyền đạt, hướng dẫn sao cho phù hợp, nhẹ nhàng mà dễ hiểu, dễ phân biệt, nắm bắt
và so sánh được giữa văn thuyết minh khác với thuyết minh có kết hợp yếu tố nghệ thuật.
Ngoài ra, khi soạn giáo án để thực hiện tiết dạy, giáo viên cần phải bám theo chuẩn kiến
thức và theo quan điểm mới: “không phải là bản đề cương để ghi nhận những điều thầy
cảm mà là bản thiết kế những việc làm cho học sinh nhằm phát huy được tính năng động,
tư duy sáng tạo của các em trong học tập, trong làm bài."
3. Nội dung vấn đề:
3.1.Vấn đề đặt ra là làm thế nào để hướng dẫn học sinh biết phân biệt giữa văn
thuyết minh với văn thuyết minh có kết hợp yếu tố nghệ thuật thì trước tiên giáo viên
phải cung cấp những tri thức cơ bản về văn thuyết minh và thuyết minh có kết hợp các
yếu tố nghệ thuật cho các em
3.2.Những tri thức cơ bản:
3.2.1.Văn thuyết minh:
Đặc điểm và yêu cầu của văn thuyết minh:
Trong cuộc sống, con người luôn có nhu cầu tìm hiểu các sự vật, hiện tượng tự
nhiên và xã hội. Một sự vật, một phong cảnh, một con người, một buổi biểu diễn nghệ
thuật, một bài thơ, một cuốn sách, . . . đều khơi gợi ở người tiếp xúc những mong muốn
5
tìm hiểu bản chất, đặc điểm, nguyên nhân, sự hình thành, . . . Khi chúng ta đáp ứng những
nhu cầu đó, tức là phải tiến hành trình bày, giới thiệu, giải thích. Chúng ta đã sử dụng văn
bản thuyết minh.
in-tơ-nét,… Cũng có khi phải kết hợp sử dụng các nguồn tri thức với nhau.
Qui trình làm bài văn thuyết minh:
Bài văn thuyết minh cũng được làm theo qui trình chung của một bài tập làm văn,
gồm 4 bước: tìm hiểu đề, tìm ý; lập dàn ý; viết bài và sửa chữa. Muốn viết được bài văn
thuyết minh thành công cần phải tìm hiểu đề và tìm được các ý cho bài viết. Sau khi tìm
được ý, phải chọn phương pháp thuyết minh cho phù hợp. Sau đó là lập dàn ý và viết bài.
Trong khi viết, có thể bổ sung, thêm bớt ý cho dàn bài hoàn chỉnh. Bước cuối cùng là sửa
lại bài viết, nhất là sửa các lỗi chính tả, lỗi ngữ pháp.
Các phương pháp thuyết minh:
6
Đối với bài văn thuyết minh về sự vật, hiện tượng có thể sử dụng những phương
pháp thuyết minh sau đây:
- Phương pháp nêu định nghĩa, giải thích:
+ Đây là phương pháp thuyết minh khá phổ biến. Người thuyết minh sẽ xác định đối
tượng thuộc loại sự vật, hiện tượng gì, đặc điểm của nó là thế nào. Chẳng hạn, nếu văn
bản trữ tình chú ý đến vẻ đẹp của Huế: Đường vô xứ Huế quanh quanh - Non xanh
nước biếc như tranh hoạ đồ - Ai vô xứ Huế thì vô (Ca dao) thì văn bản thuyết minh
chú ý đến việc nêu vị trí vai trò của Huế: Huế là cố đô của nước ta, là trung tâm một
văn hoá, nghệ thuật của miền Trung và cả nước.
+ Khi nêu định nghĩa hay giải thích, người viết cần chú ý đến giới hạn chính xác.
Không định nghĩa quá hẹp hay quá rộng sự vật khiến cho người khác khó hình dung và
khó hiểu.
- Phương pháp liệt kê:
Đây là một cách để người viết trình bày những tri thức liên quan đến sự vật, hiện
tượng được thuyết minh. Chẳng hạn, thuyết minh về cây dừa, tác giả Hoàng Văn
Huyền viết: Cây dừa cống hiến tất cả của cải của mình cho con người: thân cây làm
máng, lá làm tranh, cọng lá chẻ nhỏ làm vách, gốc dừa già làm chõ đồ xôi, nước dừa để
uống, để kho cá, kho thịt, nấu canh, làm nước mắm, . . . (Ngữ văn 8, tập 1). Như vậy, tác
giả đã liệt kê về sự cống hiến của cây dừa. Trong khi nói về nước dừa, tác giả lại liệt kê
những ích lợi của nó: để uống, để kho cá, kho thịt, nấu canh, làm nước mắm.
