Phát triển năng lực tự học truyện ngắn việt nam giai đoạn 1930 1945 cho học sinh lớp 11 trung học phổ thông - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

HOÀNG ANH THƯ

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1930 - 1945 CHO HỌC SINH LỚP 11
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ PHUƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
MÃ SỐ 60 14 01 11
Nguời huớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Ban

HÀ NỘI - 2014


LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của:
Lãnh đạo trường Đại học giáo dục - Đại học quốc gia Hà Nội, các
phòng khoa và các thầy cô trường Đại học giáo dục.
Lãnh đạo, các bạn đồng nghiệp và học sinh trường THPT Lê Quý Đôn,
THPT Nguyễn Trãi (Thái Bình), THPT Phan Đình Phùng (Hà Nội)
Đặc biệt sự hướng dẫn nhiệt tình của TS. Nguyễn Thị Ban
Với tấm lòng trân trọng, tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý
báu của quý thầy cô, các bạn và các em học sinh.
Dù đã rất cố gắng song chắc chắc luận văn này không tránh khỏi những
thiếu sót, kính mong sự góp ý của các thầy cô và các bạn đồng nghiệp.

Hà Nội tháng 11 năm 2014

PPDH

Phương pháp dạy học

STT

Số thứ tự

THPT

Trung học phổ thông

TPVC

Tác phẩm văn chương

VH

Văn học

2


MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn................................................................................................ i
Danh mục viết tắt .........................................................................................ii
Mụclục.........................................................................................................iii
Danh mục các bảng, biểu .............................................................................v
MỞ ĐẦU................................................................................................ 1

2.1.2. Phù hợp với những đặc điểm tâm sinh lí của HS THPT.....................42 .
2.1.3. Quán triệt tinh thần đổi mới PPDH môn học (Ngữ văn) và phần
học ( truyện ngắnViệt Nam 1930 - 1945) ..................................................43 .
2.1.4. Xuất phát từ thực tế rèn năng lực tự học truyện ngắn Việt Nam
cho học sinh THPT hiện nay .......................................................................44 .
2.2. Hướng dẫn HS lớp 11 tự học trong quá trình dạy học truyện ngắn
Việt Nam giai đoạn 1930-1945 theo hướng phát triển năng lực tự học
cho HS THPT .............................................................................................45 .
2.2.1. Hướng dẫn HS lập kế hoạch tự học ...................................................45 .
2.2.2. Hướng dẫn học sinh tự học trước giờ học..........................................48 .
2.2.3. Hướng dẫn học sinh tự học trong giờ học ..........................................63 .
2.2.4. Hướng dẫn học sinh tự học sau giờ học .............................................69 .
Tiểu kết Chương 2 ......................................................................................74 .
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM.................................................75 .
3.1. Mục đích thực nghiệm..........................................................................75 .
3.2. Đối tượng thực nghiệm.........................................................................75 .
3.3. Nội dung thực nghiệm..........................................................................76 .
3.4. Phương pháp tiến hành thực nghiệm ....................................................76 .
3.4.1. Cách tiến hành ..................................................................................76 .
3.4.2. Cách đánh giá ...................................................................................78 .
3.5. Kết quả thực nghiệm sư phạm .............................................................78 .
3.5.1. Nhận xét chung về kết quả thực nghiệm ............................................78 .
3.5.2. Kết quả thực nghiệm cụ thể ...............................................................79 .
Tiểu kết Chương 3 ......................................................................................81 .
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ............................................................82 .
1. Kết luận................................................................................................ 82
2. Khuyến nghị............................................................................................83 .
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................85 .
PHỤ LỤC ................................................................................................ 88


thành nhu cầu của thời đại, không những thế " Tự học, tự đào tạo là một con
đường phát triển suốt đời của mỗi con người trong nền kinh tế xã hội nước ta
hiện nay và cả mai sau " (Đỗ Mười)
Đổi mới phương pháp dạy học với phương châm:" Học sinh là mặt trời
xung quanh nó quy tụ mọi phương diên giáo dục" (J. Dewey) đã đề cao vai trò
của học sinh như là nhân vật trung tâm. Mục đích của đổi mới giáo dục là "
biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo", chuyển mạnh nền giáo dục chủ
yếu truyền thụ kiến thức một chiều sang giáo dục tương tác nhằm hình thành nhân
cách và phát triển năng lực người học. Trong số những phẩm chất, năng lực cần hình
thành cho học sinh thì năng lực đầu tiên và quan trọng nhất là năng lực tự học. Chủ
tịch Hồ Chí Minh cũng từng khuyên "Trong cách học, phải lấy tự học làm cốt ".
Năng lực tự học có sẵn trong mỗi người. Để đánh thức được kho báu tiềm ẩn đó
người học phải có năng lực tự học, tự nghiên cứu, nhà trường phải thay đổi cách dạy:
dạy học sinh cách học trong đó có dạy cách tự học.
Dù đang trên đường đổi mới nhưng dạy học Văn hiện nay vẫn còn nặng về
truyền thụ kiến thức theo hướng đọc chép nên nhiều học sinh tỏ ra không mặn

