Những biện pháp rèn luyện năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông qua giờ văn học sử - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT
NHỮNG BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN NĂNG LỰC
TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG QUA GIỜ VĂN HỌC SỬ LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN

Chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học
(Bộ môn Ngữ văn)
Mã số : 60 14 10 Người hướng dẫn khoa học: GS. NGND. PHAN TRỌNG LUẬN

HÀ NỘI - 2010

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Trang
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Lịch sử vấn đề
3
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5
5. Giả thuyết khoa học của đề tài
5
6. Đóng góp của đề tài
5
7. Phương pháp nghiên cứu
6
8. Phạm vi và giới hạn của luận văn
6
9. Cấu trúc của luận văn
6
Chƣơng 1: CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN CỦA TỰ HỌC
7
1.1. Cơ sở thực tiễn
7
1.1.1. Khảo sát tình hình dạy và học VHS ở nhà trường THPT
7
1.1.2. Những kết luận rút ra qua khảo sát
10
1.2. Cơ sở lý luận

51
2.4. Hướng dẫn, tổ chức cho học sinh thuyết trình trong giờ VHS
56

2.5. Hướng dẫn cho học sinh viết những bài tập ngắn, những thu hoạch
nhỏ về kiến thức văn học sử mà các em đã thu nhận được

60
Chƣơng 3: THỂ NGHIỆM MỘT SỐ BÀI VĂN HỌC SỬ TRONG
CHƢƠNG TRÌNH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƢỚNG
RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TỰ HỌC 63
3.1. Mục đích thể nghiệm
63
3.2. Một số thiết kế thể nghiệm
63
3.2.1. Thiết kế thể nghiệm bài: Khái quát VHVN từ đầu thế kỷ XX đến
CM tháng 8 năm 1945 lớp 11 THPT …

63
3.2.2. Thiết kế thể nghiệm bài: Khái quát VHVN từ CM tháng 8 năm
1945 đến hết thế kỷ XX lớp 12 THPT

73
3.3. Thuyết minh thiết kế thể nghiệm
81
3.4. Tiến hành thể nghiệm đối chứng
85

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CNH Công nghiệp hoá
CNTT Công nghệ thông tin
CM MN Cách mạng Miền Nam
CM Cách mạng
ĐHSP HN Đại học sư phạm Hà Nội
HS Học sinh
HĐH Hiện đại hoá
GV Giáo viên
KQGĐ Khái quát giai đoạn
NXBGD Nhà xuất bản giáo dục
SGK Sách giáo khoa
THPT Trung học phổ thông
VHS Văn học sử
VH Văn học
VHVN Văn học Việt Nam


học là một trong những mục tiêu, chiến lƣợc sƣ phạm hiện đại của giáo dục VN.

2
1.2. Một yêu cầu hết sức cấp bách đang đặt ra cho nền giáo dục nước ta là:
phải hiện đại hoá nội dung và phương pháp dạy học.
Hiện nay, việc vận dụng phƣơng pháp mới vào giảng dạy VHS ở nhà
trƣờng THPT chƣa thực sự hiệu quả bởi vẫn tồn tại lối dạy học thông báo kiến
thức, đặt ra nhiều thử thách đối với giáo viên và học sinh: Kiến thức đƣa vào
SGK mới và quá nhiều mà thời gian học trên lớp có hạn, tài liệu tham khảo
quá rộng mà hiểu biết của HS còn hạn chế. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nƣớc ta
đã đƣa ra chiến lƣợc phát triển ngành giáo dục bằng cách thay đổi phƣơng
pháp dạy học tối ƣu nhất. Ngƣời GV phải thay đổi phƣơng pháp dạy học giúp
HS có những kỹ năng tự học để rút ngắn thời gian học tập trên lớp mà vẫn đạt
hiệu quả cao.
1.3. Những thành tựu mới về não học CNTT càng tạo tiền đề cho việc coi
trọng tự học
Khoa học và công nghệ phát triển với sức thần tốc kỳ diệu đó là sự ra
đời của Máy tính và Internet. Nhƣng từ thời xa xƣa, Khổng Tử đã rất ý thức
tiềm năng vô tận của bộ não, ông từng nói "Bởi thừa nhận tính hơn hẳn của
cái đầu đối với phần còn lại của cơ thể". Bộ não là một phần lãnh thổ lớn nhất
chƣa đƣợc khám phá hết trên thế giới. Hàng ngày chúng ta không tự rèn luyện
những năng lực, kỹ năng tự học thì bộ não chúng ta sẽ bị lãng quên.
Chúng ta thấy thế giới đặc biệt coi trọng việc phát huy tiềm năng của
não bộ. Đã có biết bao tài năng đƣợc khẳng định bởi họ biết cách đánh thức và
sử dụng hiệu quả não bộ để học hỏi và nghiên cứu. Đúng nhƣ Giáo sƣ
Pierpaolo Donati, nhà xã hội học nổi tiếng của Bolonia đã khẳng định "Sự
hoàn hảo của trí não và trí nhớ tốt là cơ sở thành công trong mọi lĩnh vực".
Một trong những nhiệm vụ chiến lƣợc của ngành giáo dục là khai thác
và phát huy tiềm năng kì diệu của não bộ. Bộ não giúp chúng ta học tập suốt
đời, từ khi sinh ra cho đến khi không còn có mặt trên trái đất này.

