ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÙI LƯƠNG VẺ
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC
SINH LỚP 12 QUA DẠY HỌC PHƯƠNG PHÁP
TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 60 14 01 11 HÀ NỘI – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
suốt thời gian qua đã tận tình hướng dẫn tác giả nghiên cứu hoàn thiện luận văn
đúng thời hạn.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, các thầy
giáo, cô giáo và các em học sinh trường Trung học phổ thông Tân Lập (Hà Nội) đã
giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành bản luận văn.
Lời cảm ơn chân thành của tác giả cũng xin được dành cho gia đình, người
thân và các bạn học viên lớp Lý luận và Phương pháp dạy học môn Toán K8 -
Trường Đại học Giáo dục trong suốt thời gian qua đã cổ vũ, động viên và đóng góp
ý kiến.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song luận văn chắc không tránh khỏi những
thiết sót, tác giả mong được tiếp thu những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô và
các đồng nghiệp.
Xin Trân trọng cảm ơn.
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Tác giả Bùi Lương Vẻ 3
MỤC LỤC
4
2.2.3. Giáo án dạy học một số nội dung phương pháp tọa độ trong không gian theo
hướng phát triển năng lực tự học của học sinh 94
Kết luận Chương 2 105
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 106
3.1. Mục đích thực nghiệm 106
3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm 106
3.3. Phương pháp thực nghiệm 106
3.4. Tổ chức thực nghiệm 107
3.4.1. Đối tượng thực nghiệm 107
3.4.2. Kế hoạch thực hiện 107
3.4.3. Tiến hành thực nghiệm 107
3.5. Nội dung thực nghiệm 107
3.5.1. Nội dung thực nghiệm 1 107
lớp đối chứng 111
3.5.2. Nội dung thực nghiệm 2 111
Kết luận Chương 3 115
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117 6
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Biểu đồ so sánh kết quả của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 111
Biểu đồ 3.2. Biểu đồ so sánh kết quả của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 1141
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỉ XXI, nền kinh tế, khoa học kỹ thuật đã có những tiến bộ
vượt bậc. Chúng ta hiện đang sống trong xã hội tri thức- đây là một hình thái xã hội
mà trong đó tri thức trở thành yếu tố quyết định đối với nền kinh tế của một quốc
gia. Con người là yếu tố trung tâm trong xã hội tri thức, là chủ thể kiến tạo xã hội.
Đối với con người cá thể, tri thức là một cơ sở để xác định vị trí xã hội và khả năng
hành động. Giáo dục đóng vai trò then chốt trong trong việc đào tạo con người và
sự phát triển xã hội. Nhận thức sâu sắc vai trò của giáo dục trong việc khẳng định vị
thế của Việt Nam trên trường quốc tế, ngay trong Hiến pháp nước CHXHCN Việt
Nam đã khẳng định: “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu” [16]. Trong giai đoạn hiện
nay, giáo dục cần thực hiện tốt ba mục tiêu cơ bản sau:
1. Mục tiêu trí dục: cung cấp nền học vấn cơ bản, giúp học sinh hướng
nghiệp một cách hiệu quả.
2. Mục tiêu phát triển : giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức, hình
thành nhân cách toàn diện .
3. Mục tiêu giáo dục : giáo dục thế giới quan duy vật khoa học, thái độ , xúc
cách học. Học cách học chính là học cách tự học, tự đào tạo.
Nói tới phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học, đó là cầu nối
giữa học tập và nghiên cứu khoa học. Nếu phát triển cho người học có được kỹ
năng, phương pháp, thói quen tự học, biết ứng dụng những điều đã học vào những
tình huống mới, biết tự lực phát hiện và giải quyết những vấn đề gặp phải thì sẽ tạo
cho họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có của mỗi người. Học tập Toán
không thể không đi theo xu thế đó. Đặc biệt phần tọa độ hóa hình học không gian là
phần không thể thiếu trong chương trình toán phổ thông vì nhiệm vụ của nội dung
phương pháp tọa trong không gian thuộc môn Hình học không gian là cung cấp
những kiến thức cơ bản về Hình học không gian ba chiều một cách có hệ thống và
tiếp tục phát triển, phát triển tư duy lôgic, trí tưởng tượng không gian, kĩ năng vận
dụng các kiến thức hình học vào giải quyết bài tập bằng phương pháp tọa độ hóa,
các hoạt động thực tiễn và vào các môn học khác. Tuy nhiên đây lại là phần tương
đối khó đối với học sinh do vậy mà không phải học sinh nào cũng đủ thời gian để
thấu hiểu, ghi nhớ và vận dụng những kiến thức mà giáo viên truyền thụ ở trên lớp.
