Những biện pháp rèn luyện năng lực tự học
cho học sinh trung học phổ thông qua giờ
văn học sử Nguyễn Thị Minh Nguyệt Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS. ngành: Lý luận và phương pháp dạy học (Bộ môn Ngữ văn)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: GS. NGND Phan Trọng Luận
Năm bảo vệ: 2010 Abstract. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động tự học. Nêu và
phân tích những biện pháp rèn luyện năng lực tự học cho học sinh trung học phổ
thông qua giờ văn học sử. Trình bày thử nghiệm một số bài văn học sử trong chương
trình trung học phổ thông theo hướng rèn luyện năng lực tự học.
Keywords. Ngữ văn; Phương pháp dạy học; Văn học sử; Năng lực tự học; Trung
học phổ thông Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Tự học, tự nghiên cứu là một tư tưởng chiến lược của chương trình phát triển giáo
dục thời đại mới cũng như của khoa sư phạm hiện đại
Tự học trong bối cảnh hiện nay của đất nước và thế giới trước ngưỡng cửa của thế kỷ
XXI là một cách nhìn thực tế, vừa có ý nghĩa chiến lược. Để có thể làm chủ được tri thức,
của HS trong giờ VHS ở trường THPT” của Đào Văn Phán và “Hình thành năng lực nghiên
cứu tự học cho HS THPT qua giờ VHS” của Lê Khánh Toàn, đặc biệt là luận án tiến sĩ của
Phạm Kim Xuyến: “Rèn luyện năng lực tự học cho HS THPT qua giờ VHS”. Tuy vậy còn
thiếu vắng một công trình, một chuyên luận vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn
sát thực với HS THPT ở địa phương.
Vấn đề rèn luyện kỹ năng tự học cho HS THPT qua giờ VHS được vận dụng vào địa
phương cụ thể còn là vấn đề mới mẻ và tương đối phức tạp. Tác giả luận văn đặt ra vấn đề
rèn luyện những năng lực tự học cho HS THPT qua giờ VHS. Tác giả cho đó là vấn đề thiết
thực, góp phần thực thi việc đổi mới phương pháp DH VH nói chung và phân môn VHS nói
riêng trong nhà trường THPT hiện nay, đặc biệt là ở thành phố Hải Phòng. Tác giả hi vọng
luận văn sẽ đóng góp một phần nhỏ bé vào việc tháo gỡ những khó khăn, lúng túng cho GV
trong khi thực thi chương trình và SGK Ngữ văn mới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Cùng với xu hướng đổi mới phương pháp DH nói chung, DH Ngữ văn nói riêng,
luận văn góp phần xây dựng cơ sở lí luận và khảo sát thực tế giờ dạy - học VHS, tạo tiền đề
cho vấn đề tự học ở THPT và khẳng định tầm quan trọng của tự học trong chiến lược giáo
dục.
* Luận văn mạnh dạn đưa ra một trong những phương pháp DH tích cực và hiệu quả
nhất đó là hướng dẫn HS tự làm việc, tự tiếp cận để chiếm lĩnh tri thức VHS một cách chủ
động, góp phần giải quyết những tồn tại trong lối DH thông báo kiến thức.
* Để nâng cao chất lượng giờ học VHS, biến quá trình DH thành quá trình tự học,
luận văn muốn khẳng định khả năng vận dụng tự học trong giờ học VHS, đóng góp một phần
cùng với môn Ngữ văn chuẩn bị cho HS một hành trang vững chắc cả về tri thức lẫn phương
pháp, kỹ năng tự học.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy và học VHS ở nhà trường THPT (bài học VHS và giờ dạy học VHS ở
nhà trường THPT)
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Các bài học VHS ở nhà trường THPT.
chương:
Chương 1: Cơ sở thực tiễn và lý luận của tự học.
Chương 2: Tự học trong giờ học văn học sử ở nhà trường Trung học phổ thông.
Chương 3: Thể nghiệm một số bài văn học sử trong chương trình Trung học phổ
thông theo hướng rèn luyện năng lực tự học.