kinh nghiệm tự học - tự nghiên cứu" [Tạp chí tự học số 7/3/2000]. Và đặc biệt
trung tâm nghiên cứu và phát triển tự học còn cho ra mắt bạn đọc một tạp chí:
“Tự học”. Đến năm 2001 Giáo sƣ Nguyễn Cảnh Toàn cho ra đời hai cuốn

4
sách quí giá: “Học và dạy cách học” và “Tuyển tập tác phẩm tự giáo dục, tự
học” tập 1 và tập 2 do trƣờng ĐHSP HN1 – Trung tâm văn hoá ngôn ngữ
Đông Tây xuất bản – 2001. Hai cuốn sách trên có thể coi là cẩm nang quí giá
cho những ngƣời có ý thức tự học, tự vƣơn lên.
Trong môn VH ở nhà trƣờng THPT thì phân môn VHS giữ một vị trí
quan trọng song chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Số công trình nghiên cứu về
vấn đề này còn quá khiêm tốn, chỉ có “Mấy vấn đề giảng dạy VHS ở trường
phổ thông cấp III” của Giáo sƣ Phan Trọng Luận và một số nghiên cứu khác
nhƣng không có ảnh hƣởng cao. Từ đó đã có rất nhiều công trình khoa học
nghiên cứu về vấn đề tự họ nhƣng vẫn còn thiếu vắng một công trình, một
chuyên luận vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn sát thực với HS
THPT ở địa phƣơng.
Từ 1995 trở lại đây đã có một số luận văn thạc sĩ theo hƣớng khai thác
đề tài tự học, tự nghiên cứu đã đƣợc hoàn thành xuất sắc nhƣ: “Những hình
thức tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS trong giờ VHS ở trường
THPT” của Đào Văn Phán và “Hình thành năng lực nghiên cứu tự học cho HS
THPT qua giờ VHS” của Lê Khánh Toàn, đặc biệt là luận án tiến sĩ của Phạm
Kim Xuyến: “Rèn luyện năng lực tự học cho HS THPT qua giờ VHS”.
Về vấn đề rèn luyện kỹ năng tự học cho HS THPT qua giờ VHS đƣợc
vận dụng vào địa phƣơng cụ thể còn là vấn đề mới mẻ và tƣơng đối phức tạp.
Chính vì vậy tác giả luận văn đặt ra vấn đề rèn luyện những năng lực tự học
cho HS THPT qua giờ VHS. Tác giả cho đó là vấn đề thiết thực, góp phần
thực thi việc đổi mới phƣơng pháp DH VH nói chung và phân môn VHS nói
riêng trong nhà trƣờng THPT hiện nay, đặc biệt là ở thành phố Hải Phòng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đặt vấn đề hình thành những biện pháp rèn luyện năng lực tự học cho
học sinh Trung học phổ thông qua giờ văn học sử, luận văn góp phần thực
hiện hoá một bƣớc tƣ tƣởng đổi mới phƣơng pháp DH văn nói chung, phân
môn VHS nói riêng đang đặt ra hiện nay. 6
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp khảo sát thức tế (dự giờ dạy và học VHS của GV và HS).
7.2. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
7.3. Phương pháp tổng hợp và vận dụng lý luận như: phân tích, tổng hợp, so
sánh … khái quát một số phương diện thuộc về rèn luyện năng lực tự học
7.4. Phương pháp thể nghiệm và kiểm chứng giả thuyết của luận văn: soạn
và dạy 2 bài: Khái quát VH Việt Nam giai đoạn 1930-1945 và Khái quát VH
Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 để minh họa.
8. Phạm vi và giới hạn của luận văn
8.1. Phạm vi nghiên cứu: Những vấn đề DH các bài VHS ở nhà trƣờng THPT.
8.2. Giới hạn khách thể điều tra: Các giờ dạy và học VHS ở nhà trƣờng
THPT
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình
bày trong 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở thực tiễn và lý luận của tự học
Chƣơng 2: Tự học trong giờ học văn học sử ở nhà trƣờng Trung học
phổ thông
Chƣơng 3: Thể nghiệm một số bài văn học sử trong chƣơng trình Trung
học phổ thông theo hƣớng rèn luyện năng lực tự học

