Ưu thế riêng của hình thức nhân vật kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu - Pdf 29

1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1.So với hình thức người kể chuyện thì hình thức nhân vật kể chuyện
xuất hiện muộn hơn, nhưng đã nhanh chóng chiếm được cảm tình của người
sáng tạo và bạn đọc. Với những ưu thế riêng, hình thức nhân vật kể chuyện
xuất hiện ngày càng nhiều trong các tập truyện ngắn đương đại và trên các
báo văn nghệ. Trước thực trạng này, việc nghiên cứu những khả năng nghệ
thuật của hình thức kể chuyện mới là cần thiết, nếu có kết quả tin cậy, chắc
hẳn nó có giá trị khoa học và thực tiễn lớn lao.
Trước hết là ý kiến của nhà nghiên cứu Liên Xô Pospêlov trong Dẫn
luận nghiên cứu văn học (1960) đã đưa ra ý kiến khá sâu sắc về vấn đề này.
Ông khẳng định vị trí quan trọng không thể thiếu của trần thuật trong tác
phẩm tự sự : “Trần thuật tự sự bao giờ cũng được tiến hành từ phía một người
nào đó. Trong sử thi, tiểu thuyết, cổ tích, truyện ngắn trực tiếp hay gián tiếp
đều có người trần thuật’’ [55, tr.88]. Theo Pospêlôv thì “Người trần thuật” là
loại người môi giới giữa các hiện tượng được miêu tả và người nghe (người
đọc), là người chứng kiến và cắt nghĩa các sự việc xảy ra’’ [55, tr.88]. Ông
cho rằng, có hai kiểu người trần thuật phổ biến đó là: “Trần thuật từ ngôi thứ
ba “không nhân vật hoá” mà đằng sau là tác giả. Nhưng người trần thuật cũng
hoàn toàn có thể xuất hiện trong tác phẩm dưới hình thức một cái “tôi” nào
đó” [55, tr.89]. Pospêlôv cũng chỉ ra mối quan hệ tương đối linh hoạt và phức
tạp giữa người kể chuyện với nhân vật và với tác giả. Trong nhiều trường hợp
đặc biệt, trong các tác phẩm tự truyện, nhân vật người kể chuyện có các sự
kiện đời sống và trạng thái tinh thần gần gũi với bản thân tác giả nhưng
thường thì số phận, lập trường cuộc sống và cảm thụ của nhân vật người kể
chuyện khác hẳn với tác giả.
BÔ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2


HÀ NỘI, 2010
2
Theo Tz.Todorov trong công trình Thi pháp học cấu trúc (1971) cũng
đã đưa ra những ý kiến khá sâu sắc về người kể chuyện . Theo quan niệm của
ông: “Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng
tượng Không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện. Người kể chuyện
không nói như các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện. Như vậy, kết hợp
đồng thời trong mình cả nhân vật và người kể, nhân vật mà nhân danh nó
cuấn sách được kể có một vị thế hoàn toàn đặc biệt” [69, tr.75]. “Xuất phát từ
tương quan về dung lượng hiểu biết của người kể chuyện và nhân vật,
Todorov đã chia thành ba hình thức người kể chuyện: “Thứ người kể chuyện
lớn hơn nhân vật; người kể chuyện bằng nhân vật; người kể chuyện bé hơn
nhân vật” [69, tr.126].