Viết về thành phố Sài Gòn ba trăm năm tuổi, muốn nhấn mạnh Sài Gòn vẫn trẻ,
Minh Hương so sánh: Sài Gòn vẫn trẻ […]. Ba trăm năm so với năm ngàn năm tuổi của
Đất nước thì cái đô thị này còn xuân chán. Sài gòn cứ trẻ hoài như một cây tơ đương độ
nõn nà, trên đà thay da, đổi thịt (Ngữ văn 7, tập 1, trang 168). So sánh ba trăm năm với
ba ngàn năm; Sài Gòn với cây tơ đương độ nõn nà, người đọc thấy ngay là Sài Gòn
vẫn trẻ.
- Phương pháp phân loại và phân tích:
Thuyết minh là văn bản dùng cho nhiều loại đối tượng khác nhau. Có món ăn, có đồ
dùng, có danh lam thắng cảnh, có khi là một loài động vật, thực vật. Chính điều này đã
đòi hỏi phải phân loại để chọn các phương pháp và cách trình bày phù hợp. Thêm nữa,
ngay trong bản thân đối tượng thuyết minh cũng có những loại phức tạp, nhiều bộ phận,
nhiều mặt. Vì thế phải có sự phân loại, phân tách ra các bộ phận nhỏ hơn để thuyết minh.
Ví dụ về một món ăn, người ta thường thuyết minh các phần: Nguyên liệu và dụng cụ
chế biến; Cách chế biến; Yêu cầu thành phẩm; Cách ăn món đó thế nào là ngon
nhất.
Như vậy có nhiều phương pháp thuyết minh. Vấn đề đặt ra cho người viết là biết xác
định đối tượng, sử dụng phương pháp kết hợp như thế nào để làm rõ đối tượng, làm cho
người đọc, người nghe hiểu được đối tượng mà người viết trình bày.
Một số kiểu bài thuyết minh:
- Thuyết minh về một thứ đồ dùng
- Thuyết minh về một loài vật
- Thuyết minh về một phương pháp
- Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh
- Thuyết minh về một thể loại văn học
- Thuyết minh về một phong tục, một đồ chơi dân gian. . . .
3.2.2 Các yếu tố nghệ thuật (tự thuật, đối thoại, ẩn dụ, nhân hoá) và miêu tả trong
văn thuyết minh:
Để văn bản thuyết minh sinh động, hấp dẫn, người thuyết minh thường sử dụng một
số yếu tố nghệ thuật như ẩn dụ, nhân hoá và yếu tố miêu tả. Cách sử dụng rất linh hoạt và
đa dạng, tuỳ thuộc vào đối tượng thuyết minh và dụng ý của người thuyết minh.
Sắp xếp phân nhóm cho học sinh thảo luận,
Hỗ trợ học sinh trong quá trình thảo luận, thuyết trình,
Nhận xét, bổ sung và gút chốt kiến thức trọng tâm. . .
VỀ HỌC SINH:
Ở nhà: Chuẩn bị phần bài tập đã được định hướng và chỉ định.
Ở lớp: Tham gia thảo luận, góp ý xây dựng và thuyết trình.
Lưu ý đối với các em học sinh lớp 9 cần xem lại kiến thức ở lớp 8 về văn thuyết
minh.
Kiểu bài văn thuyết minh ở lớp 9 có yêu cầu cao hơn ở lớp 8, đòi hỏi có sự kết hợp
giữa văn thuyết minh với các yếu tố khác, nhằm làm cho bài văn thuyết minh hay và sinh
động hơn có chất lượng cao hơn và đạt hiệu quả tốt hơn.
Giáo viên cần phải
Hệ thống lại kiến thức về văn thuyết minh sao cho khoa học.
So sánh, đối chiếu và thấy được tác dụng của tính kết hợp trong văn thuyết minh
nói riêng.
Dựa vào mục “Những điểm cần lưu ý” cũng như khả năng tiếp thu của học sinh để
định hướng thật sát sao cho các em tiếp thu kiến thức nhẹ nhàng mà sâu sắc, tránh áp đặt,
máy móc, rập khuôn.
9
Phần lí thuyết:
Xác định và xoáy trọng tâm bài học để học sinh nắm vững kiến thức, nhưng quan
trọng là định hướng cho các em nắm phương pháp để vận dụng thực hành có hiệu quả.