Thời gian
GV sử dụng
Tên
Trƣờng
Giáo
viên
Phút
%
1
Khái quát VH Việt Nam từ
đầu thế kỉ XX đến CM
tháng 8/1945
2
11B3
72
80%
THPT
Nguyễn
Đức Cảnh
Lƣơng
Thị Vui
2
Khái quát VH Việt Nam từ
đầu thế kỉ XX đến CM
tháng 8/1945
2
11B2
70
77%
THPT Thái

Khái quát VH Việt Nam từ
đầu thế kỉ XX đến CM
tháng 8/1945
2
11B5
72
80%
THPT Ngô
Quyền
Đồng
Hoàng
Hƣng
6
Khái quát VH Việt Nam từ
CM tháng 8/1945 đến hết
2
12A1
72
80%
THPT Ngô
Quyền
Cao Tố
Nga

8
thế kỉ XX
7
Khái quát VH Việt Nam từ
CM tháng 8/1945 đến hết
thế kỉ XX

Phiên
Vũ Bích
Thuỷ
10
Khái quát VH Việt Nam từ
CM tháng 8/1945 đến hết
thế kỉ XX
2
12A3
71
78%
THPT Thái
Phiên
Cao Thu
Thuỷ
Tỷ lệ trung bình: 86%
Bảng 1.2: Tỷ lệ thời gian HS sử dụng trong giờ học
STT
Tên bài giảng
Số
tiết
Lớp
Thời gian GV
sử dụng
Tên
Trƣờng
Giáo
viên
Phút
Tỷ lệ %

tháng 8/1945
1
11B1
5,5
18%
THPT
Nguyễn Đức
Cảnh
Nguyễn
Thị Ánh
4
Khái quát VH Việt Nam
từ đầu thế kỉ XX đến CM
tháng 8/1945
1
11B4
6,5
23%
THPT
Nguyễn Đức
Cảnh
Vũ Thị
Hợp
5
Khái quát VH Việt Nam
từ đầu thế kỉ XX đến CM
tháng 8/1945
1
11B5
5

8
Khái quát VH Việt Nam
từ CM tháng 8/1945 đến
1
12A8
6,5
23%
THPT Thái
Phiên
Nguyễn
Thị

9
hết thế kỉ XX
Hƣơng
9
Khái quát VH Việt Nam
từ CM tháng 8/1945 đến
hết thế kỉ XX
1
12A7
5,5
24%
THPT Thái
Phiên
Vũ Bích
Thuỷ
10
Khái quát VH Việt Nam
từ CM tháng 8/1945 đến

Nguyễn Đức
Cảnh
Lƣơng Thị
Vui
2
Khái quát VH Việt Nam
từ đầu thế kỉ XX đến CM
tháng 8/1945
1
11B2
8 câu
THPT Thái
Phiên
Trần Thị
Hậu
3
Khái quát VH Việt Nam
từ đầu thế kỉ XX đến CM
tháng 8/1945
1
11B1
7 câu
THPT
Nguyễn Đức
Cảnh
Nguyễn Thị
Ánh
4
Khái quát VH Việt Nam
từ đầu thế kỉ XX đến CM