Theo P.Lubbock nhà nghiên cứu người Anh trong tác phẩm Nghệ thuật
văn xuôi (1957) đã đưa ra bốn hình thức trần thuật cơ bản: Thứ nhất là “Toát
yếu toàn cảnh”. Đặc trưng của hình thức trần thuật này là sự hiện diện cảm
thấy được của người trần thuật biết tất cả, có toàn quyền, toàn năng trước các
nhân vật của mình. Hình thức thứ hai là “Người trần thuật kịch hoá”. Trong
hình thức này, người trần thuật đứng ở ngôi thứ nhất, kể lại câu chuyện từ góc
độ sự cảm thụ riêng tư. Hình thức thứ ba là “Ý thức kịch hoá”. Hình thức trần
thuật này cho phép miêu tả trực tiếp đời sống tâm lý, những trải nghiệm bên

trong phong cách nghệ thuật của cá nhân này hay cá nhân khác. Theo ông “
Nhân vật kể chuyện được sáng tạo không ngừng với tư cách là con người xã
hội cụ thể và cá biệt. Cho nên, hình thức nhân vật kể chuyện khá đa dạng và
không lặp lại. Chúng có thể tạo ra những cái nhìn nghệ thuật khác nhau ở
cùng một tác giả” [39, tr.43]. “Nhân vật kể chuyện thường quan hệ với các
4
nhân vật khác trước hết với tư cách con người xã hội cụ thể và cá biệt. Do
vậy, sự kể của hình thức này có vẻ thực hơn, thấy được nhiều nỗi niềm hơn
của các nhân vật khác, đồng thời có thể bộc lộ thái độ của mình một cách cụ
thể, trực tiếp và phong phú đa dạng hơn” [39, tr.43- 44]. Mặt cụ thể cá biệt
của con người xã hội ở nhân vật kể chuyện còn đóng vai trò làm nền móng
toàn diện cho người nghệ sĩ ở trong đó. Sự độc đáo của người nghệ sĩ ở đây
tìm thấy trong các biểu hiện đặc trưng thuộc phong cách kể chuyện của nhân
vật và bắt nguồn sâu xa từ cái nhìn nghệ thuật của chính nó. “Mỗi nhân vật kể
chuyện cụ thể- cá biệt, trong trường hợp tốt nhất, có thể tạo nên một cái nhìn
nghệ thuật độc đáo. Đến lượt mình, cái nhìn nghệ thuật lại được cụ thể hoá và
cá biệt hoá thành một chuỗi nối tiếp những điểm nhìn nghệ thuật. Trong chuỗi
bao giờ cũng có điểm mở đầu, điểm tiếp diễn và điểm kết thúc” [39, tr.45].
Chính vì thế, hình thức nhân vật kể chuyện tạo nên được cái nhìn nghệ thuật
uyển chuyển khá nhiều mặt, nhiều chiều đối với đời sống. Chúng đã đem lại
sự sâu sắc, sinh động, xúc động và rất tiêu biểu cho sự khai thác nghệ thuật
loại này là của các nhà văn hiện đại Việt Nam và thế giới. Như vậy, Nắng Mai
dã khu biệt rất rõ hai hình thức “Người kể chuyện” và “Nhân vật kể chuyện”
đồng thời chỉ ra ưu thế riêng của hình thức “Nhân vật kể chuyện”.
Có thể nói rằng, phần lớn các ý kiến đều thống nhất ở chỗ khẳng định
người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện đều là người đứng ra kể lại câu
chuyện, người môi giới giữa tác phẩm với bạn đọc, đồng thời là người thay
mặt tác giả phát biểu những tư tưởng, quan điểm của mình về cuộc sống.
Người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện chính là một trong những yếu tố
quan trọng để phân biệt tác phẩm tự sự với tác phẩm thơ, trữ tình và kịch.

ra ưu thế riêng về những khả năng nghệ thuật của hình thức nhân vật kể
chuyện.
1.2.Với việc nghiên cứu hình thức người kể chuyện, nhân vật kể
chuyện ta có được một công cụ để đi vào phân tích, khám phá tác phẩm của
những nhà văn cụ thể, lý giải được một trong những yếu tố làm nên nét đặc
sắc trong phong cách nghệ thuật của họ. Tác giả mà chúng tôi chọn để nghiên
cứu ở đây là Nguyễn Minh Châu, bởi trong những gương mặt tiêu biểu của
văn học Việt Nam thế kỷ xx ông nổi lên như một hiện tượng đáng chú ý.
Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn, “người mở đường tinh anh”
cho công cuộc đổi mới văn học Việt Nam sau 1975. Ba mươi năm cầm bút,
ông đã chiếm một vị trí không thể thay thế trong nền văn học Việt Nam hiện
đại. Vì vậy việc nghiên cứu những khả năng nghệ thuật của hình thức nhân
vật kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu chắc chắn có thêm
những căn cứ vừa khẳng định vừa bổ sung cho khái niệm “Nhân vật kể
chuyện”.
Theo dõi hành trình truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu ta nhận thấy,
truyện ngắn của ông lôi cuấn ta không phải bởi cốt truyện tình tiết li kỳ mà
bởi cách kể chuyện hấp dẫn, có duyên. Chính vì thế tìm hiểu người kể chuyện
hay nhân vật kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sẽ giúp ta lý
giải thêm được phần nào tài năng nghệ thuật, lý giải được một trong những
yếu tố quan trọng hình thành nên phong cách nghệ thuật đặc sắc của Nguyễn
Minh Châu, đánh giá được khả năng tự sự mà ông mở ra cho văn xuôi Việt
Nam hiện đại.
1.3.Việc nghiên cứu hình thức “Nhân vật kể chuyện”, nắm vững những
khả năng nghệ thuật của nó, sẽ rất có ích cho việc vận dụng phân tích các
truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu được chọn trong sách giáo khoa ngữ văn
7
trung học phổ thông(Mảnh trăng cuối rừng, Chiếc thuyền ngoài xa, Bức
tranh )
Như vậy, đề tài “ Ưu thế riêng của hình thức “nhân vật kể chuyện”

-Phương pháp tiếp cận đối tượng theo quan điểm hệ thống và so sánh hệ
thống
Các phương pháp nghiên cứu này không tách rời nhau mà kết hợp hài
hoà với nhau, bổ sung cho nhau. Trong đó chúng tôi đặc biệt quan tâm đến
phương pháp phân tích, so sánh,đối chiếu để thấy được ưu thế riêng của hình
thức nhân vật kể chuyện. Vì vậy, đây chính là phương pháp quán xuyến toàn
bộ quá trình tiến hành luận văn. 6. Dự kiến đóng góp mới
- Luận văn sẽ xác định nội hàm của khái niệm “Người kể chuyện” và
“Nhân vật kể chuyện” một cách tương đối hệ thống để có thể sử dụng khái
niện này như một yếu tố cơ bản trong việc xem xét cấu trúc của tác phẩm tự
sự.
- Trong luận văn luận văn của chúng tôi, vấn đề nhân vật kể chuyện
trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu mới được khảo sát một cách hệ
thống và thực sự trở thành đối tượng nghiên cứu độc lập so với hình thức
người kể chuyện. 9

đa phương không gian, thời gian, tâm lý, tạo thành góc nhìn. Người kể
chuyện là ai, kể chuyện người khác hay kể chuyện chính bản thân mình,
khoảng cách về không gian từ nơi sự việc xảy ra đến chỗ đứng của người kể
chuyện cũng như độ lệch thời gian giữa lúc sự việc xảy ra và khi sự việc được
kể lại vẫn thường được các nhà tiểu thuyết quan tâm từ lâu” [72, tr.205].
So sánh các quan niệm trên về người trần thuật, người kể chuyện ta
thấy họ vừa khác nhau, lại vừa thống nhất. Nếu Tz.Todorov chỉ thấy “Người
kể chuyện” là một nhân tố chủ động trong việc kiến tạo thế giới hư cấu,
W.Kayser lại cho “Người trần thuật” là một khái niệm mang tính chất cực kỳ
hình thức thì Pospêlov đã khái quát thấy và thừa nhận ở phía sau “Người trần
thuật” chính là tác giả. Cùng thừa nhận tầm quan trọng của tác giả, trong khi
Pospêlov nhấn mạnh vai trò “Người môi giới”, người chứng kiến và cắt
nghĩa các sự việc xảy ra thì Phùng Văn Tửu lại xoáy vào chỗ đứng và điểm
nhìn của người kể chuyện.
