1
Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Giai đoạn 1945 - 1975 là thời kỳ truyện ngắn phát triển mạnh mẽ
trong điều kiện chiến tranh. Tuy nhiên, hiện nay những công trình nghiên
cứu về truyện ngắn cha nhiều, nhất là trên phơng diện thi pháp thể loại.
Chọn nghiên cứu truyện ngắn từ góc độ thi pháp thể loại, chúng tôi không
cho đây là một cách tiếp cận toàn diện nhng phần nào mở ra một hớng
nghiên cứu mới cho thể loại truyện ngắn thời kỳ này.
2. Lịch sử vấn đề.
2.1 Tình hình nghiên cứu lý thuyết truyện ngắn.
Đã có rất nhiều tài liệu bàn về khái niệm và đặc trng của truyện
ngắn. Tiêu biểu có thể kể đến ý kiến của Gulaiép, Pospêlốp, Hà Minh Đức,
Nguyễn Công Hoan, Vơng Trí Nhàn, Bùi Việt Thắng Những ý kiến về
truyện ngắn ở các tài liệu nêu trên rất phong phú đa dạng, song về cơ bản
có hai loại:
2.1.1 Nêu ra những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn, từ những vấn
đề mang tính lý luận (nh vai trò, khả năng, phạm vi khám phá, cách thức
chiếm lĩnh đời sống) đến những vấn đề cụ thể (kết cấu, cốt truyện, nhân
vật, ngôn ngữ, chi tiết).
2.1.2 Trình bày kinh nghiệm viết truyện ngắn.
Loại ý kiến này thờng là của các tác giả có nhiều thành công với
truyện ngắn. Để minh họa cho những nhận xét khái quát về thể loại, họ
trình bày lại quá trình viết các tác phẩm và từ đó rút ra kinh nghiệm, bài
học sáng tác.
Loại ý kiến này không trực tiếp phục vụ cho việc giải quyết đề tài,
nhng ít nhiều cũng là những gợi ý cần thiết cho chúng tôi trong quá trình
tìm hiểu các sáng tác cụ thể, phục vụ cho việc khái quát lý thuyết
2.2 Tình hình nghiên cứu truyện ngắn giai đoạn 1945 - 1975.
2.2.1 Những công trình nghiên cứu về những vấn đề lý thuyết của
Ngọc Ngoài ra còn rất nhiều bài viết về các tác giả khác nh: Giang
Nam, Phan Tứ, Nguyễn Thi, Nguyễn KhảiĐiểm chung của loạt bài này
là các tác giả thờng cố gắng phát hiện ra những nét riêng của từng tác giả,
tuy không nhiều. Loạt bài này đã giúp chúng tôi khá nhiều trong việc
nghiên cứu các khuynh hớng của truyện ngắn Việt Nam trong giai đoạn
1945 - 1975.
2.2.3 Những bài viết về từng tác phẩm.
Loại bài này rất nhiều ở các các báo, tạp chí. Loạt bài này có tác
dụng giúp chúng tôi tìm hiểu sự trởng thành của một tác giả trong sự phát
triển của một thời kỳ nhất định.
3. Đối tợng và giới hạn nghiên cứu.
3.1 Đối tợng khảo sát.
Luận án chọn mốc thời gian từ 1945 đến 1975, vì đây là giai đoạn
đất nớc có chiến tranh, văn học chịu sự chi phối của qui luật chiến tranh.
3
Tuy nhiên, truyện ngắn cha xuất hiện nhiều trong thời kỳ kháng chiến
chống Pháp. Vì vậy, luận án khảo sát chủ yếu là truyện ngắn từ những năm
cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp đến 1975 của những tác giả tiêu
biểu, đã định hình về mặt phong cách.
3.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
3.2.1 Do đối tợng khảo sát tơng đối rộng, cộng thêm sự khó khăn
khi tìm tài liệu, nhất là những truyện ngắn đợc ra đời ở các đô thị miền
Nam thời bị tạm chiếm nên chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi khảo sát ở bộ
phận văn học Cách mạng.
3.2.2 Luận án chỉ giới hạn ở những vấn đề mang tính đặc trng và
đáng quan tâm hơn cả của truyện ngắn 1945 - 1975 nh: cốt truyện, nhân
vật, giọng điệu, ngôn ngữ. Đó là những cấp độ quan trọng của cấu trúc
truyện ngắn, đồng thời là nơi bộc lộ rõ những đặc trng của truyện ngắn
phát triển trong điều kiện chiến tranh.
I. Khả năng bao quát hiện thực rộng lớn.
1. Phản ánh cuộc kháng chiến chống Pháp.
Những ngày đầu sau Cách mạng tháng Tám, các nhà văn lớp trớc
nh Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Bùi Hiển cha thích nghi đợc
với hoàn cảnh mới nên cha có nhiều sáng tác theo kịp những biến chuyển
to lớn của thời đại. Chỉ có một số truyện ngắn của Nam Cao, Nguyên
Hồng, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tởng nh Mò sâm banh, Địa ngục và Lò
lửa, Vỡ tỉnh, Một phút yếu đuổi ít nhiều ghi lại đợc hình ảnh xã hội Việt
Nam trong đêm trớc của cuộc cách mạng và khí thế sục sôi của dân tộc
trong cuộc trở dạ vĩ đại của lịch sử.