6


mà, không hứng thú với môn Văn. Để khắc phục hạn chế đó phương pháp dạy
học Văn đã chuyển dần từ giảng văn sang đọc - hiểu văn bản và "dạy cho học sinh
biết cách tự đọc, lấy việc tự đọc nuôi việc tự học, từ đó mà lớn lên, tham gia chủ động
vào các hoạt động xã hội " (Trần Đình Sử). Nghĩa là chuyển từ truyền thụ kiến thức
sang hình thành kĩ năng, lấy kĩ năng tự đọc làm cơ sở cho kĩ năng tự học, lấy kĩ năng
tự học làm cốt lõi để phát triển năng lực tự học Ngữ văn.
Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 là một phần quan trọng của
chương trình Ngữ văn 11 với những truyện ngắn chọn lọc nổi tiếng nhất trong
đời văn của Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan (Truyện "Hai
đứa trẻ " , "Chữ người tử tù", "Chí Phèo", " Đời thừa ", "Tinh Thần thể dục").

khám phá, nỗ lực của bản thân để giành lấy tri thức. Những tư tưởng đó được
các nhà giáo dục thế hệ sau này tiếp thu và phát triển thành các phương pháp dạy
học tích cực, phát huy tính tích cực, tự chủ của HS [39].
Vào thế kỷ XX, các nhà giáo dục tiếp tục kế thừa và phát triển
những thành tựu trước đó, đã tạo ra một giai đoạn phát triển rực rỡ về lý luận
dạy học. Những nhà giáo dục tên tuổi như X.P.Baranov, T.A.Ilina,
A.N.Leonchiev, A.V. Petrovski, A.M.Machiuskin, Makiguchi, J.G.Pestalozi,
F.Disterver…đã nghiên cứu về vấn đề tự học và đưa ra vấn đề tự học như thế nào;
cách độc lập nghiên cứu khoa học; cách suy nghĩ tìm tòi; cách sáng
tạo; … [44]
N.A. Rubakin (1862-1946) trong tác phẩm "Tự học như thế nào" đã
nhấn mạnh vai trò và thái độ tích cực tự học của học sinh trong việc chiếm lĩnh
tri thức. N.A. Rubakin đã thấy rõ vai trò của yếu tố động cơ trong tự học của
HS. Muốn người học học tập có kết quả thì trong dạy học phải giáo dục con
người có động cơ đúng đắn trong tự học. Ông khẳng định: "Việc giáo dục
động cơ đúng đắn là điều kiện cơ bản để HS tích cực, chủ động trong tự học".
Rubakin kết luận rằng: Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra câu hỏi rồi tự mình tìm
lấy câu trả lời - đó chính là phương pháp tự học. Tuy nhiên, chỉ có động cơ thôi
vẫn chưa đủ mà người học cần phải có kỹ năng tự học thì mới tự học có hiệu quả
[44].
Vào những năm 70 của thế kỷ XX, I.F.Kharlamop khẳng định rằng:

8


tự học đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao tính tích cực nhận
thức và hiệu quả cho hoạt động trí tuệ của SV. Hoạt động tự học diễn ra theo
cách tăng cường nghiên cứu, làm việc với tài liệu học tập, dạy học nêu và giải
quyết vấn đề, cải tiến công tác tự học, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá,
…[45].