Từ việc kế thừa , tổng hợp những định nghĩa trên có thể đi tới xác lập
khái niệm “Người kể chuyện” và “Nhân vật kể chuyện” thông qua sự phân
11
biệt nó với người kể chuyện, nhân vật kể chuyện trong thực tế đời sống với
các nhân vật khác và với tác giả.
1.1.1 Nhân vật kể chuyện, người kể chuyện là những hình thức do nhà văn
sáng tạo ra để kể chuyện
Thứ nhất, người kể chuyện và nhân vật kể chuyện là sản phẩm của sự
sáng tạo nghệ thuật, do vậy nó khác với người kể chuyện, nhân vật kể chuyện
trong thực tế đời sống. Nếu người kể chuyện trong thực tế là những con người
cụ thể, hữu hình, có điệu bộ, cử chỉ, giọng nói xác định thì “người kể
chuyện”, “nhân vật kể chuyện” trong văn bản nghệ thuật tự sự là tất cả các
yếu tố xác định đó, nhưng đã được nhà văn chuyển tải vào văn bản thông qua
hệ thống thi pháp của nghệ thuật. Chính vì vậy, khác với người nghe-đối
tượng của người kể chuyện thực tế, người đọc-đối tượng của người kể chuyện
trong văn bản nghệ thuật sẽ có điều kiện phát huy tối đa khả năng liên tưởng,

của người kể chuyện, nhân vật kể chuyện về cuộc sống. Khi chúng ta tiếp xúc
với tác phẩm văn học thì bên cạnh những sự kiện được thông báo chúng ta
cũng tìm thấy sự đánh giá, thái độ của người kể chuyện hay nhân vật kể
chuyện. Bất cứ truyện kể nào cũng khắc in cái nhìn, cách cảm thụ, phương
thức tư duy, năng lực trí tuệ và tư cách, tình cảm của người kể chuyện và
nhân vật kể chuyện. Như vậy, người kể chuyện và nhân vật kể chuyện đều có
chức năng tổ chức kết cấu tác phẩm, tổ chức ngôn ngữ của các nhân vật khác:
“Người kể chuyện bắt tất cả các đặc điểm ngôn ngữ của các nhân vật mà họ
nhắc tới phải lệ thuộc vào mình ngay cả khi người kể chuyện cho nhân vật
một sự độc lập đầy đủ về mặt ngôn ngữ [34, tr.32]. Người kể chuyện, nhân
vật kể chuyện phải tìm được một cách tiếp cận nhân vật, kể về nhân vật sao
cho hấp dẫn nhất. Trong Tập truyện Pêtecbua của Gôgôn, người kể chuyện
13
khi khắc hoạ nhân vật trung uý Piaragop đã đặt nhân vật vào những buổi dạ
hội, những bữa ăn chiều tại nhà các vị cố vấn tam tứ phẩm, những buổi khiêu
vũ nhỏ để làm nổi bật căn bệnh giai cấp của nhân vật này.
Thứ hai, việc sử dụng hình thức người kể chuyện hay nhân vật kể
chuyện trong tác phẩm tuỳ thuộc vào động cơ, thái độ của tác giả:
Khi sử dụng hình thức nhân vật kể chuyện thì chủ thể kể có thể xuất
hiện một cách tường minh trong tác phẩm với tư cách là một nhân vật. Nhân
vật kể chuyện cũng như các nhân vật khác tham gia vào những sự kiện, biến
cố của cốt truyện và đứng cùng bình diện với các nhân vật khác. Trong trường
hợp này người đọc dễ dàng nhận ra nhân vật kể chuyện thông qua những dấu
hiệu như: tên tuổi, nghề nghiệp, dáng hình, cử chỉ, điệu bộ, tính cách. Chẳng
hạn, bé Hồng(Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng); Thuần(Tướng về hưu
của Nguyễn Huy Thiệp); Quỳ(Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của
Nguyễn Minh Châu).