7
Khái quát VH Việt Nam
từ CM tháng 8/1945 đến
hết thế kỉ XX
1
12A2
6 câu
THPT Ngô
Quyền
Vũ Thị
Châm
8
Khái quát VH Việt Nam
từ CM tháng 8/1945 đến
hết thế kỉ XX
1
12A8
6 câu
THPT Thái
Phiên
Nguyễn Thị
Hƣơng
9
Khái quát VH Việt Nam
từ CM tháng 8/1945 đến
hết thế kỉ XX
1
12A7
7 câu
THPT Thái

bài VHS rất dài khiến GV phải chạy đua với thời gian.
Tâm lý GV là trình bày cho HS trọn vẹn kiến thức SGK. Việc GV chọn
lọc và định hƣớng kiến thức chƣa dụng công, chƣa hợp lý, GV ít chú ý đến
việc mở rộng kiến thức cho HS. Phƣơng pháp diễn giảng kiến thức SGK trong
bài học VHS nhƣ đóng khung dẫn tới không khí tiết học trầm lắng, tạo cảm
giác mệt mỏi HS, thậm chí nhiều HS còn nằm ngủ, không có hứng thú học tập.
Phƣơng thức thầy đọc trò chép, thầy giảng trò nghe vẫn diễn ra trong
các giờ VHS. HS không tự mình tìm hiểu, không tự mình nghiên cứu tài liệu
có liên quan đến bài học. Thậm chí có giờ học GV còn đọc nhiều đoạn trong
SGK cho các em chép, một số em không chép mà gạch chân SGK. Phƣơng
pháp này cho thấy các GV chỉ chú trọng tới việc làm sao trình bày đƣợc hết
khung kiến thức SGK mà quên không chú ý tới năng lực tiếp nhận và đặc
điểm tâm lý của HS. Vì thế mà kiến thức VHS của HS sơ sài và nghèo nàn,
các em có thái độ dửng dƣng, thờ ơ, coi thƣờng các bài học VHS. Trong khi
kiến thức khái quát của VHS là kiến thức cơ bản, quan trọng làm cơ sở, nền
tảng để nhìn nhận, đánh giá cả một giai đoạn văn học cụ thể.

11
Phƣơng pháp dạy thông báo, phát tin này đi ngƣợc với lý thuyết tiếp
nhận và cảm thụ đó là "Coi HS vừa là mục tiêu vừa là phương tiện, phương
thức truyền đạt đến mục tiêu trong sự thống nhất biện chứng" [3, tr.33], làm
cho HS mất dần khả năng tự thân vận động để tìm hiểu, nghiên cứu bài giảng,
không tự học, tự khám phá để mở rộng tầm hiểu biết.
Từ thực tế khảo sát cho chúng ta thấy, hầu hết các giờ học VHS GV
chƣa phát huy đƣợc chủ thể, chƣa phát triển đƣợc tiềm năng sáng tạo của HS,
chƣa huy động đƣợc hiểu biết sẵn có của HS, chƣa rèn luyện cho HS kỹ năng
tự học tập tích cực, nhƣ việc tạo dựng một hứng thú ham học để tự học, tự
vƣơn lên, nắm vững các tri thức khoa học mới bằng con đƣờng tự nghiên cứu,
tự học. Đó cũng là một trong những kỹ năng tự học những bài KQGĐ VHS.
* Phương pháp đặt câu hỏi của giáo viên chưa logic, chưa hệ thống, nặng về