Bớc vào cuộc kháng chiến, truyện kí kháng chiến, tuy không nhiều,
đã phản ánh khá trung thực cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện trên các
chiến trờng khác nhau, đồng thời nêu lên sức mạnh vô địch của cuộc
chiến tranh nhân dân dới sự lãnh đạo của Đảng. Ngời nông dân kháng
chiến và anh bộ đội cụ Hồ trở thành nhân vật trung tâm của nhiều truyện
ngắn (Một lần tới Thủ đô của Trần Đăng, Làng, Vợ nhặt của Kim Lân, Đôi
mắt của Nam Cao, Th nhà của Hồ Phơng, Voi đi của Siêu Hải, Con
đờng sống của Minh Lộc, Tây đầu đỏ của Sơn Nam, Bên rừng Cù lao
Dung của Phạm Anh Tài, Cây đớc Cà Mau của Đoàn Giỏi).
2. Phản ánh cuộc đấu tranh thống nhất đất n
ớc.
Sau 1954, hòa bình đợc lập lại trên miền Bắc. ở miền Nam, vẫn đang
trong tình trạng nớc sôi lửa bỏng. Hoàn cảnh ấy đã gây nên sự nhức nhối
trong tình cảm của nhân dân hai miền Nam Bắc và sâu hơn là niềm mong
mỏi thiết tha thống nhất nớc nhà. Tâm t, nguyện vọng ấy đã đợc nhiều
nhà văn quan tâm và tạo thành cảm hứng chủ đạo cho mạch truyện viết về
miền Nam, về cuộc đấu tranh thống nhất nớc nhà (Cây đàn miền Bắc -
Phạm Anh Tài, Lá cờ mình - Nguyễn Văn Tâm, Em bé - Hoàng Minh Châu,
Hai em bé miền Nam - Hoài Vũ, Trung thành - Nguyễn Thành Long)
Trong hoàn cảnh đó, những sáng tác mang màu sắc bi quan, buồn nản
truyện ngắn tiêu biểu trong các tập: Hai vợ, Trai làng Quyền (Nguyễn Địch
Dũng), Mùa lạc (Nguyễn Khải), ánh sáng bên hàng xóm (Chu Văn), Quê
hơng (Vũ Tú Nam), Gánh vác (Vũ Thị Thờng), Đồng tháng năm, Vụ
mùa cha gặt (Nguyễn Kiên) Càng về sau, truyện ngắn càng phản ánh
hiện thực phong phú và có chiều sâu hơn. Một số truyện ngắn của Vũ Thị
Thờng, Nguyễn Kiên, Nguyễn Địch Dũng (Câu chuyện xảy ra không
tránh khỏi, Cái lạt, Anh Keng, Nhà chị Nhỡ) đi sâu vào nghiên cứu, tái
hiện cuộc đấu tranh trong nội bộ nhân dân, nhằm làm cho đội ngũ trong
sạnh, vững mạnh hơn. Điều đó chứng tỏ, các tác giả đã hiểu rõ hơn về
ngời nông dân tập thể và không chỉ dừng lại ở mức độ minh họa cho chủ
trơng chính sách. Nhìn chung, mỗi ngời viết trong khả năng của mình
6
đều cố gắng dựng lại những đổi mới cơ bản ở nông thôn, nhằm khẳng định
bớc tiến của cách mạng, của nông thôn trên con đờng xây dựng chủ
nghĩa xã hội.
4. Phản ánh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc
Sau những thất bại nặng nề ở miền Nam, ngày 5/ 8/ 1964 Mỹ tiến
hành cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Cả nớc bớc vào cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nớc. Trong tình hình ấy, nhiều nhà văn lên đờng trở
về quê hơng nh Anh Đức, Phan Tứ, Nguyễn Thi, Nguyễn Trung Thành
Và họ đã có những sáng tác kịp thời về cuộc chiến đấu của đồng bào miền
Nam (Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành, Con chị Lộc - Anh Đức, Quán
rợu ngời câm - Nguyễn Quang Sáng, Ngời tị nạn - Vĩnh Hòa, Về làng
của Phan Tứ, Vở kịch cô giáo của Giang Nam, Chiếc guốc xinh xinh của
Thủy Thủ). Đặc biệt, cuộc đối đầu trực tiếp của nhân dân miền Nam với kẻ
thù để giữ ruộng đất đợc nhiều tác giả quan tâm (Giữa vòng vây - Trúc Hà,
Mùa gió, Đất - Anh Đức, Lửa đêm - Phan Tứ, Chuyện bên bờ sông Vàm cỏ -
Lê Văn Thảo, Về làng - Phan Tứ). Có thể nói, truyện ngắn miền Nam đã
phản ánh kịp thời, chân thực về hiện thực cuộc chiến đấu của nhân dân ta.
phúc - Vũ Thị Thờng, Màu tím hoa mua - Nguyễn Thị Nh Trang, Đêm
trong làng - Nguyễn Thị Ngọc Tú) Bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau,
các tác giả đều nhằm ca ngợi tinh thần lạc quan của con ngời trớc các
thử thách của hoàn cảnh.