Khi sử dụng hình thức người kể chuyện, chủ thể kể thường hàm ẩn,
không có mặt trực tiếp trong tác phẩm, không đứng cùng bình diện với các
nhân vật khác trong tác phẩm. Chẳng hạn, người kể chuyện trong Chí phèo

tác giả Gorki. Như vậy, giữa người kể chuyện, nhân vật kể chuyện và tác giả
có những nét thống nhất với nhau nhưng ta cũng tuyệt đối không được đồng
nhất là một. Có thể lý giải điều này bằng những lý do sau:
Thứ nhất, tư tưởng của tác giả bao giờ cũng rộng hơn tư tưởng của
nhân vật kể chuyện. Tư tưởng của tác giả được thể hiện trong toàn bộ tác
phẩm, qua hệ thống các nhân vật chứ không chỉ thể hiện duy nhất ở nhân vật
kể chuyện. Chẳng hạn, trong “Nhật ký người điên” của Lỗ Tấn, nhận thức của
nhân vật kể chuyện xưng Tôi-người điên mới chỉ là nhận thức cụ thể, trực
15
tiếp, cảm tính còn nhận thức của tác giả là nhận thức mang tính khái quát,
tổng hợp. Cái mà nhân vật kể chuyện xưng Tôi gọi là “ăn thịt người” thì chỉ là
ăn thịt về xác thịt còn hàm ý của tác giả là cả ăn thịt về mặt tinh thần. Những
kẻ trực tiếp ăn thịt người là: Ông Triệu, ông Cố Cửu, lão thầy thuốc nhưng
sâu xa hơn đó là biểu tượng của chế độ phong kiến cổ hủ, lạc hậu đương thời.
Thứ hai, nhân vật kể chuyện không thể đồng nhất với tác giả bởi hình
kể chuyện này vừa có mặt chủ quan vừa có mặt khách quan. Nhân vật kể
chuyện không chỉ mang thái độ chủ quan của tác giả mà còn mang trong mình
nội dung khách quan của thế giới được phản ánh. Chẳng hạn, qua nhân vật kể
chuyện trong các tác phẩm: Điếu văn, Cái mặt không chơi được, Mua nhà,
Những chuyện không muốn viết ta vừa thấy được bản thân nhà văn Nam
Cao vừa thấy được hình ảnh những người trí thức nghèo trong xã hội cũ.
Thậm chí, trong những tác phẩm có tính chất tự truyện thì giữa tác giả
với nhân vật kể chuyện vẫn có những nét khác nhau. Mặc dù tác phẩm tự
truyện thường lấy chính cuộc đời tác giả làm chất liệu sáng tác nhưng rõ ràng
thế giới tồn tại của nhân vật kể chuyện và thế giới tồn tại của nhân vật được
kể lại là hoàn toàn khác nhau về thời gian, không gian, khác nhau về cảm xúc,
tư tưởng. Nhân vật kể chuyện chỉ có thể ý thức lại được thế giới kia chứ
không thể thâm nhập, can thiệp vào thế giới kia được, không thể làm lại được.
Những hành động, tâm trạng, cảm giác mà nhân vật kể chuyện kể lại trong tác
phẩm tự truyện có thể là của nhà văn nhưng đó là những hành động, tâm trạng

gia trực tiếp vào tác phẩm với một hình hài, vóc dáng, số phận cụ thể trong
câu chuyện được kể. Nhân vật kể chuyện do vậy không chỉ là người dẫn
chuyện mà còn là nhân vật chính hoặc phụ trong tác phẩm kể lại câu chuyện
về một người nào khác hoặc của chính bản thân mình. Đây là hình thức kể
17
chuyện được phát huy nhiều trong nghệ thuật kể chuyện hiện đại bởi những
ưu thế của nó so với nghệ thuật kể chuyện truyền thống. Nó tạo được sự chân
thực, tin tưởng nơi người đọc vì những điều “mắt thấy tai nghe”. Hình thức
nhân vật kể chuyện thường kể ở ngôi thứ nhất xưng Tôi hoặc Chúng Tôi và
đóng vai trò quan trọng trong việc bộc lộ quan điểm, tư tưởng của nhà văn,
đồng thời tạo nên tính khách quan của truyện kể.