Muốn thực hành tốt phải nắm kiến thức vững, đối với những tiết khó chúng ta phải
thật sự linh động sáng tạo sắp xếp hệ thống từ lí thuyết đến thực hành sao cho phù hợp với
tình hình về cơ sở vật chất, về khả năng tiếp thu của học sinh. . . và trong từng bài giảng
làm sao gút chốt được những trọng tâm cơ bản nhất về:
Vị trí của văn bản thuyết minh:
Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng, có phạm vi sử dụng rất phổ
dẫn, thuyết phục người đọc mà vẫn đảm bảo tri thức khách quan có tính riêng của văn
thuyết minh.
10
Tóm lại Văn bản thuyết minh là một kiểu văn bản riêng, mà các loại văn bản khác
không thay thế được.
Tính chất của văn bản thuyết minh:
Văn bản thuyết minh tốt là văn bản trình bày rõ ràng, hấp dẫn đặc điểm cơ bản của
đối tượng đang được nói tới. Sự chính xác là tiêu chí hàng đầu của văn thuyết minh.
Ngôn ngữ diễn đạt trong văn thuyết minh phải chính xác, chặt chẽ, cô đúc và sinh
động. Cách viết trau chuốt, dài dòng sẽ gây cho người đọc nghi ngờ, khó chịu nên cần
tránh.
Yêu cầu về phương pháp thuyết minh:
Cần hiểu chính xác điều mình cần nói, tránh nói vu vơ, không chính xác.Người nói và
người viết cần nghiên cứu, tìm hiểu sự vật, hiện tượng cần thuyết minh, nắm chắc bản
chất đặc trưng, mối tương quan của nó để có thể trình bày một cách sáng tỏ, có sức thuyết
phục, tránh xa đề.
Người nói và người viết có thể phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh: nêu định
nghĩa, mô tả sự vật, hiện tượng, nêu ví dụ, liệt kê, so sánh, đối chiếu, phân loại, dùng số
liệu. . . .
Hệ thống ví dụ: khi thiết kế giáo án chú ý cho học sinh thực hành thuyết trình và chỉ
ra các em đã vận dụng phương pháp nào và tác dụng. Sau đó giáo viên cần khẳng định: sự
vận dụng các phương pháp thuyết minh đúng và linh hoạt sẽ làm cho bài văn thuyết minh
có sức thuyết minh và ngược lại.
Giới thiệu một số đề văn thuyết minh và thuyết minh có kết hợp:
Sách giáo khoa cũng như sách tham khảo có hướng dẫn rất nhiều đề về văn thuyết
minh (thuyết minh về vật nuôi, cây trồng, phong cảnh, thuyết minh thể loại văn học,
thuyết minh tác phẩm. . .) ta nhận thấy đề thuyết minh rất phong phú.
Các kì thi tuyển vào lớp 10, chọn học sinh giỏi cũng đề cập đến văn thuyết minh
dưới dạng đề mở:
VD: Đề thi chọn học sinh giỏi vòng huyện DMC - Tây Ninh năm học 2007-2008
Điểm khác nhau:
Văn thuyết minh:
Không kết hợp các yếu tố nghệ thuật
Làm nổi bật đối tượng bằng tri thức khách quan nên không tránh khỏi sự khô khan. .
.ít thuyết phục, ít hấp dẫn.
Văn thuyết minh có kết hợp yếu tố nghệ thuật:
Có vận dụng, kết hợp các yếu tố nghệ thuật.
Bài văn thuyết minh có chất lượng, đạt hiệu quả cao hơn.
Bài văn trở nên sinh động, hấp dẫn, gây ấn tượng.
Vừa gây hứng thú nhưng không làm lu mờ đối tượng thuyết minh.
Bằng ví dụ cụ thể giáo viên hướng dẫn học sinh phân biệt giữa các đoạn văn thuyết
minh đơn thuần với văn thuyết minh có yếu tố nghệ thuật như:
Khi thuyết minh về nơi ở và làm việc của Bác thì Lê Anh Trà chỉ cần viết: Nơi ở
của Bác là một ngôi nhà sàn nhỏ với diện tích 700m
2
, mái ngói, vách gỗ, vỏn vẹn vài
phòng để tiếp khách, làm việc và ngủ. . . đồ đạc hết sức ít ỏi, đơn sơ, mộc mạc như: một
chiếc quạt, một bộ bàn, ấm chén, lọ hoa, máy đánh chữ, một chiếc đài phát thanh Liên Xô
cũ,. . .