Chƣơng 1: CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN CỦA TỰ HỌC
1.1. Cơ sở thực tiễn
1.1. Khảo sát tình hình dạy và học VHS ở nhà trường THPT
1.1.1.1. Phần khảo sát
Địa bàn khảo sát: Tiến hành dự giờ dạy và học, ra đề khảo sát khả năng phát hiện luận
điểm, khả năng lập dàn ý của HS thuộc địa bàn Hải Phòng.
+ Trường THPT Nguyễn Đức Cảnh – Hải Phòng
+ Trường THPT Thái Phiên – Hải Phòng
+ Trường THPT Ngô Quyền – Hải Phòng
Đối tượng khảo sát: HS 2 khối 11 và 12, do GV của 3 trường trên giảng dạy.
Số lượng giờ dự: 2 bài tương đương 4 tiết: Khái quát VH Việt Nam từ đầu thế kỉ XX
đến Cách Mạng tháng 8/1945 và Khái quát VH Việt Nam từ CM tháng 8/1945 đến hết thế kỉ
XX.
Thời gian khảo sát: Năm học 2007 - 2008 và 2009 – 2010
1.1.1.2. Một vài số liệu và kết quả thu hoạch rút ra qua khảo sát
Bảng 1.1: Tỷ lệ thời gian GV sử dụng trong giờ học
S
TT
Tên bài giảng
Số
tiết
Lớp
Khái quát VH Việt Nam từ đầu thế
kỉ XX đến CM tháng 8/1945
2
11B1
71
82%
THPT
Nguyễn Đức
Cảnh
Nguyễn
Thị Ánh
4
Khái quát VH Việt Nam từ đầu thế
kỉ XX đến CM tháng 8/1945
2
11B4
70
77%
THPT
Nguyễn Đức
Cảnh
Vũ Thị
Hợp
5
Khái quát VH Việt Nam từ đầu thế
kỉ XX đến CM tháng 8/1945
2
11B5
72
80%
2
12A8
70
77%
THPT Thái
Phiên
Ng. Thị
Hương
9
Khái quát VH Việt Nam từ CM
tháng 8/1945 đến hết thế kỉ XX
2
12A7
68
74%
THPT Thái
Phiên
Vũ Bích
Thuỷ
10
Khái quát VH Việt Nam từ CM
tháng 8/1945 đến hết thế kỉ XX
2
12A3
71
78%
THPT Thái
Phiên
Cao Thu
Thuỷ
2
Khái quát VH Việt Nam từ đầu thế
kỉ XX đến CM tháng 8/1945
1
11B2
5
23%
THPT Thái
Phiên
Trần Thị
Hậu
3
Khái quát VH Việt Nam từ đầu thế
kỉ XX đến CM tháng 8/1945
1
11B1
5,5
18%
THPT Nguyễn
Đức Cảnh
Ng.
Thị Ánh
4
Khái quát VH Việt Nam từ đầu thế
kỉ XX đến CM tháng 8/1945
1
11B4
6,5
23%
THPT Nguyễn
12A2
4,5
25%
THPT Ngô
Quyền
Vũ Thị
Châm
8
Khái quát VH Việt Nam từ CM
tháng 8/1945 đến hết thế kỉ XX
1
12A8
6,5
23%
THPT Thái
Phiên
Nguyễn
Thị Hương
9
Khái quát VH Việt Nam từ CM
tháng 8/1945 đến hết thế kỉ XX
1
12A7
5,5
24%
THPT Thái
Phiên
Vũ Bích
Thuỷ
10
8 câu
THPT Nguyễn
Đức Cảnh
Lương
Thị Vui
2
Khái quát VH Việt Nam từ đầu thế
kỉ XX đến CM tháng 8/1945
1
11B2
8 câu
THPT Thái
Phiên
Trần Thị
Hậu
3
Khái quát VH Việt Nam từ đầu thế
kỉ XX đến CM tháng 8/1945
1
11B1
7 câu
THPT Nguyễn
Đức Cảnh
Ng. Thị
Ánh
4
Khái quát VH Việt Nam từ đầu thế
kỉ XX đến CM tháng 8/1945
1
11B4
12A2
6 câu
THPT Ngô
Quyền
Vũ Thị
Châm
8
Khái quát VH Việt Nam từ CM
tháng 8/1945 đến hết thế kỉ XX
1
12A8
6 câu
THPT Thái
Phiên
Ng. Thị
Hương
9
Khái quát VH Việt Nam từ CM
tháng 8/1945 đến hết thế kỉ XX
1
12A7
7 câu
THPT Thái
Phiên
Vũ Bích
Thuỷ
10
Khái quát VH Việt Nam từ CM
tháng 8/1945 đến hết thế kỉ XX
1
Hai là khả năng phát hiện luận điểm của HS rất chậm, diễn đạt lủng củng, lan man,
dài dòng, không cô đọng. Trong khi kiến thức của các bài khái quát VHS được vận dụng
nhiều trong quá trình HS chiếm lĩnh các tác phẩm văn chương.