1. 2. Chức năng của nhân vật kể chuyện, người kể chuyện trong tác phẩm
tự sự
Như trên ta đã thấy, người kể chuyện và nhân vật kể chuyện là những
hình thức được nhà văn sáng tạo ra để kể chuyện, để phục vụ cho việc gắn kết
giữa nhà văn-tác phẩm-độc giả. Do vậy, việc tác giả lựa chọn hình thức kể
chuyện nào để kể hoàn toàn không phải một sự ngẫu nhiên mà nó mang tính
quan niệm, nhằm mục đích chuyển tải tư tưởng, nội dung một cách hiệu quả
nhất. Đây là lý do chính mà các nhà văn khi cầm bút đều cân nhắc rất kĩ khi
lựa chọn hình thức người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện.Ta hiểu vì sao
tác giả của những khúc ngâm như “Chinh phụ ngâm”, “Cung oán ngâm” là
đàn ông nhưng chủ thể kể chuyện trong tác phẩm này lại là nữ. Có lẽ chỉ có
thể người kể chuyện là nữ thì mới có thể nói được một cách sâu sắc, chân
thực nhất tâm trạng của mình khi hạnh phúc bị chia ly, không trọn vẹn. Giả sử
nếu hai tác phẩm này được kể dưới hình thức người kể chuyện theo điểm nhìn
của một người kể chuyện đứng từ bên ngoài thì tâm lý nhân vật có được mô tả
chân thực, tinh tế như thế hay không? Hay đọc truyện ngắn của Trần Thuỳ
Mai, một nhà văn nữ lại hay xuất hiện ở hình thức nhân vật kể chuyện xưng
Tôi là nam. Phải chăng tác giả muốn đi vào miêu tả, khám phá bản chất phụ
nữ qua con mắt đàn ông? Hay phải chăng nhà văn nữ này muốn khám phá thế

vận của Nguyễn Khải nhà văn đã chứng tỏ sự kết nối tài hoa và khéo léo của
hình thức người kể chuyện. Tác phẩm bao gồm nhiều câu chuyện khác nhau,
có vẻ như chẳng liên quan gì đến nhau: Đó là câu chuyện đáng buồn của một
xã đã từng lừng lẫy tiếng tăm về thành tích lao động nay khủng hoảng đi vào
ngõ cụt; đó là câu chuyện về cuộc đời một nhà văn có số phận lao đao, bấp
bênh trong nền kinh tế thị trường; đó là câu chuyện về cuộc đời ông Cậy- chủ
một gia đình đã từng làm ăn giàu có, phát đạt bây giờ thua lỗ, sa sút con cái
phải tha hương khắp nơi. Rõ ràng người kể chuyện tài tình, khéo léo đã kết lối
các sự kiện, câu chuyện riêng lẻ ấy thành một mạch truyện thống nhất để làm
nổi bật chủ đề “Anh hùng bĩ vận”.
Với cách tổ chức hệ thống các sự kiện khác nhau ấy, người kể chuyện,
nhân vật kể chuyện sẽ hình thành nên các dạng cốt truyện khác nhau: cốt
truyện tuyến tính theo thời gian, cốt truyện tâm lí, cốt truyện “Chuyện lồng
trong chuyện” Sự khác nhau này còn hình thành nhiều dạng, nhiều kiểu kết
cấu truyện khác nhau: có truyện chỉ có một nhân vật kể chuyện và cũng chỉ kể
một câu chuyện ( Đồng hào có ma- Nguyễn Công Hoan); có truyện chỉ có
một người kể chuyện nhưng kể nhiều câu chuyện khác nhau( Đất kinh kì-
Nguyễn Khải); có truyện nhiều người kể chuyện cùng kể về một câu chuyện (
Khách ở quê ra- Nguyễn Minh Châu) ; có truyện trong đó nhiều người kể
chuyện và kể nhiều câu chuyện khác nhau ( Người đàn bà trên tuyến tàu tốc
hành- Nguyễn Minh Châu).