Vì vậy, việc tự học của học sinh là rất quan trọng và cần thiết.
3
Với những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Phát triển năng lực tự học
cho học sinh lớp 12 qua dạy học phương pháp tọa độ trong không gian”
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Trong lịch sử của nền giáo dục Việt Nam, vấn đề tự học đã được phát động,
nghiên cứu và triển khai rộng rãi. Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng chính cuộc đời của
Người là tấm gương sáng ngời về con đường tự học. Người thấy rõ vai trò của học
tập. Người cho rằng: học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời… không ai có thể tự
cho mình biết đủ rồi. Theo Người muốn học suốt đời thì phải tự học. Một trong các
nguyên tắc tự học của Người là học đến đâu, luyện tập và thực hành đến đó. Có thể
nói tự học là một tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cách học, những lời chỉ
dẫn quý báu và những bài học kinh nghiệm sâu sắc rút ra từ chính tấm gương tự học
bền bỉ và thành công của Người cho đến nay vẫn mang giá trị to lớn.
Phương pháp tọa độ trong không gian ” trong chương trình Hình học lớp 12 ban cơ
bản hướng tới hình thành thói quen học suốt đời.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung vào năm nhiệm vụ cơ bản sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề tự học và việc dạy học
phần phương pháp tọa độ trong không gian.
- Tìm hiểu thực trạng dạy học toán trường Trung học phổ thông Tân Lập theo góc
độ dạy tự học.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển năng lực tự học toán cho học sinh.
- Đề xuất một số phương án dạy học một số nội dung phương pháp tọa độ trong
không gian theo hướng phát triển năng lực tự học của học sinh.
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của phương án đã xây dựng và các
giải pháp đã đề xuất, từ đó rút ra kết luận về khả năng áp dụng đối với phương án đã đề
xuất.
5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học phần phương pháp tọa độ trong
không gian ở trường Trung học phổ thông.
- Đối tượng nghiên cứu: xây dựng phương án dạy học nội dung phương
pháp tọa độ trong không gian nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh lớp 12. 5
6. Vấn đề nghiên cứu
Dạy học nội dung phương pháp tọa độ trong không gian Hình học 12
ban cơ bản như thế nào thì góp phần phát triển được năng lực tự học của học sinh?
7. Giả thuyết khoa học
Dạy học nội dung phương pháp tọa độ trong không gian theo định hướng
phát triển năng lực tự học của học sinh sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ
môn Toán trong trường Trung học phổ thông.
8. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các giải pháp đã được đề xuất trong luận văn.
11. Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,
Luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2. Một số giải pháp nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
thông qua dạy học nội dung phương pháp tọa độ trong không gian.
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm 7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Một số vấn đề về tự học
1.1.1. Quan niệm về hoạt động học tập
Trong cuộc sống hằng ngày con người luôn luôn có quá trình tiếp thu, tích
luỹ những kinh nghiệm sống. Đó chính là việc học, là cách học theo phương pháp
của cuộc sống thường ngày. Trên thực tế, chỉ có phương thức đặc thù (phương thức
nhà trường) mới có khả năng tổ chức để cá nhân tiến hành hoạt động đặc biệt đó là
hoạt động học, qua đó hình thành ở cá nhân những tri thức khoa học, năng lực mới
phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn. Trong tâm lý học sư phạm, hoạt động học là khái
niệm chính được dùng để chỉ hoạt động học diễn theo phương thức đặc thù, nhằm
chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo.