Cuốn "Học và dạy cách học" do tác giả Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên là
một trong những cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam viết một cách có hệ thống về việc
"học" và "dạy cách học". Cuốn sách này thực sự là tài liệu bổ ích giúp cho việc
đổi mới phương pháp dạy và học ở Việt Nam, đặc biệt là quá trình dạy tự học.
Tác giả Trịnh Quốc Lập trong bài báo khoa học "Phát triển năng lực tự
học trong hoàn cảnh Việt Nam" (2008) đăng trên tạp chí khoa học Trường
Đại học Cần Thơ đã cho rằng năng lực tự học không chỉ là một
phẩm chất dành cho người học thuộc thế giới phương Tây, về bản chất mà nói,
sinh viên châu Á không phải là không có năng lực tự học; hệ thống giáo dục ở
các nước châu Á chưa tạo đủ điều kiện để sinh viên phát triển năng lực tự học.
Kết quả nghiên cứu của tác giả bài viết này đã chứng minh rằng trong hoàn
cảnh Việt Nam năng lực tự học có thể được phát triển thông qua việc ứng dụng
học tập tự điều chỉnh.
Nhìn chung, các nhà giáo dục đã tập trung nghiên cứu sâu vấn đề tự học
dưới nhiều góc độ khác nhau. Các tác giả đã đưa ra nhiều kỹ năng tự học cho
người học. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về "Phát triển năng
lực tự học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 -1954 cho học sinh
lớp 12 - THPT"
2.2. Tự học môn Ngữ văn
Ngữ văn là một môn học có những đặc trưng riêng nên tự học môn Ngữ
văn cũng có những nét khác biệt. Cuốn "Áp dụng dạy và học tích cực trong môn
Văn học" do nhóm tác giả Trần Bá Hoành, Nguyễn Trí, Cao Đức Tiến,
Nguyễn Trọng Hoàn biên soạn đã nói đến một trong những đặc trưng của
phương pháp dạy học tích cực đó là tự học. Trong bài: "Dạy văn để HS tự

10


học văn", GS Phan Trọng Luận đặt ra yêu cầu và mục tiêu của việc dạy Văn
là dạy HS cách tự học Văn. Trong các luận văn, luận án, bài viết của các tác giả

ngắn "Chí Phèo" của Nam Cao, nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh,
góp phần đổi mới PPDH Ngữ văn ở trường THPT để từ đó nâng cao chất lượng
dạy học Ngữ văn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về tự học và phát triển năng lực tự học.
- Nghiên cứu chương trình truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945
cho HS lớp 11 và khảo sát thực tế dạy học truyện ngắn theo hướng phát triển
năng lực tự học ở THPT.
- Đề xuất những hướng dẫn học sinh tự học nhằm phát triển năng lực tự học
truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945.
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Năng tự học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 của học sinh
lớp 11 THPT.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phần truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 trong chương trình
Ngữ văn 11 và năng lực tự học truyện ngắn của học sinh lớp 11 THPT.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Tìm hiểu các tài liệu, sách báo, văn kiện của Đảng và Nhà nước, nội
dung kiến thức của quá trình học tập cao học, các tài liệu khoa học có liên
quan đến vấn đề nghiên cứu.
5.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: khảo sát bằng phiếu điều tra, phỏng vấn đối với
GV và HS.
- Phương pháp thống kê, phân loại: thống kê, phân loại kết quả khảo sát.

12


quá trình nghiên cứu về tự học, một số tác giả đi đến thống nhất:
có hai phương diện liên quan đến tự học đó là tính cách của người học và
phương pháp học tập. Đặc điểm tính cách hay "tính tự định hướng của người
học" thuộc về bản chất của người học và là những đặc trưng cá nhân cho phép
họ thể hiện "mong muốn chịu trách nhiệm với việc học". Đây là đặc điểm bên trong.
Phương pháp học tập là một đặc điểm bên ngoài nói đến "một quá trình mà trong
đó người học có vai trò chính trong việc lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá
các trải nghiệm" (Brockett 11 & Hiemstra). Với Brockett & Hiemstra, hai
phương diện này có mối quan hệ biện chứng và cùng nhau dẫn đến "tự học".
Từ các quan niệm trên, chúng tôi cho rằng: tự học là một quá trình học
tập độc lập, chủ động, tích cực của người học trong việc chiếm lĩnh tri thức
khoa học, cũng như những kiến thức trong cuộc sống hằng ngày. Nó có thể
được cá nhân người học tiến hành ở trên lớp hay ngoài lớp học.
1.1.1.2. Khái niệm năng lực
Năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh "competentia". Ngày
nay khái niệm năng lực được hiểu nhiều nghĩa khác nhau.