Thứ ba, người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện còn là người tổ chức
kết cấu tác phẩm nghệ thuật. Đó là việc sắp xếp bố cục trần thuật sao cho hợp
lí và thể hiện đúng ý đồ tác giả. Chúng ta hiểu vì sao Nam Cao lựa chọn miêu
tả tiếng chửi của Chí Phèo ngay khi bắt đầu câu chuyện chứ không phải là
miêu tả quãng thời thơ ấu của Chí Phèo. Sở dĩ có sự đảo ngược trình tự thời
gian ấy là vì người kể chuyện muốn cho chúng ta thấy hành trình trở lại làm
20
người của một con quỷ dữ chứ không muốn diễn tả quá trình trở thành quỷ dữ
của một người nông dân lương thiện. Khả năng tổ chức kết cấu của người kể

phía sau những hành động của các nhân vật được miêu tả” [58, tr.117]. “Tác
giả” mà Gorki nói đến ở đây chính là người kể chuyện. Bởi tác giả là người
sáng tạo ra tác phẩm nhưng tác giả không bao giờ xuất hiện trực tiếp trong tác
phẩm đó mà lại hư cấu ra người kể chuyện, nhân vật kể chuyện để thay mặt
mình dẫn dắt người đọc thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm.
Trước hết nhân vật kể chuyện, người kể chuyện là người môi giới, gợi
mở, dẫn dắt giúp người đọc tiếp cận với thế giới nhân vật, hiểu được bản chất
của nhân vật, rút ngắn khoảng cách giữa nhân vật với người đọc. Chẳng hạn,
trong Anna Karênina ( Lép Tônxtôi), người kể chuyện đã vừa kể, vừa tả, vừa
giải thích, bình luận giúp người đọc hiểu rõ hơn về nhân vật Anna. Mặc dù
trong quan niệm của xã hội thượng lưu phong kiến Anna là người phụ nữ sa
đoạ, đáng lên án nhưng trong cái nhìn của người kể chuyện nàng là một phụ
nữ “đáng thương chứ không đáng tội”, một phụ nữ đáng tôn trọng. Để người
đọc hiểu thêm về Anna, người kể chuyện đã miêu tả nàng qua cái nhìn của
nhiều nhân vật khác: Đối với Lêvin thì “Anna là người đàn bà tế nhị, cởi mở
Ngoài cái thông minh, duyên dáng, sắc đẹp nàng còn là người thẳng thắn
nữa”. Đối với nữ công tước Miaccaia thì “Anna đã làm cái điều mà tất cả
những người đàn bà, trừ tôi ra, đều làm vụng trộm. Chị ấy không muốn lừa
dối và đã xử sự tốt”. Chủ thể kể chuyện cứ dẫn dắt, gợi mở và truyền đến cho
người đọc một sự cảm thông đối với số phận của Anna.
Thứ hai, không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn, sâu hơn về nhân vật mà
người kể chuyện, nhân vật kể chuyện còn hướng người đọc cùng suy ngẫm,
chia sẻ và đồng cảm với những chiêm nghiệm, những suy nghĩ của mình về
22
cuộc đời. Chẳng hạn, đọc Chiếc áo khoác của Gôgôn, qua lời kể của chủ thể
kể chuyện vừa mai mỉa vừa thương cảm người đọc cảm thấy xót xa cho thân
phận nhỏ bé của người viên chức trong bộ máy quan liêu của nước Nga. Hình
ảnh chiếc áo khoác đã trở thành món ăn tinh thần, nó đã làm thay đổi cuộc
sống của bác Akaki Akakievits nó làm cho “ Cuộc sống của bác có phần đầy
đủ hơn. Bác trở lên lanh lợi hơn, cương quyết hơn”. Chỉ một ước mơ rất nhỏ

niệm sống của nhà văn. Chẳng hạn, trong tập Giamalia- Truyện núi đồi và
thảo nguyên, qua thái độ, quan niệm của nhân vật kể chuyện ta thấy được tư
tưởng của nhà văn Aimatốp. Trước hết đó là thái độ phê phán quyết liệt đối
