Hình thành và phát triển năng lực tự học cho sinh viên ngành toán hệ cao đẳng sư phạm - Pdf 14

PHẦN MỞ ðẦU
I. Lý do chọn ñề tài
Nghị quyết Hội nghị lần thứ II, BCH Trung ương ðảng Cộng sản Việt Nam, khoá
VIII, chỉ rõ: "ðổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - ñào tạo, khắc phục lối truyền
thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng
các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện ñại vào quá trình dạy học, bảo ñảm
ñiều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên ñại học…".
ðiều 40, Luật Giáo dục nước CHXHCN Việt Nam công bố ngày 27 tháng 6 năm
2005, ghi rõ: "Phương pháp ñào tạo trình ñộ cao ñẳng, trình ñộ ñại học phải coi trọng
việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển
tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo ñiều kiện cho người học tham gia
nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng" [2, tr. 32].
Chỉ thị 15/1999/CT- BGD & ðT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục - ðào tạo về việc
ñẩy mạnh hoạt ñộng ñổi mới phương pháp giảng dạy và học tập trong các trường sư
phạm nhấn mạnh: "ðổi mới phương pháp giảng dạy và học tập trong trường sư phạm
nhằm tích cực hoá hoạt ñộng học tập, phát huy tính chủ ñộng, sáng tạo và năng lực tự
học, tự nghiên cứu của học sinh, sinh viên…".
Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 (theo Quyết ñịnh số 201/2001/ Qð- TTg),
tại mục 5.2 ghi rõ: "ðổi mới và hiện ñại hoá phương pháp giáo dục. Chuyển từ việc truyền
ñạt tri thức thụ ñộng, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ ñộng tư duy trong
quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một
cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triển ñược năng lực của mỗi cá nhân;
tăng cường tính chủ ñộng, tính tự chủ của học sinh, sinh viên trong quá trình học tập, "
HðHT của SV ở các trường ñại học và cao ñẳng ngày nay ñược diễn ra trong những
ñiều kiện hết sức mới mẻ. Sự hình thành xã hội thông tin trong nền kinh tế tri thức ñang
tạo ñiều kiện nhưng ñồng thời gây sức ép lớn ñối với người học, ñòi hỏi SV phải có sự
thay ñổi lớn trong việc ñịnh hướng, lựa chọn thông tin cũng như phương pháp tiếp nhận,
2

xử lý, lưu trữ thông tin. Trong hoàn cảnh ấy, tri thức mà SV tiếp nhận ñược thông qua bài
giảng của GV trên lớp trở nên ít ỏi. Sinh viên ñang có xu hướng vượt ra khỏi bài giảng ở

cao chất lượng dạy học Toán và ðTGV Toán bậc THCS.
III. ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
ðối tượng nghiên cứu là lý luận dạy học Toán hệ Cao ñẳng sư phạm, NLTH của
SV ngành toán hệ CðSP. Phạm vi nghiên cứu là SV ngành Toán ở các trường CðSP
vùng ñồng bằng sông Cửu Long qua dạy học một số môn chuyên ngành
IV. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng ñược một số biện pháp rèn luyện kỹ năng tự học, tự nghiên cứu cho
SV và xây dựng quy trình lên lớp nhằm hình thành và phát triển ñược năng lực tự học,
tự nghiên cứu cho SV ngành Toán hệ CðSP thì sẽ tạo ñược thói quen tự học, tự nghiên
cứu cho họ trong suốt QTHT và sẽ nâng cao chất lượng ðTGV Toán THCS.
V. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu lý luận dạy học ñại học liên quan ñến việc hình thành và phát
triển năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên ngành Toán hệ CðSP.
5.2. Nghiên cứu mục tiêu và nhiệm vụ ñào tạo giáo viên Toán bậc THCS ñáp ứng
các yêu cầu về ñào tạo nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện ñại hóa ñất nước
và phục vụ cho việc ñổi mới chương trình và sách giáo khoa hiện nay
5.3. Tìm hiểu thực trạng về dạy – tự học môn Toán, phương pháp dạy học Toán,
thực hành sư phạm Toán trong các trường CðSP vùng ñồng bằng sông Cửu Long
5.4. Xây dựng một số biện pháp rèn luyện kỹ năng tự học, tự nghiên cứu cho sinh
viên ngành Toán hệ CðSP, trong ñó quan tâm ñến sự hỗ trợ của máy vi tính
5.5. Xây dựng quy trình lên lớp nhằm hình thành phát triển năng lực tự học, tự
nghiên cứu cho sinh viên ngành Toán hệ CðSP
5.6. Tiến hành thực nghiệm sư phạm
VI. Phương pháp nghiên cứu
4