15


Theo TS. Nguyễn Văn Tuấn (ĐHSP kĩ thuật TP Hồ Chí Minh) trong
chuyên đề "Tài liệu học tập về phương pháp dạy học theo hướng tích hợp "
thì : Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố
như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm.
Cấu trúc của năng lực bao gồm: Năng lực chuyên môn (Professional
competency), năng lực phương pháp (Methodical competency), năng lực xã hội
(Social competency), năng lực cá thể (Induvidual competency) và được thể
hiện cụ thể như sau:

PGS.TS. Đỗ Ngọc Thống trong bài "Đổi mới đánh giá kết quả học tập

học ho s nh ên
học Sư phạ
qua điể
sư phạm ttương tác" đã cho rằng: kĩ năng tự học là khả năng thực hiện có kết
ph
ương
đã cho
kĩ năn
nă thực hiện
kế
quả hoạt động tự học đúng như những hiểu biết về hoạt động tự học và về kĩ
hoạ
học đúng
hững
biết
hoạt độn


năng tự học mà người học đã được lĩnh hội trong hoạt động dạy học.[16
ng học
học đã
lĩnh
hoạt
dạ học
Qua nghiên cứu, chúng tôii cho rằng: Kĩ năng tự học là khả năng thực
Qua
cứu húng ô ch rằng
hiện có kết quả một hay một nhóm hành động tự học bằng cách vận dụng
những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều
kiện cho phép.

huống khác nhau. Như vậy năng lực là sức mạnh tổng hợp của kiến thức, kĩ
năng và thái độ trong đó thái độ sẽ đưa ra những cam kết thực hiện và quyết
định kết quả công việc, kĩ năng cần có để cam kết công việc sẽ được thực hiện,
kiến thức sẽ quyết định đến quá trình thực hiện và kết quả công việc đạt được
trong một tình huống cụ thể.
Những nghiên cứu trên cho thấy: năng lực và kĩ năng có mối liên hệ mật
thiết với nhau, mang tính chất cấu thành và kĩ năng là một yếu tố cơ bản, quan
trọng cấu thành nên năng lực. Muốn phát triển năng lực cần dựa trên cơ sở phát
triển các thành phần như kiến thức, kĩ năng, thái độ…, huy động tổng hợp các
thành phần trong những tình huống đa dạng. Để có thể tự học, người học phải
nắm được những tri thức về hành động, phải vận dụng những tri thức

18


đó để tiến hành các hành động nhằm thu được những kết quả phù hợp với mục
đích. Nói cách khác, người học phải có kĩ năng tự học phù hợp với môn học.
Những kĩ năng tự học này, cùng với các thành phần khác sẽ góp phần hình
thành và phát triển năng lực tự học ở người
1.1.2. Các hình thức tự học
Xét về phạm vi diễn ra quá trình tự học, có thể chia hình thức tự học
làm hai loại:
- Tự học trong các cơ sở giáo dục: là hình thức tự học của người học
diễn ra trong các cơ sở giáo dục có sự hướng dẫn, tổ chức của thầy theo kế
hoạch giáo dục đã định sẵn.
- Tự học trong cuộc sống: là hình thức tự học được tiến hành ở bên ngoài
các cơ sở giáo dục, diễn ra bất cứ lúc nào, với bất cứ ai có nhu cầu học tập.
Xét về mức độ và cách thức tự học có hai hình thức tự học sau:
- Tự học hoàn toàn: là hình thức tự nghiên cứu của các nhà khoa học,
được tiến hành dựa trên nền tảng vốn tri thức sâu rộng cùng niềm khát khao, say


Tự kiểm tra
Tự thể hiện
3
Trọng tài

Sơ đồ 1.1. Chu trình dạy - tự học (theo sách: Quá trình dạy - tự học, tr.162)
Trong sơ đồ trên: Hình tròn bên trong tương ứng với nội lực - năng
lực tự học của trò theo 3 thời: Tự nghiên cứu  tự thể hiện  tự kiểm tra, tự
điều chỉnh.
Hình tròn ở giữa tượng trưng cho ngoại lực - tác động dạy của thầy,
cùng với 3 thời tương ứng của quá trình dạy:
Hướng dẫn - tổ chức - trọng tài - cố vấn, kết luận, kiểm tra.
Các mũi tên trong sơ đồ ở vào từng thời đều xuất phát từ cực "thầy";
sáng kiến điều hành chung cả chu trình dạy - tự học đều thuộc về thầy: Thầy là
người khởi xướng, người dẫn chương trình tự học của trò.
Chu trình là một quá trình khép kín, cho nên quá trình dạy - tự học - một tập
hợp các chu trình - dạy - tự học - có thể xem là quá trình người dạy hướng