1.2. Cơ sở lý luận
1.2.1. Quan niệm về năng lực tự học của HS THPT
Ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung, tự học vừa có tính truyền thống vừa
có tính phổ biến. Để tiến kịp với khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão của nhân loại,
rèn luyện năng lực tự học càng được quan tâm nhiều hơn vì HS THPT cần được tiếp xúc, làm
quen và hình thành những năng lực tự học ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường THPT,
bước đầu tạo dựng nền tảng cho việc học Đại học và quá trình công tác suốt đời.
Tự học là khả năng tự tìm tòi, tự học hỏi, tự nghiên cứu những tài liệu. Tự học, tự
nghiên cứu là một quá trình, trong đó mỗi con người tự suy nghĩ, tự sử dụng các năng lực trí
tuệ và các phẩm chất của bản thân, tự khai thác vận dụng những điều kiện vật chất để cho
công việc có hiệu quả hơn.
Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn: Tự học là tự mình dùng các giác quan để thu nhận
thông tin rồi tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích,
tổng hợp) và có khi cả cơ bắp (phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả
động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh được một lĩnh vực hiểu
biết nào đó, một số kỹ năng nào đó, một số phẩm chất nào đó của nhân loại hay cộng đồng
biến chúng thành sở hữu của mình. Phát minh ra cái mới cũng có thể coi là một hình thức tự
học cao cấp.
Còn theo Nguyễn Kỳ, tự học của HS THPT có bốn đặc trưng cơ bản:
Thứ nhất người HS phải biết tìm ra kiến thức.
Thứ hai là người học tự thể hiện mình, đặt mình vào tình huống, tự trình bày bảo vệ
sản phẩm của mình, tỏ rõ thái độ của mình truớc môi trường xung quanh, tập giao tiếp với
mọi người trong quá trình tìm ra tri thức.
Thứ ba người thầy là người tổ chức hướng dẫn cho HS tự nghiên cứu tìm ra tri thức
và thể hiện mình trước tập thể, trước cộng đồng.
Thứ tư là người học tự đánh giá, tự kiểm tra là kiến thức sau khi đã trao đổi với bạn
bè và dựa vào kết luận của thầy cô, tự mình sửa chữa, tự mình điều chỉnh tự mình hoàn thiện
Chúng ta tự hào về dân tộc có 4 nghìn năm văn hiến. Để có được niềm tự hào đó ông
cha ta biết kết hợp sức mạnh, sức sáng tạo, dân tộc đã tạo ra chữ viết của riêng mình trên cơ
sở đó hình thành nền văn hoá riêng đậm đà bản sắc dân tộc. Đã có biết bao tấm gương hiếu
học như Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm
Chúng ta đang sống ở thế kỷ XXI, cần thắp sáng truyền thống tự học, tự đào tạo - một
nét đẹp văn hoá trong nhân cách của mỗi người và của dân tộc. Biến tự học thành “chiếc gậy
thần kỳ”, góp phần phát triển nội sinh dân tộc, đưa đất nước tiến nhanh trên con đường CNH-
HĐH.