6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:Nghiên cứu các văn kiện, nghị quyết của
ðảng và Nhà nước; Nghiên cứu tài liệu về tâm lý học, lý luận dạy học ñại học, lý luận
dạy học Toán liên quan ñến vấn ñề nghiên cứu
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát, ñiều tra (cán bộ quản lý, GV,

cực chủ ñộng, sáng tạo của GV Toán và SV Toán trong trường CðSP.
IX. Cấu trúc của luận án Ngoài phần mở ñầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận án có 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
1.1. Những nghiên cứu về tự học
1.2. Hoạt ñộng học và bản chất của hoạt ñộng học

1.3. Tự học, một trong những yếu tố quyết ñịnh chất lượng ñào tạo
1.4. ðộng cơ tự học quyết ñịnh kết quả học tập của sinh viên
1.5. Những yếu tố tâm lí khác của hoạt ñộng học
1.6. Quá trình Dạy – Tự học
1.7. Một số quan ñiểm dạy học Toán trong ñào tạo giáo viên Toán THCS
1.8. Năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên Toán hệ CðSP
Kết luận chương 1
Chương 2: Một số biện pháp góp phần hình thành và phát triển NLTH cho SV Toán hệ CðSP
2.1. ðịnh hướng xây dựng và thực hiện các biện pháp
2.2. Một số biện pháp góp phần hình thành và phát triển NLTH cho SV Toán CðSP
Kết luận chương 2
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
3.1. Mục ñích thực nghiệm
3.2. Tổ chức và nội dung thực nghiệm
3.3. ðánh giá kết quả thực nghiệm
3.4. Kết luận chương 3
KẾT LUẬN

6

Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO SINH VIÊN NGÀNH TOÁN HỆ CðSP
1.1. Những nghiên cứu về tự học

trong công tác dạy học ở trường ðại học và ñưa ra một số ñề nghị về cách học có hiệu quả của
SV.
1.1.4. Phong trào “Nhà trường mới” ñầu thế kỷ XX ñề cao sự hoạt ñộng tích cực của
học sinh, khuyến khích học sinh tự xếp thời gian học theo khả năng, tự học lấy cho mình,
tự mình thấy trách nhiệm trước việc học tập. Trong dạy học ñã tiến hành phân hoá, coi
trọng cá thể hoá, họ chủ trương ñể cho trẻ hoàn toàn tự do, phát triển trong từng trẻ em
những năng khiếu riêng biệt. Những tư tưởng này ñược nhiều nhà Tâm lý, Giáo dục học
ñề cập ñến như O.Decroly, C.Freinel, J. Piagiet, B.F. Skinner …
1.1.5. Những năm cuối thế kỷ XX giáo dục toàn cầu càng nhấn mạnh ñến giáo dục
lấy học sinh làm trung tâm, coi trọng tự học, tự ñào tạo. Quan niệm mới về “học tập suốt
ñời: một ñộng lực xã hội” sẽ giúp con người ñáp ứng những yêu cầu thế giới thay ñổi
nhanh chóng. ðiều này thể hiện những ñòi hỏi chẳng những có thật mà còn ñang ngày
càng mãnh liệt.“Không thể thỏa mãn những ñòi hỏi ñó ñược, nếu mỗi con người không
học cách học”. Học cách học chính là học cách tự học, tự ñào tạo.
1.1.6. Ở Việt Nam, vấn ñề tự học cũng ñã có từ xa xưa. Thời phong kiến, thầy ñồ
dạy học thường kèm cặp một nhóm học nhiều ñối tượng có trình ñộ khác nhau. Các
thầy phải chú ý trình ñộ, ñặc ñiểm tính cách từng ñối tượng và có biện pháp dạy thích
hợp. Người học tự học thông qua hình thức có thầy trực tiếp hoặc gián tiếp.
Từ những năm 1945 trở về sau này, ðảng và Nhà nước ta ñã rất coi trọng phát triển
giáo dục thường xuyên, các lớp Bổ túc văn hoá, ñại học tại chức, vừa làm vừa học, mở ra
chủ yếu dựa vào hình thức tự học là chính. Từ sau những năm 1970, với tinh thần “Biến quá
trình ñào tạo thành quá trình tự ñào tạo”, ở các trường Cao ñẳng, ðại học ñã có nhiều
chuyển biến tích cực trong việc tăng cường các hoạt ñộng tự học của SV. Nhiều hội nghị
khoa học về ñổi mới PPDH, các ñề tài NCKH, các bài báo khoa học ñược công bố xoay
8

quanh vấn ñề nâng cao chất lượng và hiệu quả ñào tạo ở ñại học, trong ñó vấn ñề tự học, tự
nghiên cứu của SV rất ñược coi trọng. Qua các tài liệu ñã công bố, chúng ta có thể thấy tiêu
biểu là: Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Lê Khánh Bằng, Phạm Văn Hoàn,
Nguyễn Bá Kim, Trần Kiều, Phạm Gia ðức, Trần Thúc Trình, Hoàng Chúng, Bùi Tường,…