1.2 Xu hớng lý tởng hóa hoàn cảnh sống của nhân vật
Giai đoạn 1945 - 1975 là thời kỳ số phận cộng đồng đợc đặt lên hàng
đầu. Ngời với ngời sống với nhau trong tình chan hòa, thân ái. Do đó, con
ngời tiến bộ hay lạc hậu hoàn toàn phụ thuộc vào bản thân họ, còn môi
trờng luôn luôn tốt. Nhiều truyện đã đề cập đến sự đổi đời của những con
ngời từng là nạn nhân trong xã hội cũ nay tìm lại đợc niềm vui, hạnh phúc
trong cuộc sống mới (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài, Ng
ời vợ lẽ - Đỗ Quang
Tiến, Bộ quần áo mới - Ngô Ngọc Bội, Hoa đào năm ngoái - Chu Văn, Ma
đêm - Vũ Giang, Gặp bạn, Trai làng Quyền - Nguyễn Địch Dũng, Hai chị
em - Vũ Thị Thờng, Mùa lạc, Đứa con nuôi - Nguyễn Khải, Lẽ mọn -
Nguyễn Thị Cẩm Thạch, Tiếng sóng khuya - Nguyễn Kiên).
Sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nớc ngày
càng sôi nổi, thu hút sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân. Nhiều truyện
ngắn đã xây dựng những kiểu nhân vật tự nhận thức để tiến kịp phong trào
nh nhân vật cô giáo (Vở kịch cô giáo - Giang Nam), ông Sần (Về làng -
Phan Tứ), Ngời đàn bà Tháp Mời trong tác phẩm cùng tên của Nguyễn
Quang Sáng. Điều này chứng tỏ sức cảm hóa kỳ diệu của cách mạng, của
hoàn cảnh đối với con ngời.
2. Khuynh hớng sử thi
2.1 Đề tài
Theo nhà phê bình Lại Nguyên Ân thì: "Tính chất sử thi của nền văn
học mới Việt Nam thể hiện trớc hết ở chỗ nó lấy đối tợng miêu tả chủ
yếu là cuộc đấu tranh của dân tộc nhằm thoát khỏi mọi ách ngoại xâm ()
nó ca ngợi sự nghiệp dựng nớc và giữ nớc của toàn dân trong hiện tại và
của hiện thực hơn là tái hiện hiện thực dới hình thức trực tiếp.
2.1.2 Cốt truyện với chức năng bộc lộ trạng thái, tâm tởng
Truyện ngắn trữ tình là truyện về thế giới đời sống đã đợc khúc xạ
qua lăng kính tâm hồn của tác giả, là truyện về niềm vui, nỗi buồn của con
ngời trớc cuộc sống. Nói cách khác, những chi tiết, sự kiện, biến cố chỉ
là cái nền, cái cớ để nhân vật phô diễn thế giới nội tâm phong phú của
mình. (Thung lũng cò, Đờng qua nhà, Tiếng ma ).
9
Để những truyện "không có chuyện" có thể "đứng" đợc, không rơi
vào tình trạng chết yểu, vô vị nhà văn phải tạo ra một "không khí" quán
xuyến toàn bộ truyện, một "môi trờng sống" cho nhân vật bằng cách đa
vào trong truyện những chi tiết chân thực, chính xác, đáp ứng yêu cầu
"phản ánh chân thực hiện thực cuộc sống". Do quan niệm "cốt truyện
không thành vấn đề lắm", các cây bút trữ tình ít chú ý tới những sự kiện,
biến cố khách quan mà chủ yếu quan tâm tới những biến cố bên trong,
những suy nghĩ, tâm trạng của nhân vật.
2.1.3 Nhân vật trữ tình
Nhân vật trữ tình là kiểu nhân vật có thế giới nội tâm phong phú,
phức tạp, có tâm hồn nhạy cảm, dễ rung động trớc những biến chuyển của
đời sống. Đỗ Chu, Nguyễn Thị Nh Trang, Nguyễn Thành Long, Anh Đức,
Nguyễn Minh Châu có sở trờng xây dựng loại nhân vật này. Hành động
không còn là cốt lõi của nhân vật. Nhân vật không đợc miêu tả qua ngoại
hình, hành động mà chủ yếu xuất hiện qua tâm trạng và miêu tả tâm trạng
cũng không nhằm cắt nghĩa, lý giải cho hành động
Nhân vật trữ tình, trớc hết, là những con ngời rất tinh tế và nhạy
cảm trong cảm nhận cuộc sống, con ngời. Để có đợc những cảm nhận
đó, họ phải là những con ngời có một tình yêu mặn mà, tha thiết với cuộc
sống quanh mình.
