Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ THU HÀ
NHỮNG BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC
VỀ VĂN HỌC SỬ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thái Nguyên, năm 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Gia Cầu -
Người thầy đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn
thành luận văn.
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ văn, khoa Sau
đại học trường ĐHSP Thái Nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ và động viên em
trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường.
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn BGH trường phổ thông Vùng
Cao Việt Bắc, những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã
giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian qua.
Thái Nguyên , ngày 10 tháng 8 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hà
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CAM ĐOAN
PHẦN NỘI DUNG 10
Chƣơng 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA
VẤN ĐỀ TỰ HỌC VĂN HỌC SỬ Ở THPT 10
1.1. Cơ sở lý luận 10
1.1.1. Lý thuyết về tự học 10
1.1.2. Lý thuyết dạy học các bài học về lịch sử văn học (VHS). 25
1.2. Cơ sở thực tiễn 34
1.2.1. Chương trình, SGK về văn học sử ở THPT 34
1.2.2 Đặc điểm của học sinh THPT ở miền núi phía Bắc về việc
tiếp nhận tri thức văn học sử. 47
Chƣơng 2 NHỮNG BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC
VỀ VĂN HỌC SỬ CHO HỌC SINH THPT Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC 69
2.1. Biện pháp 1: Giải toả vướng mắc đầu tiên của học sinh miền núi
khi tự học các bài viết về văn học sử - vướng mắc về thuật ngữ. 69
2.1.1. Những thuật ngữ học sinh vướng mắc: “nhận định”, 69
2.1.2. Biện pháp giải toả: 70
2.1.3. Hiệu quả: 73
2.2. Biện pháp 2: Kích thích hứng thú tự học các bài học VHS trong
SGK Ngữ Văn. 73
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
ii
2.2.1. Hứng thú đối với các bài học về văn học sử của học sinh
THPT ở miền núi phía Bắc. 74
2.2.2. Kích thích hứng thú tự học đối với các bài học văn học sử
của học sinh THPT ở miền núi phía Bắc. 75
2.3. Biện pháp 3: Phát triển năng lực phát hiện và hệ thống hoá các
nhận định văn học sử trong SGK. 77
2.3.1. Thực tế năng lực phát hiện và hệ thống hoá các nhận định
GV
Hà Nội
HN
Học sinh
HS
Nhà xuất bản giáo dục
NXBGD
Phổ thông
PT
Sách giáo khoa
SGK
Trung học phổ thông
THPT
Văn học sử
VHS
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XX đã trôi qua, cả nhân loại bước vào thế kỷ mới. Một thế kỷ
với những hứa hẹn mới, thách thức mới, đòi hỏi mới, khó khăn mới đang
đặt ra nhiều suy nghĩ, trăn trở cho mỗi quốc gia, dân tộc và mỗi cá nhân.
Đó là thế kỷ XXI, thế kỷ của “một nền văn minh đầy sáng tạo”, thế kỷ mà
công nghệ thông tin đang đảo lộn đời sống văn hoá và vật chất của mỗi con
người. Thế kỷ XXI là thế kỷ của văn minh trí tuệ, thế kỷ của sự bùng nổ
thông tin và khoa học công nghệ đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh
học sinh không thờ ơ với bài giảng, có hứng thú say mê tìm hiểu? Làm thế
nào để học sinh rèn luyện được những thói quen tốt trong học tập?
Vì vậy, vấn đề đặt ra là phát triển năng lực tự học cho học sinh
THPT ở miền núi phía Bắc là một việc làm cần thiết, sát thực, đúng với xu
thế đổi mới phương pháp phù hợp với chiến lược “phát huy nội lực của
người học” đáp ứng mục tiêu của giáo dục như Nghị quyết II của Ban chấp
hành Trung ương khoá VIII đã ghi: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo
dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng
tạo của người học, phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường
xuyên và rộng khắp trong toàn dân ”
Vì những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Những biện pháp
phát triển năng lực tự học về văn học sử cho học sinh THPT ở miền núi
phía Bắc”.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Tự học trong nhà trường nói chung
Tự học là một vấn đề được các nhà giáo dục nổi tiếng thế giới quan
tâm từ rất lâu dưới các phương diện, góc độ khác nhau.
Từ những năm TCN, Xôcrát (469-339TCN) đã đưa ra quan niệm rất
nổi tiếng: giáo dục phải giúp con người tự khẳng định chính mình. Vận
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
3
dụng quan điểm này vào dạy học, ông cho rằng cần phải để cho người học
tự suy nghĩ, tự tìm tòi, cần giúp người tự học phát hiện thấy sai lầm của
mình và tự khắc phục những sai lầm đó.