1.2.3. HðH ñược xác ñịnh là quá trình người học kiến tạo, xây dựng tri thức. “Người học tự
xây dựng những cấu trúc trí tuệ riêng cho mình về những tài liệu học tập, lựa chọn những
thông tin phù hợp, giải nghĩa thông tin dựa trên vốn kiến thức ñã có và nhu cầu hiện tại, bổ
sung thêm những thông tin cần thiết ñể tìm ra ý nghĩa của tài liệu mới" [107, tr. 296]. Lí thuyết
kiến tạo quan tâm ñến những ñặc ñiểm tâm lí bên trong của người học và việc thể hiện nó,
những yếu tố ñược xem là quan trọng hơn những yếu tố tác ñộng từ môi trường.
1.2.4. Lí thuyết thông tin cho rằng loài người thường xuyên xử lí thông tin. HðH ñược
xem là quá trình xử lí thông tin. Người học ñóng vai trò là người tiếp nhận thông tin
ñược ñưa ñến và xử lí nó. Từ ñó, giáo trình và tài liệu tham khảo, các nguồn cung cấp
thông tin ñóng vai trò rất quan trọng trong quá trình học tập.
1.2.5 Tâm lí học xã hội - văn hóa nhấn mạnh vai trò của hoạt ñộng xã hội và văn hóa ñối
với học. Trước hết, HðH thực chất là quá trình SV tham gia vào các hoạt ñộng xã hội −
văn hóa ñược GV tổ chức. Vì vậy, chất lượng HðH của SV phụ thuộc vào chất lượng tổ
chức các hoạt ñộng xã hội ñó. HðH là quá trình SV tự khám phá môi trường trong quá
trình hợp tác. GV và SV cùng hoạt ñộng liên tục và tác ñộng qua lại lẫn nhau ñể cùng kiến
tạo tri thức cho SV. Trong quá trình ñó, ban ñầu người học bắt chước những phương thức
hành ñộng ñã ñược nền văn hoá chấp nhận với sự giúp ñỡ của GV và những SV có khả
năng cao hơn. Sau ñó sự giúp ñỡ ñược rút dần ñể SV có thể tự thực hiện những phương
thức ñó và dần dần nội tâm hoá chúng. Như vậy, HðH chính là quá trình SV chiếm lĩnh
những phương thức hoạt ñộng ñã tồn tại trong một nền văn hóa nhất ñịnh qua việc tham
gia vào những hoạt ñộng xã hội - văn hóa ñược GV tổ chức.
Vưgôtxki ñã phân biệt việc học trong cuộc sống hàng ngày và HðH xảy ra trong nhà
trường. Việc phân biệt này ñã có ý nghĩa cực kỳ to lớn ñối với tự học. HðH ñược coi là một
hoạt ñộng ñặc biệt, chú trọng ñến sự thay ñổi của chính bản thân mỗi sinh viên. HðH xảy ra
một cách có chủ ñịnh, có mục ñích và không là yếu tố bổ sung cho bất kỳ một hoạt ñộng chủ
10

ñạo nào khác. HðH có chủ ñịnh có bốn ñặc ñiểm cơ bản, ñó là: có ñối tượng là tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo tương ứng; nhằm phát triển trí tuệ, năng lực người học, làm thay ñổi bản thân
người học; có tính chất tái tạo và nhằm tiếp thu cả phương pháp chiếm lĩnh tri thức; ñược