1.2.3. Tự học trong giờ VHS ở nhà trường THPT
1.2.3.1. Đặc trưng của phân môn VHS ở nhà trường THPT
Một là VHS có tính bao quát những thời gian phân kỳ lớn của lịch sử VHVN. Đặc điểm
của VH là một hình thái xã hội tất nhiên phải gắn liền với xã hội cụ thể. Do đó, VH một dân
tộc gắn liền với lịch sử dân tộc đó. VHVN được chia làm bốn thời kỳ: Thời kỳ Văn Lang Âu
Lạc và Bắc Thuộc (từ thế kỷ X trở về trước); VH dưới các thời đại Phong kiến (từ thế kỷ X
đến thế kỷ XIX, còn gọi là VH Trung đại); VH từ đầu thế kỷ XX đến CM tháng 8 năm 1945;
VH từ sau CM tháng 8/1945 đến cuối thế kỉ XX.
Hai là đặc điểm nổi bật của VHS là tính khái quát. Bài VHS chứa đựng một khối lượng
kiến thức mang tính khái quát hoá cao cho cả một thời kì VH mấy chục năm thậm chí cho cả
nhiều thế kỉ. Trong từng bài VHS đều có các mốc thời gian, sự kiện lịch sử, tình hình kinh tế
- xã hội, tác giả, tác phẩm … nhưng đó là những nhận định, là kết luận có tính khái quát, bao
trùm mỗi thời kì của lịch sử VH dân tộc.
Ba là VHS có cấu trúc bề mặt và cấu trúc chiều sâu. Bối cảnh lịch sử và tình hình VH
chính là cấu trúc bề mặt của VHS. Cấu trúc chiều sâu bao gồm các đề tài tổng quát hẹp hơn
về xu hướng, thể loại, tác giả, tác phẩm… có cấu trúc nhiều tầng bậc bao gồm sự khái quát về
thời kỳ, về xu hướng, về tác giả, về tác phẩm.
1.2.3.2. Những thuận lợi của bài học VHS trong việc rèn luyện năng lực tự học cho học sinh
THPT
Bộ môn VH nói chung, phân môn VHS nói riêng là sự biểu hiện rõ nét nhất mang tính
đặc trưng của VH luôn kết hợp chặt chẽ và được quán triệt trong nội dung và phương pháp
giảng dạy đó là tính khoa học và phần nào có tính nghệ thuật. Nếu đặc trưng nghệ thuật ngôn
Khó khăn lớn nhất trong việc rèn luyện năng lực tự học cho HS THPT qua giờ VHS
chính là lượng kiến thức quá nhiều nên GV không vượt qua được lối phương giảng dạy thông
báo kiến thức.
Tuy nhiên khó khăn mà lâu nay GV tốn nhiều công sức nghiên cứu là làm sao xác định
được yêu cầu, mục đích giáo dục sát với yêu cầu của bài giảng có nội dung phức tạp như trên
đã nói, phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp và phù hợp với nhu cầu của thời đại.
Những khó khăn nêu trên đang là những trở ngại, những lực cản lớn đối với việc rèn
luyện năng lực tự học cho HS THPT trong giờ học VHS.
1.2.4. Đặc điểm tâm lý, khả năng rèn luyện năng lực tự học cho học sinh THPT
1.2.4.1. Dạy học với việc giáo dục và phát triển trí tuệ của HS
DH đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển trí tuệ của HS. Vậy phải hiểu khái
niệm về sự phát triển trí tuệ như thế nào?
Sự phát triển trí tuệ cần được hiểu là sự thống nhất biện chứng giữa việc nắm vững tri
thức và việc phát triển tối đa phương thức phản ánh chúng như con đường, cách thức phương
pháp đi đến tri thức đó.
1.2.4.2. Đặc điểm tâm lý của HS THPT: bước đầu có khả năng tư duy lí luận, thích tư duy
sáng tạo, thích phân tích, phê phán, đánh giá, bình luận
Đặc điểm tâm lý HS được chia làm các thời kỳ: thời kỳ nhi đồng từ 6 đến 11, 12
tuổi. Thời kỳ thiếu niên từ 11,12 đến 14, 15 tuổi. Thời kỳ thanh niên từ 14, 15 đến 17, 18
tuổi. Ở mỗi thời kỳ con người có những đặc điểm tâm lý riêng.