TK XVII,J.A.Cômenxki (1592-1670) đã nghiên cứu vấn đề quan
điểm giáo dục: “đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán của người học,
hay tìm ra phương pháp cho phép giáo viên giảng ít hơn, học sinh học
nhiều hơn. Ông đã đề ra một số nguyên tắc dạy học nhằm phát huy tính tích
toàn dân. Bộ trưởng Bộ giáo dục - đào tạo Nguyễn Thị Bình nói: “Năng lực
tự học - tự đào tạo đều tiềm ẩn trong mỗi người. Nếu biết kết hợp quá trình
đào tạo ở trường, ở lớp với quan tâm tự học - tự đào tạo thì đó là con đường
ngắn nhất để tạo ra “nội lực” cần thiết cho sự phát triển một con người và
cho đất nước”. Tạp chí giáo dục số 2 năm 1998 đã đặc biệt quan tâm đăng
tải một số bài viết tiêu biểu trong hội thảo: “Tự học - chìa khoá vàng của
giáo dục” của GS. Phan Trọng Luận, “Vì năng lực tự học sáng tạo của HS”
của Nguyễn Nghĩa Dân. Tiếp theo đó, tạp chí Nghiên cứu giáo dục đã có
rất nhiều các bài viết khác như bài của Thạc sĩ Thái Văn Long (Cà Mau)
“Khơi dậy và phát huy năng lực tự học sáng tạo của người học trong Giáo
dục - đào tạo”, hay “Vị trí của tự học, tự đào tạo trong quá trình dạy học,
giáo dục và đào tạo”.
Bên cạnh đó, một số cuốn sách cũng được xuất hiện như “Tôi tự học”
- Nguyễn Duy Cẩn, “Tự học là một nhu cầu của thời đại” - Nguyễn Hiến
Lê Những cuốn sách này chủ yếu đúc kết những kinh nghiệm quý báu
trong quá trình tự học của một số tác giả. Đặc biệt, trung tâm nghiên cứu và
phát triển tự học còn cho ra mắt bạn đọc tạp chí “Tự học”. Tạp chí này đã
thu hút sự chú ý và sự tham gia luận bàn về vấn đề tự học của nhiều nhà
khoa học, giáo sư, nhà giáo Các tác giả đã cung cấp lý thuyết dạy tự học
như thế nào, bên cạnh đó có thể hiện thiết kế bài học một số môn. Tuy nhiên,
các cuốn sách hầu như mới chỉ dừng lại ở phần lý thuyết chung nhất cho mọi
môn học mà chưa đi vào các biện pháp cụ thể đối với từng môn học.
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Cuốn “Học và dạy cách học” do GS. Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên.
Nxb ĐHSP, xuất bản 2002 là một trong những cuốn sách đầu tiên ở Việt
Nam viết một cách có hệ thống về việc học và dạy cách học. Cuốn sách
thực sự là tài liệu bổ ích giúp cho việc đổi mới phương pháp dạy và học ở
cơ sở tiếp nhận các tác phẩm văn chương cụ thể. Vì vậy, văn học sử cũng
nằm trong quỹ đạo của các nhà nghiên cứu về phương pháp, những người
quan tâm đến sự đổi mới giáo dục. Tuy nhiên là các công trình nghiên cứu
về lĩnh vực này còn rất ít ỏi và khiêm tốn.
Vụ giáo dục phổ thông cấp III đã soạn thảo cuốn “Hướng dẫn phát
huy tính chủ động và sáng tạo của học sinh trong dạy và học môn Ngữ
Văn”. Hướng dẫn không chỉ nêu yêu cầu về việc cải tiến nội dung, phương
hướng giảng dạy Văn theo hướng phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo của
học sinh mà còn yêu cầu rất cụ thể đối với các bài học văn học sử: “chấm
dứt việc đọc chậm cho học sinh chép bài, cố gắng khắc phục tình trạng giáo
viên nói nhiều, bắt học sinh ghi chép nhiều. Thay vào đó, trong một giờ
dạy, giáo viên yêu cầu học sinh phải suy nghĩ nhiều, phải nói được nhiều
suy nghĩ của mình, phải tìm tòi, phát triển để chủ động tiếp thu bài học”.