chịu ảnh hưởng của những người khác trong giao lưu. Văn hoá và xã hội tác ñộng ñến
việc SV tư duy như thế nào, học cái gì. Các chức năng tâm lí cấp cao ñều là những mối
quan hệ xã hội ñã ñược nội tâm hoá. Việc học, tư duy và tri thức ñều có ñược từ sự hợp
tác, NLTH ñược phát triển cao trong cách học hợp tác với những người khác
1.2.6. Ngày nay ở phương Tây, tâm lí học xã hội - văn hoá hay tâm lí học xã hội - lịch sử mà
Vưgôtxki là một ñại biểu xuất sắc ñược phát triển thành một trong ba hệ thống quan ñiểm
chính nghiên cứu về tri thức và việc học, với tên gọi là xu hướng hoàn cảnh (situated
perspective) bên cạnh thuyết hành vi và tâm lí học nhận thức (Greeno và Collin, 1996). Xu
hướng này cho rằng, tri thức là kết quả của kiến tạo xã hội, là kết quả của sự tác ñộng qua lại
giữa cá nhân với môi trường. Sự hiểu biết là một ñặc trưng của nhóm gồm những người
cùng tham gia hoạt ñộng và của cá nhân người tham gia trong cộng ñồng. Nhóm hoặc cá
nhân có tri thức sẽ có thể hoà hợp với những ñiều kiện của hoạt ñộng bao gồm các qui ñịnh
và sự ủng hộ của xã hội và hệ thống vật chất, kỹ thuật của môi trường. Như vậy, việc học là
hoạt ñộng tạo nên sự hoà hợp với những qui ñịnh và sự ủng hộ ñó của hệ thống vật chất và
xã hội mà con người có quan hệ tác ñộng qua lại.
1.2.7. Lý thuyết hoạt ñộng của A.N.Lêonchiev là một trong những cơ sở của thuyết
HðHT có mục ñích. Ông cho rằng: "Cuộc sống hay hoạt ñộng nói chung không phải
ñược hình thành một cách máy móc từ các loại hoạt ñộng riêng lẻ. Một loại hoạt ñộng
này trong một giai ñoạn nào ñó là chủ ñạo và có ý nghĩa to lớn ñối với sự phát triển tiếp
theo của nhân cách, còn những hoạt ñộng khác là phụ. Bởi vậy cần phải nói ñến sự phụ
thuộc của sự phát triển tâm lý không phải vào hoạt ñộng nói chung, mà là vào hoạt ñộng
chủ ñạo" [60]. HðHT có mục ñích ñược hướng vào không phải việc thu nhận những kết
quả vật chất, mà trực tiếp làm biến ñổi phát triển người học.
ðể nắm ñược tri thức, kỹ năng, kỹ xảo SV có hai cách học, vì thế có 2 dạng HðH khác
nhau. Một cách ñược hướng ñặc biệt vào việc nắm các khái niệm và kỹ năng mới, xem ñó là
mục ñích trực tiếp. Còn cách kia thì dẫn ñến việc nắm các tri thức và kỹ năng ñó trong khi
thực hiện các mục ñích khác. Học, trong trường hợp sau không là một hoạt ñộng ñộc lập, mà
12

là một quá trình ñược thực hiện như là một thành phần và kết quả của hoạt ñộng mà thành

quá trình những chuyển ñổi bên ngoài, nội lực là quá trình những chuyển ñổi bên trong
của người học, hai quá trình này thống nhất và ñối lập nhau tạo nên sự phát triển của tự
học. Chất lượng ñào tạo cao nhất khi dạy học - ngoại lực cộng hưởng với tự học - nội
lực, tạo ra NLTH sáng tạo của người học. [9]; [76]
1.3.2. Các nhà Tâm lý học ñã chứng minh rằng năng lực của mỗi cá nhân ñược hình
thành và phát triển chủ yếu trong quá trình hoạt ñộng và giao lưu của con người. Con
ñường tối ưu nhất, có hiệu quả nhất ñể nâng cao CLðT và ñạt ñược mục tiêu giáo dục –
ñào tạo là: học bằng hoạt ñộng tự học, tự nghiên cứu của SV, thông qua chính bằng
hoạt ñộng tự lực chiếm lĩnh kiến thức, mà hình thành năng lực và thái ñộ cho SV.
1.3.3. Hội ñồng quốc tế Jacques Delors về giáo dục cho thế kỷ XXI trong báo cáo “Học
tập, một kho báu tiềm ẩn”(1996) gửi UNESCO, khẳng ñịnh xu thế lớn toàn cầu hóa, kéo
theo hành loạt căng thẳng cần phải khắc phục. Báo cáo này ñã nêu: Học suốt ñời là một
trong những chìa khoá nhằm vượt qua những thách thức của thế kỷ XXI, với ñề nghị gắn
nó với 4 trụ cột giáo dục: học ñể biết, học ñể làm, học ñể chung sống và học ñể làm người,
hướng về xây dựng một xã hội học tập. Quan niệm mới “học tập suốt ñời: một ñộng lực
xã hội” sẽ giúp con người ñáp ứng những yêu cầu thế giới tthay ñổi nhanh chóng. ðiều
này thể hiện những ñòi hỏi chẳng những có thật mà còn ñang ngày càng mãnh liệt hơn.
“Không thể thỏa mãn những ñòi hỏi ñó ñược, nếu mỗi con người không học cách học”.
Học cách học chính là học cách tự học.
1.3.4. HðHT của SV là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức khoa học, nghề
nghiệp bằng hành ñộng của chính mình hướng tới ñể ñạt những mục ñích nhất ñịnh. Vì vậy,
quá trình tổ chức ñào tạo phải làm cho HðH của SV thực sự chủ ñộng trong học tập, mà cụ thể
là tăng cường nhiều hơn quá trình tự học, tự nghiên cứu của SV. HðHT của SV diễn ra trong
ñiều kiện có kế hoạch, nội dung chương trình ñào tạo, mục tiêu, phương thức ñào tạo, thời
gian ñào tạo ñã ñược xác ñịnh. Trong hình thức dạy học tập trung, người GV trực tiếp tổ chức
và hướng dẫn quá trình nhận thức của SV, còn SV ñóng vai trò chủ thể nhận thức, tích cực huy
ñộng mọi phẩm chất tâm lý cá nhân của mình ñể tiến hành HðHT nhằm chiếm lĩnh tri thức,
hình thành kỹ năng và thái ñộ. Nếu SV thụ ñộng, không có sự vận ñộng tích cực các thao tác
14