Chúng ta thấy tâm lý ở lứa tuổi HS THPT có sự thay đổi rõ rệt. Các em đã có khả
năng tư duy lí luận, thích tư duy sáng tạo, phân tích, đánh giá, phê phán, tranh luận, có khả
năng thực hiện các thao tác tư duy phức tạp và trừu tượng. Nhưng để tâm hồn và trí tuệ của
HS THPT phát triển đến độ cao là nhờ vào sự khơi gợi, hướng dẫn, định hướng của GV.
Chƣơng 2: NHỮNG BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TỰ HỌC
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA GIỜ VĂN HỌC SỬ
2.1. Hƣớng dẫn học sinh tự làm việc với sách giáo khoa
2.1.1. Quan điểm về SGK trong phân môn VHS
Một trong những công cụ không thể thiếu để phục vụ cho tự học là SGK. SGK có một
HS nghiên cứu để mở rộng kiến thức, đồng thời đưa ra những câu hỏi để kiểm tra khả năng tự
đọc, tự nghiên cứu của HS ở nhà như thế nào.
2.2. Hƣớng dẫn học sinh thu thập, chọn lọc, sắp xếp tƣ liệu có liên quan đến bài văn học
sử
Việc đầu tiên cần phải làm tốt là tìm kiếm tài liệu. Lúc khởi đầu, có vẻ như mọi sự
đều rối bù, lộn xộn, không có trật tự. Nhưng điều đó không đáng lo ngại, vì HS có thể lọc
dần, loại bỏ những tài liệu không cần thiết, không thiết thực cho bài học VHS.
Ban đầu, GV hướng hẫn HS không nên đọc kĩ từng tài liệu tìm được. Chỉ cần lưu trữ
và sắp xếp trật tự, rõ ràng, ghi chú thông tin tham khảo đầy đủ để tiện dụng cho bài học.
2.3. Hƣớng dẫn, tổ chức cho học sinh tranh luận và đề xuất thắc mắc trong giờ văn học
sử
Tranh luận để bảo vệ ý kiến của mình hay phản bác lại ý kiến của người khác, trao đổi
và lập luận trong hoạt động học để chia sẻ với nhau những ý tưởng của mình.
Hình thành cho HS có thói quen tranh luận trong giờ VHS, trước tiên GV phải tạo ra
được những tình huống học tập, đó là câu hỏi có vấn đề.
Đối với VHS, một bài học có kiến thức rộng, thì vấn đề có thể đưa ra là khá phong
phú và đa dạng. Ở các bài khái quát VH 1930 -1945, bài khái quát giai đoạn VH 1945-1975,
vấn đề thường nằm trong mối quan hệ biện chứng giữa hoàn cảnh xã hội hoặc đặc điểm tiến
trình phát triển của VH. Đây là một vấn đề mang tính khái quát về mối quan hệ giữa hoàn
cảnh xã hội với nội dung và tiến trình phát triển của một giai đoạn VH cụ thể.
2.4. Hƣớng dẫn tổ chức cho học sinh thuyết trình trong giờ văn học sử
Việc vận dụng kiến thức VHS để thuyết trình giải quyết một vấn đề quả là không đơn
giản đối với mỗi HS. Nó yêu cầu HS phải biết sử dụng tổng hợp các kỹ năng cần thiết để
khẳng định lại kiến thức vừa học, đồng thời mở rộng thêm kiến thức trong mối liên quan với
kiến thức của nhiều môn học khác. Năng lực vận dụng kiến thức để thuyết minh sâu sắc và
trọn vẹn một vấn đề là một năng lực rất quan trọng và cần thiết. Khi thuyết trình một vấn đề
nào đó HS phải vận dụng tối đa sức mạnh trí tuệ, ý chí sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức
giải quyết vấn đề.
2.5. Hƣớng dẫn cho học sinh tập viết những bài tập ngắn, những thu hoạch nhỏ về kiến
thức văn học sử mà các em đã thu nhận đƣợc
giáo án, biện pháp này được chú trọng lồng với giai đoạn 1 của biện pháp hướng dẫn HS làm
việc với SGK.