Là những Giáo sư đầu ngành phương pháp dạy học Văn, họ luôn trăn
trở với việc dạy học bộ phận văn học sử như thế nào để đạt chất lượng và
hiệu quả cao hơn, GS Phan Trọng Luận đã viết cuốn: “Mấy vấn đề giảng
dạy văn học sử ở trường PT cấp 3” và “Rèn luyện tư duy qua giảng dạy văn
học” hay cuốn “phương pháp dạy học văn” cũng chỉ dành một chương để
nói về văn học sử, hay một phần không nhiều trong cuốn “ Dạy văn dạy cái
hay cái đẹp” của Nguyễn Thị Bình. Tuy nhiên, trong những năm gần đây,
một số luận văn Th.s cũng đã khai thác đề tài tự học, tự nghiên cứu như
“Những hình thức tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong giờ
học văn học sử ở trường THPT” của Đào Văn Phán. “Hình thành năng lực
tự học cho HS THPT qua giờ văn học sử” của Lê Khánh Tùng, “Rèn luyện
năng lực tự học cho học sinh qua những giờ văn học sử (bài khái quát giai
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
7
đoạn văn học) của Nguyễn Thị Bích Hường”, “Hình thành năng lực tự học
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để thực hiện được mục tiêu đã đề ra, chúng tôi xác định đề tài cần
giải quyết những nhiệm vụ sau:
5.1. Nghiên cứu vấn đề tự học trên bình diện lý thuyết:
+ Vấn đề tự học nói chung.
+ Vấn đề tự học Ngữ Văn nói riêng.
+ Vấn đề tự học VHS của học sinh THPT ở miền núi phía Bắc.
5.2. Khảo sát thực tế về năng lực tự học các bài VHS của học sinh học
sinh THPT ở miền núi phía Bắc.
- Hứng thú và nhận thức của học sinh về bài học VHS.
- Năng lực tự học các bài học VHS:
+ Khả năng đọc văn bản và dàn ý hoá các bài học văn học sử trong SGK.
+ Khả năng phát hiện và hệ thống hoá các nhận định về VHS mà
SGK nêu ra.
+ Khả năng tái hiện và chứng minh (làm sáng tỏ) một nhận định.
+ Khả năng làm các bài tập về văn học sử (bài kiểm tra, bài thi).
6. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Để giải quyết những vấn đề đã được đặt ra chúng tôi vận dụng cả hai
nhóm phương pháp nghiên cứu khoa học:
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý luận về vấn đề tự học và tự
học VHS. Bằng phương pháp này chúng tôi có cơ sở lý luận định hướng
cho việc phát triển năng lực tự học về văn học sử cho học sinh THPT ở
miền núi phía Bắc.
- Phương pháp thống kê phân loại.
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
6.2.1. Phương pháp khảo sát:
Phương pháp khảo sát điều tra được thực hiện bằng hình thức phiếu
điều tra nhằm thu thập các thông tin cụ thể về năng lực tự học các bài học
1643 - 1727), Gao xơ (Đức, 1777- 1855) Những tấm gương trong nước
nhờ tự học mà thành tài như người thầy giáo Chu Văn An, danh y Tuệ Tĩnh,
Lương Thế Vinh Gần đây nhất có các nhà trí thức, nhà sư phạm, GS Tạ
Quang Bửu, GS Tôn Thất Tùng, GS. Nguyễn Cảnh Toàn và biết bao những
nhà giáo, nhà nghiên cứu thuộc mọi lĩnh vực cũng đang say sưa tự học để
khẳng định mình, để cống hiến trí tuệ cho công cuộc xây dựng đất nước.
Và dân tộc đã có một tấm gương vĩ đại sáng ngời về tinh thần tự học,
tự nghiên cứu - đó chính là Bác Hồ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Tinh
thần học tập lấy “Tự học làm cốt” của Bác Hồ đã trở thành tư tưởng khái
quát, mang tính quy luật. Trên con đường đấu tranh cách mạng đầy gian khổ,
chông gai nhưng Bác vẫn luôn vượt qua nó để tự học ở mọi nơi, mọi lúc.
Người Việt Nam ta từ xưa không chỉ coi trọng lối học từ người thầy
“Không thầy đố mày làm nên”, mà còn rất coi trọng lối học từ bạn “Học
thầy không tày học bạn”, đặc biệt còn đề cao cách tự học của mỗi cá nhân
“Đi một ngày đàng học một sàng khôn”, “Học đi đôi với hành”, “Học một
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
11
biết mười”, tự học ngay cả trong cuộc sống sinh hoạt “Học ăn, học nói, học
gói, học mở ” Vì vậy mà trong xu thế đổi mới giáo dục ở Việt Nam, các
giáo sư đầu ngành như Phan Trọng Luận, Nguyễn Cảnh Toàn, Trần Bá
Hoành đã đi tìm những phương pháp dạy học dựa trên cơ sở lấy việc tổ
chức hoạt độngtự học của người học làm hoạt động cơ bản. Vậy, tự học là
gì ? Tự học sẽ đem lại hiệu quả học tập cho người học như thế nào ?