Những nghiên cứu về ðCHT của SV cho thấy các nhóm ñộng cơ trên có tác dụng
thúc ñẩy học tập của SV có tình trạng thứ bậc các ñộng cơ ưu thế, có thể xếp như sau:
ðộng cơ nhận thức khoa học xếp ở vị trí thứ nhất; ðộng cơ nghề nghiệp xếp ở vị trí thứ
hai; ðộng cơ xã hội ở vị trí thứ ba; ðộng cơ tự khẳng ñịnh ở vị trí thứ tư; ðộng cơ vụ
lợi ở vị trí thứ năm. Các vị trí nêu trên không cố ñịnh, chúng biến ñổi trong quá trình
học tập, trong từng SV. Hoạt ñộng tự học của SV cũng như các hoạt ñộng khác, ñược
thúc ñẩy bởi hệ thống ðCHT nói chung và ñộng cơ tự học nói riêng. ðộng cơ tự học
của SV cũng có nhiều cấp ñộ khác nhau, bắt ñầu là sự thoả mãn nhu cầu phải hoàn
thành NVHT, tự khẳng ñịnh mình, ý thức nhu cầu xã hội, mong muốn thành thạo nghề
nghiệp , cho tới cấp ñộ cao là thoả mãn nhu cầu hiểu biết, lòng khao khát tri thức, và
ñược nảy sinh trong mối quan hệ với ñối tượng tự học.
1.4.4. “ðộng cơ là ñối tượng (vật chất hay tinh thần), mà chủ thể cần chiếm lĩnh thông
qua hoạt ñộng, nhằm thoả mãn một nhu cầu ñược vật hoá trong ñối tượng ñó” [60, tr.
589]. Vì thế, “ñộng cơ tâm lý không phải là cái thuần tuý tinh thần ở bên trong cá thể.
Nó phải ñược vật thể hoá ở ñối tượng của hoạt ñộng, ñiều ñó có nghĩa là ñộng cơ phải
có một hình thức tồn tại vật chất, hiện thực ở bên ngoài. Với ý nghĩa ñó, ñối tượng của
hoạt ñộng chính là nơi hiện thân của ñộng cơ hoạt ñộng ấy” [60]. ðCHT bên ngoài
ñược các nhà hành vi học rất quan tâm, vì việc hình thành ðCHT là những củng cố,
xây dựng của môi trường có tác dụng thúc ñẩy SV học ñể hình thành những phản ứng
phù hợp với nhận thức, tình cảm của cá nhân. ðây là quá trình chuyển hoá ngoại
lực thành nội lực, tức là quá trình chuyển vào bên trong của toàn bộ các yếu tố của cơ
chế, môi trường, ñiều kiện, phương tiện có liên quan ñến tự học thành ñộng cơ cá
nhân. Sự nảy sinh ðCHT lúc ñầu xuất phát từ ý thức trách nhiệm phải hoàn thành
nhiệm vụ tự học ñã thúc ñẩy Hoạt ñộng tự học của sinh viên.
Tâm lí học nhận thức cho rằng ðCHT chủ yếu của người học nằm ở trong bản
thân mỗi người và xuất phát từ chính HðH. ðược tham gia thực hiện NVHT, hy vọng
khám phá những cái mới, sự cố gắng ñể hiểu và giải quyết những vấn ñề nhất ñịnh,
mong muốn tiến bộ trong học tập hay cảm giác thỏa mãn khi lấy lại ñược sự cân bằng
trong nhận thức (theo Piaget) ñều là những ðCHT bên trong. ðCHT bên trong có nhiều

bên ngoài, phù hợp với nhận thức, tình cảm của mỗi cá nhân. ðCHT của SV cũng vậy, nó ñược
17