"Nặng yêu thơng, tâm sự, hồi tởng" cũng là một đặc điểm của
khơi mở, đánh động những rung động khẽ khàng, tinh tế ở bên trong. Nó là
tiêu điểm thu gọn để làm nảy sinh cảm xúc, cảm giác. Chính vì thế, tình
huống khơi mở tâm lý là tình huống tiêu biểu nhất của truyện ngắn trữ tình,
giàu tiềm năng khơi mở cõi lòng bí ẩn của con ngời (Mùa cá bột, Phù sa,
Trong tầm súng - Đỗ Chu; Lặng lẽ Sa Pa, Giữa trong xanh, Buổi sáng thần
tiên - Nguyễn Thành Long; Chuyện ở đảo, Con đờng và dòng sông -
Nguyễn Thị Nh Trang;).
2.1.5 Nghệ thuật trần thuật
Trần thuật từ ngôi thứ nhất:
Là kiểu trần thuật phổ biến trong truyện trữ tình. Hình thức ngời kể
chuyện từ ngôi thứ nhất tạo tiền đề cho quyền tự bộc lộ của ng
ời viết, phát
huy một cách tối đa vai trò và sự hiện diện của mình trong văn bản nghệ
thuật. Đồng thời rút ngắn khoảng cách giữa ngời kể chuyện và nhân vật,
tạo độ tin cậy cho tác phẩm. Kiểu trần thuật này cho phép đa vào lời trần
thuật quan điểm riêng, sắc thái cá tính mang đậm màu sắc chủ quan, tăng
cờng chất trữ tình cho câu chuyện (Tiếng ma - Nguyễn Thị Nh Trang,
Ký ức tuổi thơ - Anh Đức, Mùa nấm tràm - Đinh Quang Nhã)
Nhịp điệu trần thuật chậm ri, khoan thai
Cơ sở để tạo nên nhịp điệu trần thuật ấy chính là do đặc trng thể loại
quy định. Hầu hết truyện ngắn trữ tình đều rất ít sự kiện. Những sự kiện,
biến cố ít ỏi này không đợc phát triển để trở thành biến cố mà thờng bị
kéo dãn ra, mờ nhạt dần theo dòng tâm trạng của nhân vật. Đó là nguyên
11
nhân cơ bản để tạo ra nhịp điệu trần thuật chậm rãi, khoan thai cho loại
truyện ngắn trữ tình.
Một trong những biện pháp cơ bản làm chậm lại tiến trình trần thuật
chính là phép hồi cố. Khảo sát truyện ngắn trữ tình giai đoạn này, chúng
tôi nhận thấy phần lớn truyện đều đợc bắt đầu bằng thời gian hiện tại
cái cốt trong nhiều truyện viết về đề tài cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã
12
hội (Câu chuyện xảy ra không tránh khỏi, Ngời vợ, Xa Phủ, Vợ chồng xã
đội, Anh Keng, Ché Mèn đợc đi họp, Xung khắc, Tiếng gõ áp lực).
2.2.3 Nhân vật
Hầu hết nhân vật của truyện ngắn hiện thực đều là nhân vật loại hình.
Do đó, khi xây dựng loại nhân vật này, các tác giả chú ý tới những nét ngoại
hình tiêu biểu, phù hợp với từng loại ngời, từng lớp ngời trong xã hội.
Khuôn mặt, nụ cời, dáng vóc là những nét ngoại hình thờng đợc sử dụng
để khác họa chân dung những con ngời Việt Nam trong giai đoạn này.
2.2.4 Tình huống
2.2.4.1 Tình huống kịch.
Là tình huống bao hàm những xung đột đời sống mang tính kịch cao,
trong đó sự va chạm giữa các nhân vật trở nên gay gắt, dồn nén trong một
không gian, thời gian và hành động theo quy tắc "tam nhất" của kịch. Để
thể hiện t tởng yêu nớc, t tởng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc,
nhân vật của truyện ngắn hiện thực thờng đợc đặt vào các tình huống
giao tranh căng thẳng giữa sự sống và cái chết để rồi cuối cùng phẩm chất
anh hùng trong mỗi ngời bao giờ cũng chiến thắng (Một nhà, Con chị
Lộc, Gieo mầm)
2.2.4.2 Tình huống luận đề
"Là cách tạo dựng tình huống truyện theo những luận đề, những t
tởng có sẵn để tạo ra những truyện ngắn luận đề"(199, 48). Viết loại
truyện này, các tác giả thờng chú ý đến tính chất thế sự hơn là đi sâu phân
tích diễn biến tâm lý phức tạp. Đằng sau những sự việc, con ngời bình
thờng bao giờ tác giả cũng nhằm gửi gắm một quan niệm của mình về đời
sống, con ng
ời. Loại tình huống này xuất hiện chủ yếu trong loại truyện
thông qua số phận của một cá nhân cụ thể để ca ngợi tính u việt của chế
Chơng III
kết cấu, Các loại hình nhân vật v
giọng điệu, ngôn ngữ
3.1 Kết cấu
3.1.1 Phần lớn truyện ngắn vẫn đợc kết cấu theo lối truyền thống
Đây là kiểu kết cấu đã có từ lâu và rất phổ biến trong văn học Việt
Nam. Đặc điểm của kiểu kết cấu này là có đầu cuối rõ ràng với nhiều sự
kiện, nhiều biến cố. ở loại này, cốt truyện trở thành cái khung chi phối
phần lớn tính cách nhân vật.