Có tác giả xem hoạt động tự học như là một hình thức tổ chức dạy
học. Các tác giả lại chú ý tới hoạt động tự học như là một phương thức tự
đào tạo, tự nâng cao trình độ học vấn của người học.
Hoạt động tự học có thể diễn ra dưới sự tổ chức, điều khiển trực tiếp
của giáo viên như trong các phương pháp dạy học tích cực, cũng có thể
“Học giáp mặt” là học giáp mặt với thầy, thầy trò nhìn mặt nhau và
có thể trao đổi thông tin bằng lời nói trực tiếp (không qua máy móc) bằng
chữ viết, nhìn trực tiếp ngay trên bảng, trên giấy bằng cả ánh mắt, nụ cười,
nét mặt, cử chỉ.
“Học từ xa” là học không giáp mặt với thầy, mọi thông tin giữa thầy
và trò đều không trực tiếp mà là gián tiếp qua sách vở, tài liệu và các
phương tiện kĩ thuật của tin học và viễn thông. “Xa” chỉ có nghĩa là không
giáp mặt nhau, còn khoảng cách địa lý giữa thầy và trò có thể là nửa vòng
trái đất, cũng có thể chỉ vài chục mét.
Sở dĩ các tác giả có những quan niệm khác nhau về tự học là do góc
độ nghiên cứu của các tác giả là hoàn toàn khác nhau. Song nhìn chung các
tác giả đều quan niệm tự học là học với sự độc lập, tích cực, tự giác ở
mức độ cao, đó là quá trình mà trong đó, chủ thể người học tự biến đổi
mình, tự làm phong phú giá trị cho mình bằng các thao tác trí tuệ hoặc chân
tay, nhờ cả ý chí, nghị lực và sự say mê học tập của cá nhân. Tự học có thể
diễn ra ở trên lớp hoặc ngoài giờ trên lớp, chẳng hạn như giải bài tập trên
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
13
lớp, nảy sinh những thắc mắc khi nghe giáo viên giảng bài, tự sắp xếp
những lời giảng của giáo viên theo ý hiểu của mình để ghi vào vở.
Theo chúng tôi, tự học là một quá trình, mà ngƣời học tự mình
chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo thông qua hoạt động trí tuệ (quan sát,
phân tích, tổng hợp, so sánh, phán đoán ), tự học gắn liền với động cơ tình
cảm và ý chí của người học để vượt qua những khó khăn, trở ngại trong
học tập nhằm tích luỹ kiến thức cho bản thân người học từ kho tàng tri thức
của nhân loại, biến những kinh nghiệm này thành kinh nghiệm và vốn sống
của bản thân người học.
Như vậy, cốt lõi của học là tự học. Hễ có học là có tự học và không ai
Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều lĩnh vực hoạt động
khác nhau, chẳng hạn những thuộc tính về thể lực, về trí tuệ (quan sát, trí
nhớ, tư duy, tưởng tượng, ngôn ngữ ) là những điều kiện cần thiết để giúp
cho nhiều lĩnh vực hoạt động có hiệu quả.
Còn năng lực riêng biệt (chuyên biệt, chuyên môn) là sự thể hiện độc
đáo các phẩm chất riêng biệt, có tính chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu của
một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt với kết quả cao, chẳng hạn năng lực văn
học, năng lực thể dục thể thao, năng lực hội hoạ, năng lực âm nhạc
Hai năng lực này luôn có sự bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Giữa năng lực
và tri thức, kĩ năng, kĩ xảo luôn có sự thống nhất biện chứng (không thể
không đồng nhất chúng với nhau). Một ngƣời có năng lực trong một lĩnh
vực nào đấy có nghĩa là có tri thức, kĩ năng kĩ xảo nhất định của lĩnh
vực này. Vấn đề phát hiện, bồi dưỡng năng lực, năng khiếu của mỗi người
là một trong những vấn đề cơ bản của chiến lược giáo dục nhằm nâng cao
dân lực, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Năng lực của mỗi người dựa trên cơ sở tư chất, nhưng điều chủ yếu là
năng lực hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động tích cực của con
người dưới sự tác động của rèn luyện, dạy học và giáo dục. Vậy ngƣời có
năng lực tự học là ngƣời có khả năng tự mình động não, suy nghĩ, sử
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
15
dụng các năng lực trí tuệ, và có khi cả cơ bắp, cùng các phẩm chất,
động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một
lĩnh vực nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình
qua sách vở, qua bạn bè, qua thầy giáo.