hình thành bởi sự tác ñộng của các yếu tố bên ngoài như: thích ñược khen thưởng, do tự ái với
bạn bè, ñồng nghiệp, do sự mâu thuẫn giữa nghề nghiệp với trình ñộ bản thân, thoả mãn nhu cầu
hiểu biết, lòng khao khát tri thức, Chẳng hạn, ngày nay CNTT phát triển nhanh chóng, giáo dục
nhà trường không còn là nguồn thông tin duy nhất ñem ñến cho người học những kiến thức mới
mẻ của loài người. Người giáo viên không thể chỉ “phát thanh” sách giáo khoa mà phải có năng
lực lựa chọn các kiến thức cơ bản, hiện ñại, thực tiễn phù hợp với mục tiêu giáo dục của bậc
học, biết chuyển tải những kiến thức ñó tới học sinh với mức hấp dẫn cao. ðiều này có ñược khi
người giáo viên biết tự học ñể nâng cao trình ñộ của mình. Trong thời ñại mà khoa học kỹ thuật
phát triển cực kỳ nhanh chóng, nhà trường dù có hiện ñại, tốt ñến mấy cũng không ñáp ứng
ñược nhu cầu ña dạng và ñang phát triển của cuộc sống. Cho nên, chỉ có tự học, tự bồi dưỡng
của mỗi người mới có thể cập nhật ñược những kiến thức mới trong sự thay ñổi ñể thích ứng với
những yêu cầu cuộc sống ñang phát triển. Như vậy, ðCTH của SV hình thành từ những yêu cầu
bức thiết do cuộc sống, yêu cầu nghề nghiệp tương lai của SV ñặt ra, do ñó nó là nội lực quyết
ñịnh hiệu quả QTHT. Khi ñộng cơ ñủ mạnh, người SV sẽ tự mình chủ ñộng lựa chọn các hình
thức học tập, cách học thích hợp ñể QTHT có hiệu quả. Khi SV biết chủ ñộng lựa chọn tức là họ
có trách nhiệm với quyết ñịnh của mình trong tự học.
Trong quá trình tự học, việc chiếm lĩnh ñược tri thức sẽ nâng tầm hiểu biết và năng
lực của SV, tăng cường khả năng thích ứng của SV do ñó làm nảy sinh tiếp ham muốn
nâng cao hiểu biết, ðCHT ñược củng cố và nâng lên mức ñộ cao hơn.
1.4.7. Như vậy, ðCHT chỉ có thể nảy sinh một cách có ý thức trong từng cá nhân và nhờ
có tác ñộng phù hợp từ bên ngoài và chỉ có thể nâng cao khi QTTH có hiệu quả. Tiếp ñó,
bằng sự thôi thúc của ðCHT cụ thể, với hướng dẫn của GV, SV tiến hành các hoạt ñộng tự
học ñể thực hiện mục tiêu, hoàn hành các NVHT, từ ñó hình thành và phát triển NLTH, tự
nghiên cứu. Qua việc giải quyết từng nhiệm vụ tự học cụ thể, SV ñạt ñược các mục tiêu
học tập ñơn lẻ, bộ phận và dần dần chiếm lĩnh ñược toàn bộ ñối tượng học. Khi giải quyết
các nhiệm vụ tự học, mục tiêu tự học xuất hiện dưới hình thức một biểu tượng chung về sự
hoàn thành nhiệm vụ ñó. Cũng chính vì vậy mà sau khi SV tiến hành những hành ñộng tự

một số lượng tương ñối nhỏ thông tin trong một thời gian ngắn, thường khoảng 30 giây.
19

Trí nhớ dài hạn có thể lưu giữ phần lớn thông tin và trong thời gian dài. Những hệ thống
trí nhớ khác nhau này có dung lượng khác nhau, có thể chứa ñựng những loại thông tin
khác nhau và có chế ñộ quên khác nhau. Theo Atkinson và Shiffrin (1968) thì thông tin
ñược chuyển lần lượt từ trí nhớ cảm giác sang trí nhớ ngắn hạn nếu con người chú ý ñến
nó, sau ñó ñược chuyển từ trí nhớ ngắn hạn sang trí nhớ dài hạn nếu ñược ôn tập hoặc xử
lý kỹ hơn. Tuy nhiên, thông tin ñược xử lý trong trí nhớ theo nhiều cách thức khác nhau,
và có thể cùng một lúc tại nhiều hệ thống khác nhau, chứ không xử lý theo ñường thẳng,
qua từng bước nhất ñịnh như kiểu thực hiện của máy vi tính.
Ghi nhớ giữ vị trí ñặc biệt quan trọng trong các quá trình của trí nhớ, vì chất lượng của
quá trình ghi nhớ sẽ tác ñộng ñến việc những thông tin thu nhận có ñược giữ gìn lâu trong trí
nhớ và có ñược tái hiện dễ dàng hay không. Chính vì vậy Weinstein và Mayer (1986) cho
rằng ghi nhớ là một trong những yếu tố ñặc biệt quan trọng trong QTDH. Quá trình ghi nhớ có
thể chia làm bốn quá trình chính (Cook và Mayer,1983): lựa chọn thông tin, tiếp thu thông tin,
xây dựng mối liên hệ bên trong và quá trình hợp nhất. Quá trình lựa chọn là quá trình người
học chú ý một cách tích cực ñến một số thông tin ñang tác ñộng lên các giác quan của mình và
chuyển chúng vào trí nhớ làm việc (working memory). Quá trình tiếp thu là quá trình người
học sẽ chủ ñộng chuyển những thông tin nói trên từ trí nhớ làm việc vào trí nhớ dài hạn ñể lưu
giữ chúng lâu dài. Tiếp ñến, là quá trình chủ ñộng xây dựng những mối liên hệ bên trong giữa
các thông tin mới, ví dụ phát triển hệ thống dàn bài hoặc cấu trúc trí tuệ ñể giữ những thông tin
ñó liên kết với nhau. Quá trình hợp nhất là quá trình người học tìm kiếm những kiến thức ñã
có từ trước ở trong trí nhớ dài hạn và chuyển nó vào trí nhớ làm việc, sau ñó xây dựng những
mối liên hệ bên ngoài giữa những thông tin mới thu nhận với những tri thức ñã có. Quá trình
chọn lọc và tiếp thu thông tin là những quá trình nhận thức quyết ñịnh số lượng thông tin SV
sẽ học. Trong khi ñó, quá trình xây dựng mối liên hệ bên trong và bên ngoài sẽ quyết ñịnh tính
hợp lí về cấu trúc của tri thức mà SV thu nhận ñược.
Những phương pháp học khác nhau thường hướng ñến những thành phần khác
nhau trong quá trình ghi nhớ. Tâm lí học hiện ñại ñã chứng minh rằng nếu người học