với những hủ tục lạc hậu của lối sống gia trưởng, coi thường phụ nữ, coi
“hạnh phúc của người phụ nữ chỉ là sinh con đẻ cái, trong nhà dư dật”. Gắn
thái độ lên án những hủ tục đó, nhân vật kể chuyện còn bày tỏ một sự nâng
niu, trân trọng, thông cảm đối với người phụ nữ. Nhân vật kể chuyện trong
truyện ngắn Giamalia đã bày tỏ một cách trực tiếp tình cảm của mình đối với
chị dâu, đã ca ngơi vẻ đẹp của chị, đồng cảm với việc chị dám vượt lên cuộc
sống, dám bước qua những tập tục quái gở để tìm hạnh phúc chân chính, đích
thực của mình. Dù cho dân bản coi Giamalia là kẻ phản bội thì nhân vật kể
chuyện vẫn khẳng định: “Có một mình tôi không chê trách Giamalia. Tôi
không phản bội chân lí, chân lí của cuộc sống, chân lí của hai người đó”. Sự
đồng tình của nhân vật kể chuyện xưngTôi với tình yêu của Giamalia cũng
chính là tấm lòng nhân đạo của tác giả, tư tưởng tiến bộ của Aimatốp. Trong
Cố hương, nhân vật kể chuyện thể hiện thái độ đau buồn vì xã hội thối nát đã
làm vẩn đục tình cảm con người, tạo nên một bức tường ngăn cách giữa người
với người: “Tôi đã lớn tiếng yêu cầu xoá bỏ sự ngăn cách người lao động với
trí thức, đạp đổ bức tường do chế độ phong kiến dựng lên”. Trong Nhật kí
24
người điên, nhân vật kể chuyện đã phê phán những kể ăn thịt người, đã kêu
gọi xã hội hãy cứu lấy trẻ em. Tư tưởng đó trước hết là của nhân vật kể
chuyện nhưng đó cũng chính là tư tưởng, thái độ của Lỗ Tấn trước thực tại xã
hhội đương thời.
Thứ hai, không chỉ quan niệm về cuộc sống qua nhân vật kể chuyện ta
còn thấy quan niệm về văn chương nghệ thuật của nhà văn. Đọc truyện ngắn
của Nam Cao, nếu ta tập hợp những suy nghĩ của nhân vật kể chuyện lại thì
có thể thấy được quan niện văn chương tương đối hoàn chỉnh, hệ thống và
nhất quán của nhà văn. Chẳng hạn, đó là quan niệm coi trong vai trò của nhà
văn trong sáng tạo nghệ thuật: “Nhà văn phải biết dùng những câu chuyện

[55, tr.90]. M.Bakhtin đã xem điểm nhìn như là “Cái lập trường mà xuất phát
từ đó câu chuyện được kể, hình tượng được miêu tả hay sự việc được thông
báo” [4, tr.86]. Trong Lí luận văn học các nhà lí luận cho rằng: “Nghệ sĩ
không thể miêu tả, trần thuật các sự kiện về đời sống được nếu không xác
định cho mình một điểm nhìn đối với các sự vật, hiện tượng: Nhìn từ góc độ
nào, xa hay gần, cao hay thấp, từ bên trong ra hay từ bên ngoài vào Điểm
nhìn trần thuật là một trong những yếu tố hàng đầu của sáng tạo nghệ thuật”
[48, tr.310]. Nguyễn Thái Hoà trong Những vấn đề thi pháp của truyện cũng
rất chú trọng đến vấn đề điểm nhìn và tác giả khẳng định điểm nhìn: “ Không
phải là lập trường xã hội mà là toạ độ thời gian được lựa chọn cho hành động
kể chuyện, phát triển nội dung, sắp xếp bố cục, hư cấu thành truyện” [25,
tr.122].
Những ý kiến trên tuy có những điểm khác nhau nhưng hầu như đều
thống nhất ở chỗ, xem điểm nhìn của người kể chuyện, nhân vật kể chuyện
chính là phương thức phát ngôn, trình bày, miêu tả phù hợp với cách nhìn,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status