20


dẫn, tổ chức cho người học "tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự kiểm tra, tự điều
chỉnh", tự chiếm lĩnh tri thức bằng hành động của chính mình.
Quá trình dạy - tự học cũng là quá trình dạy cộng hưởng với tự học , dạy
học vừa sức tự phát triển vươn lên của người học, tạo ra chất lượng, hiệu quả giáo
dục cao.
Đó là một cuộc "hành trình nội tại" phát triển ở mỗi người học năng lực và
thói quen tự học suốt đời "để biết ", "để làm", "để cùng chung sống" và "để
tự khẳng định mình"

trình tự các thao tác sau:

1. Giới thiệu vấn đề (mục tiêu, ý 1. Nhận biết, phát hiện vấn đề
nghĩa, định hướng)
thông tin

3. Thu thập thông tin

3. Hướng dẫn cách xử lí thông tin

4. Xử lí thông tin

4. Hướng dẫn cách giải quyết vấn 5. Xây dựng các giải pháp
giải quyết

5. Tạo điều kiện thuận lợi cho trò 6. Thử nghiệm các giải pháp,
nghiên cứu.

- Có thể có

2.Định hướng giải quyết vấn sai sót

2. Hướng dẫn cách thu nhận đề

đề

cá nhân

kết quả
7. Đưa ra kết luận

hơn
phẩm

bảo vệ sản phẩm ban đầu của ban đầu

2. Hướng dẫn trò trình bày bảo vệ mình.
sản phẩm.

2. Tỏ rõ thái độ của mình

3. Điều khiển cuộc tranh luận của trước chủ kiến của bạn
trò theo đúng mục tiêu.

3. Tự ghi lại ý kiến của các 4.

Kết luận cuộc tranh luận.

bạn theo nhận thức của mình.

Thời 3

Cố vấn

Hợp tác với thầy, học thầy, Tri
tự kiểm tra, tự điều chỉnh

Từ chỗ đưa ra kết luận để khẳng Trong lúc học thầy, HS cũng mới
định về mặt khoa học kiến thức không thụ động nghe thầy kết do
người học tự tìm ra, thầy trở luận mà tích cực học thầy thành người
cố vấn, kiểm tra, bằng hành động của chính đánh giá kết quả tự học

khoa

học


Như vậy, rõ ràng quá trình tự học của HS trong nhà trường không thể
thiếu vai trò hướng dẫn, tổ chức, cố vấn của người thầy. Và luôn có sự kết hợp
hữu cơ giữa quy trình dạy - tự học của thầy với quy trình tự học của trò qua
từng thời để cho người học tự mình chiếm lĩnh tri thức.
Xem xét quy trình 3 thời chúng ta thấy: thời nào cũng có vai trò và hoạt
động của thầy và trò. Song ở thời 1 nổi lên vai trò lao động cá nhân của HS với
kết quả là sản phẩm ban đầu; ở thời 2 là vai trò của cộng đồng các chủ thể - lớp
học; ở thời 3 nổi bật vai trò của thầy với những kết luận khoa học tạo điều kiện
cho cá nhân HS tự đánh giá, điều chỉnh. Quy trình trên cũng cho thấy rõ một
điều: cả 3 thời đều diễn ra hành động học, tự học tích cực, chủ động của chủ thể
HS dưới sự hướng dẫn của GV. Có thể cho rằng, thời 2 và 3 là sự tiếp tục lao
động cá nhân ở thời 1 dưới hình thức lao động khác là lao
động hợp tác với bạn và thầy để tự điều chỉnh sản phẩm ban đầu thành một sản
phẩm khoa học, tiến bộ hơn.
1.1.4. Các biểu hiện của năng lực tự học của học sinh
Năng lực tự học của học sinh là khả năng độc lập thực hiện hoạt động
học tập, nghiên cứu, đồng hóa các tri thức học tập từ môi trường thành của
chính mình với chất lượng cao. Các biểu hiện năng lực tự học của học sinh
bao gồm:
a. Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề
Năng lực này đòi hỏi học sinh phải quan sát, phân tích, tổng hợp, so
sánh, suy luận, khái quát hóa các tài liệu, kiến thức, suy xét từ nhiều góc độ, có
hệ thống trên cơ sở những tri thức, kinh nghiệm cá nhân; phát hiện ra các khó
khăn, thách thức, mâu thuẫn, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, cần bổ
sung và phát hiện các bế tắc, nghịch lí cần khai thông, làm sáng tỏ,... Trong dạy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status