ứng yêu cầu nhận thức thế giới và bản thân con người, ñảm bảo cho hành ñộng sáng
tạo của mình” [54, tr. 48]. Năng lực tư duy là khả năng phản ánh, phát hiện tri thức,
21

biến tri thức thành phương pháp và sử dụng thành thạo chúng ñể tiếp tục nhận thức bản
chất, quy luật, xu hướng tất yếu của sự vật, và vận dụng ñúng ñắn các quy luật ñó vào
thực tiễn. Năng lực tư duy chính là năng lực trí tuệ với hai mức ñộ: Năng lực tư duy
logic (hình thức và biện chứng) và năng lực trực giác tinh thần.
1.5.3.2. Những ñiều kiện ảnh hưởng ñến năng lực tư duy Thứ nhất, năng lực tư duy phụ
thuộc vào ñặc tính bẩm sinh do cấu tạo của hệ thần kinh trung ương, tâm sinh lý ở từng
người; Thứ hai, năng lực tư duy phụ thuộc vào phương thức sản xuất, môi trường văn hoá,
xã hội với tư cách là những yếu tố tạo nhu cầu cho sự phát triển của tư duy, và cũng thể hiện
trình ñộ tư duy của con người; Thứ ba, năng lực tư duy phụ thuộc vào trình ñộ khoa học và
nghệ thuật của xã hội mà loài người ñạt ñược trong quá trình sáng tạo và sử dụng. ðặc biệt,
năng lực tư duy phụ thuộc trực tiếp vào hoạt ñộng giáo dục, ñào tạo, trong ñó chủ yếu là
phương pháp ñào tạo và tự ñào tạo; Thứ tư, ñiều kiện, nhân tố cơ bản ảnh hưởng ñến năng
lực tư duy xét ñến cùng là hoạt ñộng thực tiễn; Thứ năm, nhu cầu, lợi ích, ñộng cơ, cảm xúc,
tâm sinh lý chủ thể cũng ảnh hưởng trực tiếp ñến năng lực tư duy. Năng lực tư duy không
chỉ là năng lực tư duy hình thức mà chủ yếu là năng lực tư duy biện chứng.
1.5.3.3. Những ñặc trưng và yếu tố cơ bản của năng lực tư duy
1. Bốn loại yếu tố cơ bản của năng lực tư duy là: Một là, yếu tố thấp nhất của
năng lực tư duy là năng lực ghi nhớ, tái hiện, vận dụng những tri thức ñã tiếp thu; Hai
là, năng lực cơ bản của tư duy là trừu tượng hoá, khái quát hoá trong phân tích và tổng
hợp; Ba là, liên tưởng, tưởng tượng, suy luận là loại năng lực bậc cao của tư duy, năng
lực này gắn liền với cảm xúc, tạo ra sức sáng tạo; Bốn là, trực giác với linh cảm là sản
phẩm của quá trình tích luỹ, suy ngẫm trong quan sát và nghiên cứu.
Bốn loại yếu tố trên nằm trong tổng thể như một quá trình bao hàm, chuyển hoá
lẫn nhau, tương sinh và tạo thành năng lực tư duy ở trình ñộ chính xác và sáng tạo. Yếu
tố quan trọng nhất là năng lực trừu tượng hoá, suy luận và tưởng tượng, vì thế, ñể nâng
cao NLTH cho SV cần phải có biện pháp bồi dưỡng các yếu tố năng lực tư duy này.

kết quả là ở học sinh hình thành ñược những tri thức, kỹ năng và kỹ xảo xác ñịnh.
1.6.2. Tự học Có nhiều quan niệm về tự học:
1. Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi học hỏi ñể hiểu biết thêm. Có
thầy hay không ta không cần biết. Người tư học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học
môn nào tuỳ ý, muốn học lúc nào cũng ñược: ñó mới là ñiều kiện quan trọng. [53]
23