cho nhau để cùng phát triển? Căn cứ vào đâu để phân chia nhƣ vậy?
Câu hỏi 4: Hai truyền thống lớn của VHVN là gì? Trong thời kì này
VHVN đóng góp thêm đƣợc truyền thống gì?
Câu hỏi 5: Nêu các thành tựu về thể loại và ngôn ngữ của VH thời kì này?
Câu hỏi 6: Em hãy nêu những thành tựu nghệ thuật thơ thời kì này?
Câu 7: Em hãy rút ra kết luận chung gì sau khi học bài này?
Bài học trong 90 phút mà GV đƣa ra 7 câu hỏi, cho thấy các câu hỏi rất
bám sát SGK, nhằm tái hiện những luận điểm trong SGK, GV đọc tái hiện các
câu hỏi trong SGK. Riêng câu hỏi thứ 7 cần kỹ năng khái quát thì HS lại
không làm đƣợc, tốn đến 5 phút.
Hay trong bài Khái quát VHVN từ CM tháng 8-1945 đến hết thế kỉ XX,
GV Vũ Bích Thuỷ trƣờng THPT Thái Phiên. GV đƣa ra 10 câu hỏi nhƣ sau:
Câu hỏi 1: Hãy tóm tắt những nét chính về tình hình lịch sử, xã hội, văn hoá
có ảnh hƣởng đến sự hình thành và phát triển của VHVN giai đoạn 1945-1975?
Câu hỏi 2: VHVN 1945-1975 phát triển qua mấy chặng?
Câu hỏi 3: Những tác phẩm đáng chú ý trong năm độc lập đầu tiên?
Cảm hứng chung? Sự kiện lịch sử nào đánh dấu sự chuyển biến lớn của VH ở
cuối năm 1946?

13
Câu hỏi 4: Trong văn xuôi những thể loại nào đóng vai trò tiên phong
của VH kháng chiến chống Pháp? Thử lí giải vì sao từ 1950 trở đi, văn xuôi
tạo đƣợc bƣớc phát triển mới?
Câu hỏi 5: Nêu một số nét chính về hoàn cảnh lịch sử, xã hội chặng
1955-1964?
Câu hỏi 6: Nêu một số nét chính về hoàn cảnh lịch sử, xã hội chặng
1965-1975?
Câu hỏi 7: Cho HS đọc SGK và tóm tắt những đóng góp của xu hƣớng
VH tiến bộ, yêu nƣớc và CM MN. Nhìn một cách bao quát VHVN từ CM
tháng 8/1945 đến hết thế kỉ XX mang những đặc điểm nào?

thức không phải từ ngoài vào mà là do yêu cầu khám phá tìm hiểu của bản
thân” [17, tr.230]. Có câu hỏi nêu vấn đề trong giờ học VHS mới phát huy
đƣợc hết nội lực của HS trong việc rèn luyện tƣ duy sáng tạo và ý thức học
tập. Nếu các GV vẫn giữ cách giảng dạy nhƣ trên thì HS tốt nghiệp vẫn không
có kiến thức vững chắc, không có năng lực tự học hỏi để vƣơn lên, không có
bản lĩnh tự tin vào chính mình.
1.1.2.2. Hoạt động nghe và chép của HS là chủ yếu
Qua các giờ khảo sát, chúng ta thấy các giờ học VHS còn tồn đọng các
khuyết điểm sau:
Một là trong các giờ VHS hoạt động chủ yếu của HS là nghe và chép.
Trung tâm giờ học vẫn là GV, là ngƣời truyền đạt kiến thức, là ngƣời thuyết
trình, diễn giảng còn HS là khách thể, lắng nghe, chép bài một cách thụ động.
Qua tìm hiểu tâm tƣ nguyện vọng của HS, chúng ta thấy các em chán học, coi
thƣờng giờ học văn nói chung và VHS nói riêng. Trong suốt giờ học VHS HS
chủ yếu nghe và ghi chép, một số HS làm việc riêng, thậm tệ một số em còn
nằm ngủ, không khí giờ học VHS hết sức buồn tẻ, rời rạc. Hoạt động chủ yếu
là GV đƣa ra câu hỏi và chỉ định, HS miễn cƣỡng đứng lên trả lời nên thƣờng
là trả lời chống đối. Khi chúng tôi tiến hành kiểm tra vở soạn của HS lớp 11B3
trƣờng THPT Nguyễn Đức Cảnh và 12A8 trƣờng THPT Thái Phiên phát hiện
một số em soạn bài bằng cách chép đề mục trong SGK rồi lại truyền tay cho