Cốt truyện dựa vào hệ thống sự kiện
Khảo sát truyện ngắn 1945 - 1975, có thể thấy đa số cốt truyện đợc
viết theo kiểu truyền thống, có đầu cuối rõ ràng. Mỗi một thành phần có
thể có một hay nhiều sự kiện. Điều quan trọng là các sự kiện này thờng
không đợc mở rộng về quan hệ, thời gian, không gian mà chủ yếu đợc
xâu chuỗi theo thời gian, xoay xung quanh nhân vật chính để làm nổi bật
tính cách nhân vật. Nhìn chung, truyện ngắn giai đoạn này là truyện đơn
tuyến, không có những mối quan hệ phức tạp. Truyện của Vũ Thị Thờng,
14
Nguyễn Quang Sáng, Đỗ Chu, Phan Tứ, Nguyễn Kiên, Nguyễn Khải, Hồ
Phơng, Bùi Hiển, Nguyễn Địch Dũng rất tiêu biểu cho kiểu kết cấu
truyền thống.
Biến cố vẫn giữ vai trò quan trọng trong thúc đẩy cốt truyện phát triển
Xung đột giữa địch và ta, cá nhân và tập thể là cái cốt của hầu hết
truyện ngắn 1945 - 1975. Để giải quyết những xung đột ấy, nhân vật nhất
thiết phải quyết định những hành động thích ứng, những hành động không
chỉ phân loại phẩm chất, tính cách của họ trong những ngăn loại hình xác
định mà còn là bớc ngoặt lớn đối với cuộc đời, số phận nhân vật. Với kiểu
cốt truyện này, tình huống có ý nghĩa nh một sự thử thách của hoàn cảnh
thể nới lỏng cốt truyện, mở rộng đề tài, phạm vi phản ánh.
Kết thúc không hoàn kết.
Thờng gặp trong những truyện ngắn có cốt truyện vận động theo
dòng tâm trạng. Tiêu biểu cho loại kết thúc này là truyện ngắn của Đỗ Chu,
Nguyễn Thị Nh Trang, Nguyễn Ngọc Tấn, Nguyễn Thành Long, một vài
truyện trong tập Rẻo cao của Nguyên Ngọc Kiểu kết thúc nh vậy "gieo
vào lòng ngời đọc những dự cảm về tơng lai, về cái đẹp và khả năng
thấu thị đời sống trong dòng chảy liên tục của nó" (199. 60).
3.2. Các loại hình nhân vật
3.2.1 Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong truyện ngắn 194-1975
3.2.1.1 Về con ngời chính trị, con ngời công dân
Giai đoạn 1945 - 1975 là thời kỳ đất nớc có chiến tranh. Lợi ích
cộng đồng trở thành nguyên tắc hàng đầu. Do đó, xét trên đại thể, có thể
thấy quan niệm nghệ thuật về con ngời của truyện ngắn 30 năm chiến
tranh cách mạng là con ngời chính trị, con ngời công dân, con ngời
hớng về cách mạng.
Con ngời cộng đồng trong truyện ngắn 1945 - 1954.
Khám phá con ngời từ phơng diện xã hội, từ trách nhiệm công dân
là biểu hiện đầu tiên của con ngời cộng đồng trong truyện ngắn. Trong
mỗi tác phẩm, nhà văn không xem xét con ngời ở bình diện cá nhân, mà
khám phá và thể hiện con ngời của cộng đồng, giai cấp, xã hội. Con ngời
của gia đình, làng xóm đã trở thành con ngời của cách mạng và kháng
chiến. Mối quan hệ thế sự và đời t không nằm trong sự chú ý của nhà văn
và nếu có đợc đa vào trong tác phẩm thì cũng bị chi phối mạnh mẽ bởi
đời sống cộng đồng và mang một ý nghĩa khác hẳn.