2. Tự học là tự tìm tòi, tự ñặt câu hỏi, tự tìm hiểu ñể nắm ñược vấn ñề, hiểu sâu
hơn, thậm chí hiểu khác ñi bằng cách sáng tạo, ñi ñến một ñáp số, kết luận khác.[63].
3. Tự học là tự mình ñộng não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ
bắp, cùng các phẩm chất của mình, rồi cả ñộng cơ tình cảm, cả nhân sinh quan (như trung
thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê
khoa học, ý muốn thi ñỗ, biết biến khó khăn thành luận lợi v.v ) ñể chiếm lĩnh một lĩnh vực
hiểu biết nào ñó của nhân loại, biến lĩnh vực ñó thành sở hữu của mình. [76, tr. 59].
4. Theo [35]: Tự học là quá trình tự mình hoạt ñộng lĩnh hội tri thức khoa học và
rèn kỹ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và sự quản lý
trực tiếp của cơ sở giáo dục, ñào tạo.
5. Tổng hợp những quan niệm trên, có thể rút ra những tính chất ñặc trưng cơ bản của tự
học: Tự mình tổ chức xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến trình học tập với ý thức trách nhiệm ;
Tự quyết ñịnh trong việc lựa chọn mục tiêu học tập, lựa chọn các HðHT. Chú ý ñến cách học
tập: bởi vì kiến thức kỹ năng có thể thay ñổi theo tiến bộ khoa học kỹ thuật ; Tự lựa chọn các
hình thức, phương pháp kiểm tra, ñánh giá ; tự học chuẩn bị cho việc học suốt ñời.
Có thể quan niệm về tự học như sau: Tự học là người học tự quyết ñịnh việc lựa
chọn mục tiêu học tập, các hoạt ñộng học tập và các hình thức phương pháp kiểm tra,
ñánh giá thích hợp, từ ñó tổ chức, xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến trình học tập của
cá nhân với ý thức trách nhiệm.
6. Quá trình tự học: Từ quan niệm về tự học, có thể hiểu quá trình tự học là quá trình
xuất phát từ sự ham muốn, khát khao nhận thức, người học ấp ủ trong mình những dự
ñịnh, dựa vào những phương tiện nhận thức ñể tích luỹ kinh nghiệm, tri thức và hành ñộng
ñể ñạt kết quả nhận thức. Có thể biểu diễn quá trình tự học theo sơ ñồ sau:

chọn cách học hiệu quả, lựa chọn tài liệu và các phương tiện thiết bị cho việc học.
1.6.3.2. Tiếp theo là giai ñoạn SV thực hiện kế hoạch học tập, ñây là giai ñoạn lao
ñộng thực sự của SV, quyết ñịnh sự thành công của việc học. Giai ñoạn này bao gồm
các công việc: làm việc với sách, tài liệu, nghe giảng, làm thí nghiệm, luyện tập,
seminar, xử lý thông tin, GQVð. Ở giai ñoạn này SV phải vận dụng những nhóm kỹ
năng học tập có thể có ñược ñể thực hiện tốt kế hoạch học tập: Kỹ năng về tri thức: ghi
chép bài học, tóm tắt (hệ thống, tự liên hệ thông tin mới với thông tin ñã học), xây
dựng sơ ñồ, phân loại, phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá,
tương tự, quy nạp – diễn dịch, và thay thế tức là tự hành ñộng tìm những thông tin khác
ñể so sánh và dùng mới thay cũ; Những kỹ năng về cảm xúc và những kỹ năng về xã
hội: hợp tác trong nhóm và lớp, ñặt câu hỏi, tự trao ñổi với bản thân mình (self – talk),
tự ñánh giá, tập trung, kỹ năng lựa chọn, tự tin, ; Kỹ năng chuyển ñổi tri thức: ñó là
các kỹ năng hoạch ñịnh, chú ý có ñịnh hướng, chú ý có chọn lọc, tự quản lý, tự ñánh
giá, PHVð, GQVð, kỹ năng tự vận dụng cách học thích hợp,…
ðIỀU

CHỈNHKIỂM

TRA
THỤC

HIỆN
LẬP
KẾ
HOACH
H


trường, không cần sự hướng dẫn của giáo viên, người học tự quyết ñịnh việc lựa chọn mục tiêu
học tập, lựa chọn các HðHT và các hình thức phương pháp kiểm tra, ñánh giá, từ ñó tổ chức,
xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến trình học tập của cá nhân với ý thức trách nhiệm.
1.6.4.2. Tự học qua phương tiện truyền thông: Người học không tiếp xúc trực tiếp
với thầy mà chủ yếu nghe giáo viên giảng giải qua phương tiện truyền thông.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status