Ba là GV đã phát huy tối đa nội lực của HS từ khả năng phân tích, tổng hợp, chứng
minh, khả năng huy động và lựa chọn tri thức đến tư duy logic sáng tạo để thực hành một vấn
đề VH thông qua biện pháp thuyết trình. Đây là một tri thức thực hành cần thiết cho năng lực
tự học của HS.
Bốn là để giải quyết được vấn đề GV đưa ra, HS cần phải trải nghiệm lại cả 4 biện
pháp đã được thực hiện trước và sau giờ học: từ việc đọc lại SGK, nhớ lại những tri thức đã
thu nhận được từ những cuộc tranh luận và thuyết trình với GV và bạn bè, đến việc đánh giá
kiểm nghiệm lại những hiểu biết của mình trước và sau giờ học.
3.4. Tiến hành thể nghiệm đối chứng
3.4.1. Đối tượng thể nghiệm đối chứng
- Về GV: Chọn những GV đang trực tiếp giảng dạy ở những lứa tuổi khác nhau có
kinh nghiệm từ 3 năm trở lên.
- Về HS: Thể nghiệm trên đối tượng HS không thuộc trường chuyên lớp chọn từ lớp
11 đến lớp 12.
3.4.2. Địa bàn, thời gian thể nghiệm, đối chứng:
- Do điều kiện và kinh phí hạn hẹp, chúng tôi tiến hành thể nghiệm, đối chứng tại 3
trường thuộc địa bàn thành phố Hải Phòng: THPT Nguyễn Đức Cảnh, THPT Thái Phiên,
THPT Ngô Quyền.
- Thời gian thể nghiệm, đối chứng: năm học 2008 – 2009
3.4.3. Nguyên tắc tiến hành thể nghiệm
Trong quá trình tổ chức thể nghiệm, GV tuân thủ những tình huống, thao tác học tập đã
đựơc dự kiến trong thiết kế. Sử dụng những biện pháp phù hợp với mục đích kích thích tính
tự giác chủ động của HS trong quá trình lĩnh hội kiến thức.
Việc tiến hành thể nghiệm cố gắng trong khoảng thời gian cho phép của bài học, kiểm
chứng và minh hoạ cho những giả thiết đã đưa ra trong luận văn, đối chứng và rút ra những
đánh giá nhận xét kết quả của giờ thể nghiệm, tính khả thi của việc hình thành và rèn luyện
năng lực tự học cho HS.
3.4.4. Biện pháp kiểm chứng
thức của HS trong thời gian lên lớp mà là cả một quá trình
Trong giờ học thử nghiệm, do có sự hướng dẫn của GV cho HS chuẩn bị bài ở nhà từ
trước, cho nên vào giờ học, HS không bị ngỡ ngàng mà hoàn toàn chủ động hoà nhịp vào bài
học.
Sau mỗi giờ học thử nghiệm, GV đưa ra bài tập ngắn giúp cho HS vận dụng và củng
cố kiến thức. Đây là biện pháp bắt buộc giúp cho HS phải tiếp tục nghiên cứu bài học để vận
dụng kiến thức một cách nhuần nhuyễn giải quyết vấn đề.
3.5.2.5. Giờ học thử nghiệm kích thích hứng thú, ham học của HS
Những tình huống học tập dựa trên cơ sở hệ thống câu hỏi đã thực sự kích thích hứng
thú, lòng ham học ở các em. Đây chính là cơ hội để rèn luyện cho HS một thói quen học tập
độc lập và tự giác.
3.5.3. Sau giờ học thử nghiệm chúng tôi tiến hành tham khảo ý kiến đánh giá của HS và
GV về giờ học VHS
* Về phía HS, phần lớn các em cho rằng đó là những giờ học thú vị bởi:
- Giờ văn hào hứng, sôi nổi, thoải mái.
- Các em thấy tự tin bởi mình có khả năng trả lời các câu hỏi mà GV đặt ra.
- Các em ý thức đựơc tầm quan trọng của bài VHS.
* Về phía GV
- GV sẽ thấy nhẹ nhàng trong việc truyền thụ tri thức cho HS. Có GV còn khẳng định
rằng chỉ cần nêu câu hỏi và gợi ý, HS đã tự hoàn thiện cho mình dàn ý của bài học, một dàn ý
mà chính GV cũng phải ngỡ ngàng.