Việc đa lên hàng đầu con ngời xã hội, con ngời công dân đã khiến
cho truyện ngắn thời kỳ này tập trung khám phá và thể hiện "những nét tâm
lý của quần chúng nh lòng yêu nớc, căm thù giặc, tình nghĩa đồng bào,
tình cảm tiền tuyến hậu phơng, ý thức giai cấp, sự ham thích đời sống sinh
hoạt tập thể, sinh hoạt chính trị" (125, 21) (Đôi mắt - Nam Cao, Làng - Kim
Gấc, anh Khang, chị Tiềm (Mùa cá bột), đội trởng Nham (Phù sa) xuất
hiện nhiều. Có thể nói, lớp ngời này rất tiêu biểu cho quan niệm của các
nhà văn về những con ngời mới xã hội chủ nghĩa.
Miêu tả sự đổi thay số phận và tính cách của nhân vật trong hoàn
cảnh, môi trờng tập thể của một xã hội tốt đẹp cũng là một hớng khẳng
định sự hoà nhập riêng chung của con ngời trong truyện ngắn lúc này.
Nhiều truyện ngắn đi theo hớng này đã thể hiện đợc khát vọng hạnh
phúc của con ngời, nhất là những con ngời từng chịu nhiều đau khổ,
thiệt thòi (Đờng cày trên đám ruộng, Chị Nhâm, Bộ quần áo mới, Hoa
đào năm ngoái, gặp bạn, Trai làng Quyền).
Con ngời sử thi trong truyện ngắn 1965 - 1975
Quan niệm nghệ thuật về con ngời của truyện ngắn chống Mỹ vẫn là
sự tiếp tục của con ngời chính trị, con ngời công dân ở những giai đoạn
17
trớc nhng đã có thêm những phẩm chất mới để phù hợp với hoàn cảnh
mới. Đó là những con ngời ý thức sâu sắc về tầm vóc lịch sử và ý nghĩa
thời đại của cuộc chiến đấu chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội của dân
tộc; mỗi cá nhân đợc biểu hiện tập trung ý chí, khát vọng và sức mạnh của
cả cộng đồng dân tộc, thậm chí của thời đại. Họ là những ngời quyết tâm
tiến hành cuộc chiến tranh vệ quốc với một tinh thần tự giác rất cao, t
tởng và ý thức chính trị đã đợc nhận thức một cách triệt để (Trong các tập
Về làng, Giấc mơ ông lão vờn chim, Ngời đàn bà Tháp Mời).
Con ngời trong truyện ngắn chống Mỹ không chỉ ra trận bằng hiện
tại mà còn tự nhận thức về mình qua cuộc chiến đấu với kẻ thù, qua những
quan hệ với đồng đội và với nhân dân, với cách mạng và với lịch sử, họ soi
lại mình trong quá khứ anh hùng của dân tộc, lấy đó làm động lực để vơn
tới cho xứng tầm thời đại (Rừng xà nu, Đứa con, Lửa đêm).
Thế giới tình cảm của con ngời thời chống Mỹ đợc khai thác ở
nhiều mặt. Nổi lên và bao trùm vẫn là những tình cảm cộng đồng, tình yêu
Đi sâu vào nội tâm con ngời, các nhà văn còn cho thấy đợc những
day dứt, dằn vặt của con ngời, nhất là những ngời lính trở về sau chiến
tranh. Có một số nhà văn đã sớm nhận thấy sự chi phối của hoàn cảnh đối
với con ngời và thể hiện trong những bi kịch cá nhân (Im lặng - Nguyễn
Ngọc Tấn; Đứa con - Hoài Giao; Đứa con - Nguyên Ngọc; Vết thơng -
Hải Hồ; Ngang trái - Chu Văn; )
3.2.2 Những kiểu dạng và phơng thức thể hiện nhân vật
3.2.2.1 Nhân vật loại hình.
Là kiểu nhân vật đợc xây dựng để "thể hiện tập trung một loại phẩm
chất, tính cách nào đó của con ngời hoặc các phẩm chất, tính cách, đạo
đức của một loại ngời nhất định của một thời đại". Họ đợc xây dựng nh
là những con ngời sống hết mình với lý tởng độc lập, tự do, với sự
nghiệp bảo vệ quê hơng đất nớc nh cặp vợ chồng Đờng - Miên (Gặp
gỡ), Lợng (Th
nhà), T.nú, Dít (Rừng xà nu), ông T vờn chim (Giấc mơ
ông lão vờn chim), ông Hai Vàm Cỏ (Chuyện bên bờ sông Vàm Cỏ)
Tuy khác nhau về thành phần xuất thân nhng họ đều có chung bản chất xã
hội. Họ là kết tinh khí phách dân tộc, là bộ mặt tinh thần của thời đại. Mỗi
nhân vật đều có sức vẫy gọi, sức truyền lan lý tởng trong cộng đồng.
Trong những truyện viết về đề tài cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã
hội, truyện ngắn lại đề cập đến một kiểu ngời mới ở nông thôn miền Bắc.