15
các HS khác chép lại. Còn kiểm tra vở ghi đến 2/3 HS trong lớp chép đầy đủ
các đề mục thầy cô ghi trên bảng, không có sàng lọc kiến thức bài giảng của
thầy cô.
Hai là khả năng phát hiện luận điểm của HS rất chậm, diễn đạt lủng
củng. Trả lời câu hỏi HS chỉ việc đọc nội dung tƣơng ứng trong SGK không
biết diễn đạt bằng hành văn của mình. Có HS tự diễn đạt thì câu cú lủng củng,
từ ngữ thiếu chính xác, ý nghĩa luận điểm bị thay đổi hoặc lan man, dài dòng,
không cô đọng. Trong khi kiến thức của các bài khái quát VHS đƣợc vận dụng

tính chất đó, HS chƣa ý thức đƣợc tầm quan trọng của kiến thức VHS trong bộ
môn văn. HS chƣa thiết lập đƣợc mối quan hệ khăng khít giữa kiến thức VHS
với giảng văn và giảng văn với Tiếng Việt, VHS với tập làm văn và VHS với
lý luận. HS chƣa phát huy đƣợc hết lợi thế của kiến thức VHS trong việc tìm
hiểu các tri thức giảng văn, lý luận … Từ đó dẫn đến thực trạng HS tốt nghiệp
THPT mà không nhớ nổi các giai đoạn VH nƣớc nhà, không nhớ nổi tác giả
thuộc giai đoạn VH nào? Làm sao giáo dục đƣợc tâm hồn Việt Nam và lòng
yêu nƣớc ở các em.
Trên đây là một vài kết luận rút ra qua các giờ khảo sát giảng dạy VHS
nói riêng VH nói chung. Chúng ta đã bƣớc vào thế kỷ XXI thế kỷ của công
nghệ thông tin của tiến bộ khoa học kỹ thuật, mỗi con ngƣời cần phải nỗ lực tự
học, tự sáng tạo để vƣơn lên. Đặt vấn đề rèn luyện kỹ năng tự học cho HS
trong nhà trƣờng THPT, đặc biệt qua giờ học VHS là một bài học có nhiều
tiềm năng. Điều đáng quan tâm là các GV cần phải dụng công trong thiết kế
giáo án để có đƣợc một bài dạy và học theo phƣơng pháp đổi mới phù hợp với
từng phân môn, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục.
1.2. Cơ sở lý luận
1.2.1. Quan niệm về năng lực tự học của HS THPT
Ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung, vấn đề tự học vừa có
tính truyền thống vừa có tính phổ biến. Vì thế, đặt vấn đề rèn luyện tự học với
HS THPT liệu có phải là một việc làm quá sức và không phù hợp không? Trên
thực tế, vấn đề này dƣờng nhƣ còn mới mẻ đối với hệ thống nhà trƣờng

17
THPT. Nhƣng thực tế giáo dục hiện đại đã đặt ra vấn đề rèn luyện năng lực tự
học ở lứa tuổi HS THPT từ mấy thập kỷ nay trên toàn thế giới. Để tiến kịp với
khoa học và công nghệ phát triển nhƣ vũ bão của nhân loại, vấn đề rèn luyện
năng lực tự học càng đƣợc quan tâm nhiều hơn vì HS THPT cần đƣợc tiếp
xúc, làm quen và hình thành những năng lực tự học ngay từ khi còn ngồi trên
ghế nhà trƣờng THPT, bƣớc đầu tạo dựng nền tảng cho việc học Đại học và