3.5.4. Những vấn đề còn tồn tại trong quá trình thử nghiệm
- Để đạt được giờ học tốt GV phải hướng dẫn HS chuẩn bị bài ở nhà tốt nên một số
HS than phiền mất quá nhiều thời gian cho việc chuẩn bị bài ở nhà, ảnh hưởng tới những môn
học khác.
- Ở khối lớp 11, do những tình huống học tập và câu hỏi có vấn đề đưa ra còn ở mức
độ thấp nên HS và GV dễ dàng nắm bắt và thực hiện được gần như hoàn chỉnh thiết kế thử
nghiệm, riêng khối lớp 12 vì chưa được rèn luyện từ những khối lớp trước cho nên những vấn
đề đưa ra thảo luận và thuyết trình HS còn lúng túng.
3.5.5. Những suy nghĩ sau thử nghiệm
thức vào thực tế đời sống. Kiến thức bài VHS có mối liên hệ mật thiết với các phân môn khác
trong bộ môn VH. Vì vậy GV phải hướng dẫn HS cách xử lý và chế biến kiến thức VHS vào
các phân môn khác. Đây là một năng lực rất quan trọng thể hiện khả năng tự học độc lập của
HS.
Hình thành năng lực “Tự học” cho HS THPT là hình thành cho các em sự say mê
học hỏi. Đây chính là chìa khoá vàng để các em mở cánh cổng Đại học. Từ đó các em tự
mình học hỏi, nghiên cứu, cập nhật kiến thức ở bậc học cao hơn và ngoài xã hội. Các em có
bản lĩnh vững tin đi tiếp những năm tháng tiếp theo của cuộc đời.
Để lĩnh hội và vận dụng khoa học lý thuyết vào thực tiễn DH nói chung và DH VHS
nói riêng đạt hiệu quả tốt cần có sự nỗ lực vượt bậc của người nghiên cứu và người thực hiện.
Với xu thế phát triển của khoa học và xã hội, tác giả tin tưởng rằng, ý tưởng của luận văn sẽ
góp phần vào đổi mới phương pháp DH và hình thành cho HS những biện pháp tự học tốt
nhất. Tác giả hi vọng các bạn đồng nghiệp sẽ đón nhận và vận dụng vào DH để nâng cao
chất lượng giờ học VHS nói riêng và VH nói chung. References
1. Nguyễn Thị Bình. Bài phát biểu tại Hội thảo nghiên cứu và phát triển tự học tự đào tạo.
Tạp chí NCGD số 2/1998.
2. Nguyễn Duy Cần, Thu Giang. Tôi tự học. NXB Thanh niên 1999
3. Nguyễn Nghĩa Dân. Vì năng lực tự học sáng tạo của HS. Tạp chí NCGD số 2/1998
4. Gordon Dyden và Jeannett Vos. Cuộc cách mạng về học tập (The learning revolution).
Bản dịch của Quang Minh.
5. Đỗ Ngọc Đạt. Tiếp cận hiện đại hoạt động ngày học. NXB ĐHQGHN/1997
6. Phạm Văn Đồng. Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện. Tạp chí NCGD số 11 /
1973
7. Phạm Văn Đồng. Phương pháp tự học và lòng ham học đó là cái quý nhất. Tạp chí Tự
học số 9/2000
8. Antonne dela Garan Drie. Rèn luyện trí tuệ để thành đạt. NXB văn hoá thông tin 1998
9. Trần Bá Hoành. Vị trí của tự học, tự đào tạo. Tạp chí NCGD số 7/1998
32. V. Ôkôn. Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề. NXBGD Hà Nội 1986
33. Văn học lớp 11 tập I, Sách chỉnh lý hợp nhất 2007, NXB Giáo dục
34. Văn học lớp 12 tập I, Sách chỉnh lý hợp nhất 2007, NXB Giáo dục
35. Văn kiện Đại hội Đảng VIII, NXB Chính trị Quốc gia
36. Nguyễn Thị Hoàng Yến. Tự học – Một tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dạy
học. Tạp chí tự học, 2000