Nếu nội lực được xem là nhân tố quyết định sự phát triển của bản
thân người học thì năng lực tự học được xem là có ý nghĩa quyết định đến
quá trình tự học.
có nhu cầu hay hứng thú phát hiện và giải quyết những vật cản, mâu thuẫn
trong nhận thức của mình để tự mình tiến xa “cái chưa biết”, “cái cần khám
phá”, “cái mới”. Tự đặt mình vào những tình huống học, người học quan
sát, suy nghĩ, tự nghiên cứu tra cứu, làm thí nghiệm, đặt giả thiết, đặt vấn
đề để tự mình tìm ra kiến thức, chân lý cùng với cách xử lý tình huống,
cách giải quyết vấn đề. Tri thức và phương pháp người học đã tự lực khám
phá ra không rập khuôn theo một khuôn mẫu sẵn có, đều là tri thức và
phương pháp mới.
Muốn phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học thì cần
rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh. Ngày nay, việc dạy phương
pháp học được quan tâm ngay từ đầu bậc tiểu học và càng lên cao hơn càng
được coi trọng. Nói tới phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học.
Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học. Một
yếu tố quan trọng đảm bảo thành công trong học tập và nghiên cứu khoa
học là khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề dặt ra. Nêú rèn luyện cho
người học có được kĩ năng phương pháp, thói quen tự học, biết ứng dụng
những điều đã học vào tình huống mới, biết tự lực phát hiện và giải quyết
những vấn đề gặp phải thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năng
vốn có trong mỗi người. Học sinh có thể tự học khi vào đời, dễ dàng thích
ứng với cuộc sống lao động, công tác trong xã hội. Vì những lí do trên,
ngày nay trong quá trình dạy học người ta nhấn mạnh hoạt động học, tạo ra
sự chuyển biến từ học tập thụ động sang học tập chủ động.
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
17
Như vậy, phát triển năng lực tự học cho học sinh miền núi phía Bắc
có nghĩa là giúp học có ý thức tự học, dám vượt qua những trở ngại chủ
quan và khách quan của môi trường miền núi đồng thời phát triển năng lực
nhận thức tích cực, sáng tạo, chủ động cho học sinh, là hình thành cho học
giúp người học nắm được tri thức, kĩ năng kĩ xảo, kinh nghiệm thông qua
nhiều hoạt động, có thể ở mọi nơi, mọi lúc trong cuộc sống. Tuy nhiên,
cách học này cũng có những hạn chế nhất định: người học chỉ lĩnh hội tri
thức một cách vụn vặt, tự do, không có hệ thống.
Khác với cách học ngẫu nhiên là cách học chủ định. Đây là cách học
có mục đích và đối tượng. Nó được điều khiển một cách có ý thức nhằm
tiếp nhận tri thức, kĩ năng kĩ xảo và hình thành cả các cách thức chiếm lĩnh
chúng. Mục đích của hoạt động học là chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội lịch
sử thông qua sự tái tạo của cá nhân người học và vận dụng tri thức đó để
cải tạo thực tiễn chính bản thân mình.
Đã có những quan niệm về tự học dưới các góc độ khác nhau.
Có quan niệm cho rằng: Học tập là biến đổi vững chắc trong hành vi
hoặc trong năng lực ứng xử theo một cách nào. Sự biến đổi đó là kết quả
của thực hành hoặc của hình thức thể nghiệm khác. Tác giả Skiner đứng
dưới góc độ lý thuyết hành vi quan niệm : Học tập là quá trình lĩnh hội kiến
thức mới hoặc kỹ năng mới, sự học tập được xác định dưới những hành
động mà học sinh cần phải thực hiện được, cách học là một chuỗi hành
động thử và sai. Song thực tế, học tập là hoạt động có mục đích và luôn
luôn được thúc đẩy bởi một hệ thống những động cơ nhất định
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang trong “Nhà sư phạm, người góp phần
đổi mới lí luận dạy học” (Nxb GD, ĐHQG Hà Nội -1998), đứng trên quan
điểm nghiên cứu cấu trúc hệ thống của quá trình dạy học và mối quan hệ
giữa các thành tố cấu trúc đó, đặc biệt là nghiên cứu mối quan hệ thống
nhất biện chứng giữa dạy và học, giữa thầy và trò với nội dung tri thức khái
niệm: “Học tập là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh khoa học,