Qua đó, các tác giả phản ánh sự vận động và khí thế chung dân tộc, thời
đại nh Mỵ (Vợ chồng A Phủ), chị Nhâm (Chị Nhâm), Đoan (Ngời vợ),
bà cụ Thuận (Buổi tối trong gia đình), lão Học (Con trâu bạc), Chủ tịch
Bình (Đêm mùa thu), chủ nhiệm Chẩn (Neo đơn)
3.2.2.2 Nhân vật loại hình kết hợp với nhân vật tính cách
Những nhân vật này không chỉ đại diện, kết tinh cho tinh thần yêu
nớc của nhân dân ta mà ở họ còn có những nét cá tính không thể trộn lẫn
với bất cứ nhân vật nào khác. Đó là văn sỹ Hoàng (Đôi mắt - Nam Cao),
Đào (Mùa lạc - Nguyễn Khải), ông Tám Xẻo Đớc (Đất - Anh Đức), bác
gian khổ tột cùng nhng vẫn luôn lạc quan, tin vào một ngày mai tơi
sáng. Cuộc sống nhìn đâu cũng thấy đẹp, thấy nên thơ. Con ngời sống với
nhau chân tình, cảm động. Hiện thực ấy đã tạo cho truyện ngắn một chất
trữ tình bay bổng. Chất trữ tình ấy đợc tạo bởi những hình ảnh, ngôn từ
đẹp đẽ, trau chuốt và nhiều câu văn tràn đầy cảm xúc trữ tình.
3.3.2.2 Ngôn ngữ đời thờng mộc mạc, dân d
Kiểu ngôn ngữ này đợc thể hiện rõ nhất ở cách các nhà văn sử dụng
khá nhiều lối phát âm và tiếng địa phơng. Nguyễn Thi, Nguyễn Khải, Anh
20
Đức, Vũ Thị Thờng, Kim Lân, Nguyễn Địch Dũng là những tác giả đã sử
dụng khá thành công lời ăn tiếng nói của quần chúng, tạo nên giá trị thẩm
mỹ riêng của tác phẩm.
3.3.2.3 Ngôn ngữ hành chính khuôn mẫu
Xuất phát từ tâm lý ham thích các hoạt động tập thể, thích đợc gọi
nhau là đồng chí, thích đợc hoà nhập vào cái bao la của đoàn thể nên đã
chi phối đến cách nói năng của nhân vật là thích dùng những từ ngữ mang
tính chính trị. kết luận
1. Truyện ngắn 1945 - 1975 phát triển trong điều kiện chiến tranh.
Truyện ngắn là một thể loại bắt nhịp và bắt mạch nhanh nhạy với đời
sống ở những bớc ngoặt mau lẹ. Đặc biệt, trong hoàn cảnh gấp gáp, quyết
liệt của chiến tranh thì truyện ngắn càng tỏ ra thích hợp. Biêlinxki đã từng
cho rằng: "Nếu có những t tởng của thời đại thì cũng có những hình thức
của thời đại" (129, 362). Có thể xem một hình thức thời đại của giai đoạn
1945 - 1975 chính là truyện ngắn. Trong xu thế chung của thời đại, với tất
cả những u điểm thể loại, truyện ngắn giai đoạn 1945 - 1975 đã phát triển
chất lợng thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội và những năm chống Mỹ
cứu nớc là những bớc phát triển rất đáng kể trên phơng diện này.
Truyện ngắn thời kỳ này phát triển trong điều kiện chiến tranh, với
chức năng là cổ vũ công cuộc dựng nớc và giữ nớc của dân tộc nên cảm
hứng lãng mạn và khuynh hớng sử thi có tác động rất lớn đến việc lựa
chọn đề tài, ngôn ngữ, nhân vật. Và chính sự tác động này đã tạo nên một
giai đoạn truyện ngắn mang đậm dấu ấn thời đại.
3. Truyện ngắn có sự xuất hiện của những khuynh hớng thẩm mỹ
khác nhau
Điều kiện chiến tranh không cho phép nhà văn có thể hoàn toàn làm
theo ý mình. Điều này cũng đồng nghĩa với việc nhà văn phải đặt cho mình
mục tiêu "viết gì ?" trớc khi nghĩ tới "viết nh thế nào ?". Phải nghĩ tới
trách nhiệm của một công dân trớc khi nghĩ tới vai trò là một nghệ sỹ.
Cho nên không mấy khó khăn để hiểu sự giống nhau ở chỗ này hay chỗ
khác giữa các nhà văn. Song nh thế cũng không có nghĩa là mọi biểu hiện
của phong cách cá nhân và sự đa dạng về bút pháp biểu hiện không xuất
hiện. Truyện ngắn thời kỳ này, đặc biệt là những năm chống Mỹ, đã xuất
hiện một số phong cách cá nhân và hình thành một số xu hớng thẩm mỹ
trong việc khám phá và thể hiện hiện thực. Căn cứ vào những dấu hiệu đặc
trng của thể loại nh cách thức tiếp cận hiện thực, nhân vật, cốt truyện,
tình huống, nghệ thuật trần thuật chúng tôi thấy có hai loại hình truyện
ngắn cơ bản: truyện ngắn trữ tình và truyện ngắn hiện thực.