quan để thu nhận thông tin rồi tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ
(quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi cả cơ bắp (phải sử dụng
công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân
sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh được một lĩnh vực hiểu biết nào đó,
một số kỹ năng nào đó, một số phẩm chất nào đó của nhân loại hay cộng đồng
biến chúng thành sở hữu của mình. Phát minh ra cái mới cũng có thể coi là
một hình thức tự học cao cấp" [29,tr.407], và giáo sƣ chia làm 3 cấp độ học:
Một là tự học mà không có thầy hoặc có thầy nhƣng không gặp mặt
thầy trong phần lớn thời gian học tập.
Hai là tự học có hƣớng dẫn, tức là học không giáp mặt thầy nhƣng nhận
đƣợc sự giúp đỡ hƣớng dẫn chỉ bảo của thầy từ xa.
Ba là tự học, học mà không có thầy.
Giáo sƣ Nguyễn Cảnh Toàn quan niệm tự học là một quá trình con
ngƣời phải tự vƣơn lên để vƣợt qua chính mình, tự vận động với tất cả ý chí và
nghị lực, phẩm chất tƣ duy, phẩm chất nhân cách, tâm hồn, bản lĩnh văn hoá,
khát vọng và mục đích sống cao đẹp, tự biết so sánh, đối chiếu, phê bình và tự
phê bình, tự sửa chữa để chiếm lĩnh tri thức. Tự học phải diễn ra ở mọi lúc,
mọi nơi, trong bất cứ hoàn cảnh nào và thời gian nào. Hiệu suất công việc là
thƣớc đo chuẩn mực cho việc đánh giá hiệu quả tự học. Nhƣ vậy tự học vô
cùng đa dạng và phong phú.
Còn theo Nguyễn Kỳ, tự học của HS THPT có bốn đặc trƣng cơ bản:
Thứ nhất ngƣời HS phải biết tìm ra kiến thức bằng chính hành động của mình.
Thứ hai là ngƣời học tự thể hiện mình, đặt mình vào tình huống, tự trình bày
bảo vệ sản phẩm của mình, tỏ rõ thái độ của mình truớc những cƣ xử của môi
trƣờng xung quanh, tập giao tiếp với mọi ngƣời trong quá trình tìm ra tri thức.

19
Thứ ba ngƣời thầy là ngƣời tổ chức hƣớng dẫn cho HS tự nghiên cứu
tìm ra tri thức và thể hiện mình trƣớc tập thể, trƣớc cộng đồng. Nhƣng phải có
thầy là trọng tài cố vấn, kết luận trong các cuộc tranh luận đối thoại (thầy – trò

học sinh.
Từ cách hiểu về năng lực tự học nhƣ trên, chúng ta có thể xác định đƣợc
năng lực tự học với HS THPT nhƣ sau: Trƣớc tiên, năng lực tự học luôn gắn
liền với hoạt động tích cực, chủ động của từng chủ thể HS mà chúng ta có thể
gọi là “tự mình”. Nói một cách chính xác hơn, năng lực nghiên cứu của HS
THPT có nghĩa là các em phải tự mình phát hiện kiến thức, tự mình nắm bắt
kiến thức và tự mình vận dụng kiến thức. Điều đó không chỉ có giá trị đối với
bản thân mà còn giá trị đối với xã hội, đối với nhân loại. Năng lực tự học đối
với HS THPT còn tạo ra sự biến đổi về mặt nhận thức mà thực chất là sự “biến
đổi về chất” đƣa lại một ý nghĩa lớn hơn là hình thành thói quen tự học với
những suy nghĩ tìm tòi để đặt vấn đề, tự giải quyết vấn đề. Đó là những hoạt
động có tác dụng rèn luyện, phát triển tƣ duy logic đồng thời cũng là một dấu
hiệu biểu đạt mức độ của sự phát triển trí tuệ.
Năng lực tự học của HS THPT là một hoạt động ở trình độ thấp với
những hình thức đơn giản, không giống với quá trình nhận thức của các nhà
khoa học. Thực chất năng lực tự học của HS THPT chủ yếu là nghiên cứu
những bài học cụ thể trong SGK, những tƣ liệu có liên quan để đối chiếu, so
sánh, mở rộng. Đây chính là những bƣớc đi đầu tiên, cơ bản tạo tiền đề cho
các em tiếp xúc với các hoạt động nghiên cứu ở mức độ cao hơn. Hơn nữa,
yêu cầu quan trọng đƣợc đặt ra trong quá trình học tập nhận thức của HS phải
phát huy một cách tối đa tính tích cực, độc lập, tự giác để nắm vững những tri
thức mà loài ngƣời đã và đang tích luỹ, phải biến nó thành tài sản, thành vốn
hiểu biết riêng của bản thân. Dù sau này, ở bất cứ địa vị nào trong xã hội đều
phải có kỹ năng tự học mới nắm bắt, chiếm lĩnh, và ứng dụng, xử lý khối
lƣợng tri thức khổng lồ của nhân loại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status