Chỉ mang tính cách là giới thiệu, miêu tả, liệt kê đơn thuần.
Nhưng khi đến với đoạn văn: “Đến thăm nhà Bác với địa điểm không gian thoáng
mát, yên tĩnh, thơm ngát hương hoa, . . . Đến thăm phòng ngủ của Bác càng thương Bác
hơn: chiếc giường nhỏ bằng gỗ thường, mộc mạc không mùi sơn, trên trải chiếu cói, một
chiếc gối vải đã sờn cũ. Trên gối một chiếc quạt nan nằm lặng lẽ. Chiếc quạt nan này đã
từng thức cùng vị Chủ tịch trong bao đêm hè oi ả, lòng nặng những lo toan việc
nước. Góc phòng, bộ quần áo ka ki bạc màu, giản dị được treo gọn gàng trên móc áo.
Trên ngực áo không có một tấm huân chương, nhưng bên trong làn áo vải là một
trái tim nóng bỏng, sáng ngời. . .
12
Đây là thuyết minh có kết hợp yếu tố nghệ thuật nhân hoá, ẩn dụ, vừa miêu tả, liệt
nửa mi-li-mét, bề dài khoảng hai, ba xăng-ti-mét. . .
13
Bảng so sánh
TT So sánh Giống Khác Tác dụng và hiệu quả
1 Văn thuyết
minh
- Vận dụng tri
thức khách
quan.
- Không kết hợp
các yếu tố nghệ
thuật.
- Làm nổi bật đối tượng bằng tri
thức khách quan nên không
tránh khỏi sự khô khan… ít
thuyết phục, ít hấp dẫn.
2 Văn thuyết
minh có yếu
tố nghệ
thuật.
- Vận dụng tri
thức khách
quan.
- Có vận dụng
các yếu tố nghệ
thuật.
- Bài văn thuyết minh có chất
lượng cao hơn, đạt hiệu quả cao
hơn.
- Tỉ lệ học sinh yếu giảm 15 HS. Tỉ lệ: 20.5%
Đối với giáo viên:
Sử dụng và phối hợp các phương pháp, đúng theo tinh thần đổi mới của chương
trình. Đó là dạy học văn theo hướng tích cực và tích hợp.
Giúp học sinh chủ động phân biệt, so sánh được giữa văn thuyết minh và thuyết
minh có kết hợp các yếu tố nghệ thuật một cách sáng tạo, không gò bó, áp đặt.
Quan trọng và đáng mừng hơn là giáo viên đã thực hiện được đúng theo tinh thần,
mục tiêu của ngành giáo dục hiện nay đề ra là đổi mới phương pháp giảng dạy…
Đối với học sinh:
Các em đã rèn được kĩ năng, thao tác khi phân biệt, so sánh giữa văn thuyết minh
và thuyết minh có kết hợp yếu tố nghệ thuật.
Tích cực phát biểu xây dựng, thực hành, luyện nói, giao tiếp, làm bài viết.
Học tập thoải mái, không còn lo sợ khi học văn, chủ động tiếp thu kiến thức, kết
quả bộ môn ngày càng được nâng cao…
14
III. KẾT LUẬN
1. Bài học kinh nghiệm:
Tiến trình thực hiện đề tài đã được hình thành từ khi tiếp cận với chương trình thay
sách, nhất là nhiều năm trực tiếp đứng lớp giảng dạy. Tôi đã có dịp trải nghiệm và cọ sát
với thực tế, cộng với việc tổng hợp các tài liệu chuyên môn có liên quan và tự rút ra kết
luận: Nhiệm vụ là phải làm sao biến kiến thức mới, khó của văn thuyết minh thành những
tiết học bổ ích cho các em học sinh bởi tính thời đại và đa dụng của nó. Đặc biệt là phù
hợp với nhu cầu đào tạo con người mới hiện nay.
Nhưng với khả năng có hạn của bản thân tôi đã chủ động tổng hợp cũng như đúc kết
kinh nghiệm qua các tiết dự giờ từ đồng nghiệp, từ các bài viết của học sinh ở các khâu
luyện tập thực hành và làm bài viết để hình thành đề tài.
Khi thực hiện được như thế, luôn luôn tự hào với bản thân là một giáo viên dạy văn
để giúp các em càng yêu thích môn Ngữ văn hơn. Có như thế thì mục đích cuối cùng sẽ
đạt được hiệu quả cao mang lại những gì mà bản thân người dạy văn, của ngành mong
muốn.