Truyện ngắn trữ tình xuất hiện muộn trong lịch sử văn học dân tộc.
Loại hình truyện ngắn này chỉ thực sự bắt đầu vào những năm 30 của thế
kỷ trớc với những tên tuổi nh Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh, Xuân
22
Diệu Sau Cách mạng tháng Tám, do điều kiện chiến tranh, truyện ngắn
trữ tình hầu nh vắng bóng. Phải đến những năm 60, truyện ngắn trữ tình
mới bắt đầu trở lại. Tuy cha tạo đợc một gơng mặt nổi bật nh trớc
ngoài do đó nhịp điệu trần thuật nhanh, gấp gáp, khẩn trơng để theo kịp
diễn tiến của sự kiện.
23
4. Phát triển trong hoàn cảnh đặc biệt, truyện ngắn một mặt kế thừa
và phát huy những thành tựu của những giai đoạn trớc, mặt khác cũng đã
tạo nên những đặc điểm thi pháp riêng của thể loại trong một hoàn cảnh
lịch sử nhất định. Luận án tập trung khảo sát ba vấn đề thuộc về thi pháp
thể loại. Đó là: kết cấu, các kiểu loại nhân vật, giọng điệu và ngôn ngữ.
Qua sự khảo sát, phân tích chúng tôi nhận thấy những đặc điểm thi pháp
thể loại truyện ngắn của giai đoạn này nh sau:
Về kết cấu: chủ yếu vẫn mang tính quy phạm của truyện truyền
thống nh: hệ thống sự kiện vẫn là chất liệu chủ yếu để xây dựng cốt
truyện, biến cố vẫn giữ vai trò quan trọng trong thúc đẩy cốt truyện phát
triển, kết thúc truyện vẫn theo mô hình có hậu, khép kín. Cách tổ chức hệ
thống sự kiện vẫn theo thời gian tuyến tính. Kiểu kết cấu hiện đại cũng đã
xuất hiện trở lại nhng cha đã dạng, mới chỉ dừng lại ở kiểu truyện không
có chuyện,. Tơng ứng với kiểu cốt truyện này là kết cấu tác phẩm theo thủ
pháp "dòng ý thức" và kiểu kết thúc không hoàn kết". Nếu so sánh với văn
học sau 1975 thì những dấu hiệu đổi mới này vẫn còn quá ít ỏi và cha
phaong phú.
Về các kiểu loại nhân vật: Nhân vật là sự hiện thực hóa quan niệm
nghệ thuật về con ngời của nhà văn. Do đó, trớc khi đi vào tìm hiểu thế
giới nhân vật, luận án tập trung tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con
ngời của truyện ngắn 1945 - 1975. Đi vào khảo sát, chúng tôi nhận thấy
có hai kiểu ngời cơ bản. Thứ nhất: Con ngời chính trị, con ngời công
dân với những biểu hiện cụ thể qua các thời kỳ là: con ngời cộng đồng
trong truyện ngắn chống Pháp, con ngời thống nhất riêng chung trong
truyện ngắn thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội và con ngời sử thi
trang trọng, ngợi ca hoặc giọng cảm thông, chia sẻ. Ngôn ngữ: Cũng mang
dấu ấn của thời kỳ đấu tranh cách mạng gian khổ mà hào hùng của dân tộc.
Đó là ngôn ngữ chau chuốt, giàu chất thơ; ngôn ngữ đời thờng mộc mạc
và ngôn ngữ hành chính khuôn mẫu. Nhìn chung ngôn ngữ mang tính đại
chúng cao, gần gũi với cuộc sống của ngời lao động.
5. Bên cạnh những thành tựu, truyện ngắn giai đoạn này vẫn còn tồn
tại một số hạn chế. Do chú trọng đến chức năng tuyên truyền, cổ vũ công
cuộc giữ nớc và dựng nớc của dân tộc mà truyện thờng đi sâu khai thác
mặt thuận chiều khiến cho hiện thực đợc phản ánh rơi vào sự sơ lợc, giản
đơn. Cũng do yêu cầu của lịch sử mà nhân vật chỉ đợc khai thác ở phơng
diện xã hội, đời sống nội tâm cha đợc quan tâm nhiều nên nhân vật thiếu
sinh động, cha có sức sống lâu bền
Hiện nay, bên cạnh những cách đánh giá tơng đối nhất quán, cũng
vẫn có nhiều ý kiến trái ngợc về thành tựu của nền văn học Cách mạng
nói chung, trong đó có truyện ngắn. Tuy nhiên, theo chúng tôi những gì mà
truyện ngắn 1945 - 1975 đã đạt đợc là không thể phủ nhận. Đây vẫn là
một thể loại cần nhiều sự nghiên cứu công phu và tâm huyết để tránh rơi
vào tình trạng khen chê cảm tính.