Hoạt động học tập là hoạt động chuyên hướng vào sự tái tạo lại tri thức ở
người học. Sự thuận lợi cho người học ở đây đó là con đường đi mà để phát hiện lại
đã được các nhà khoa học tìm hiểu trước. Và để tái tạo lại, người học không có cách
gì khác đó là phải huy động nội lực của bản thân (động cơ, ý chí, …), càng phát huy
tập của bản thân.
Trong trường phổ thông, tự học được hiểu là quá trình chủ động, tự giác của
người học nhằm nắm bắt các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo dưới sự hướng dẫn, hỗ trợ
của giáo viên.
1.1.3. Các mức độ của tự học
Có nhiều quan điểm khác nhau khi phân chia các hình thức tự học. Tuy nhiên
nếu căn cứ vào sự tác động của giáo viên thì có thể chia thành ba mức độ như sau:
Mức độ một: hoạt động tự học của học sinh diễn ra dưới sự điều khiển của
giáo viên với sự hỗ trợ của các phương tiện giảng dạy. Trong hình thức này việc tự
học của học sinh chịu sự định hướng, điều khiển của giáo viên nhằm đạt được mục
tiêu của tiết học đã xác định trước. Khi đó việc tự học của học sinh có đủ các yếu tố:
giáo viên, bạn, Sách giáo khoa, tài liệu tham khảo,
Mức độ hai: hoạt động tự học của học sinh diễn ra ở ngoài lớp học nhằm
đáp ứng yêu cầu các môn học đã được học trong nhà trường. Ở hình thức này, việc
tự học của học sinh diễn ra không có giáo viên bên cạnh, người học chỉ có tài liệu
liên quan đến môn học và các hướng dẫn, yêu cầu của giáo viên đối với các môn
học. Trong trường hợp này học sinh phải tự tổ chức việc học tập của bản thân ở nhà
nhằm tiếp thu kiến thức, ôn tập, hệ thống hóa, tổng quát hóa thông qua các hình
9
thức như làm các bài tập, phát triển kĩ năng, kỹ xảo thực hiện các yêu cầu của
giáo viên để đáp ứng yêu cầu của việc lĩnh hội tri thức các môn học.
Mức độ ba: hoạt động tự học diễn ra nhằm đáp ứng nhu cầu hiểu biết riêng,
bổ sung và mở rộng, nâng cao các kiến thức trong khung chương trình đào tạo của
nhà trường nhằm mở mang hiểu biết của bản thân. Ở hình thức này, người học hoàn
toàn chủ động lựa chọn kiến thức cần bổ sung, cần mở rộng thông qua tự lựa chọn
tài liệu. Người học tự đọc tài liệu để hiểu biết và tiếp thu các tri thức trong tài liệu
để hiểu biết, điều chỉnh và sắp xếp, bổ sung vào hệ thống tri thức bản thân đã có. Có
lẽ đây là hình thức tự học rất cao, đòi hỏi ở người học có những kiến thức nhất định
bởi vì lúc này người học phải hoàn toàn tự mình tổ chức toàn bộ các hoạt động.
toán học để giải quyết các vấn đề của thực tiễn đáp ứng nhu cầu đời sống hiện tại và
tương lai một cách linh hoạt; khả năng phân tích, suy luận, lập luận khái quát hóa,
trao đổi thông tin một cách hiệu quả thông qua việc đặt ra, hình thành và giải quyết
vấn đề toán học trong các tình huống, hoàn cảnh khác nhau ”.
Qua quá trình giảng dạy có thể nhận thấy biểu hiện năng lực tự học của học
sinh có thể quan sát được nhưng cũng có những biểu hiện không quan sát được.
Năng lực tự học có thể quan sát được hiểu theo nghĩa là giáo viên và những người xung
quanh quan sát hoạt động của học sinh có thể biết học sinh đang làm gì và có thể biết
chất lượng các hoạt động đó. Còn các hoạt động tự học không quan sát được là các
hoạt động sử dụng các kỹ năng tư duy diễn ra trong “đầu” của người học.
- Nhóm kỹ năng tự học thuộc các hoạt động có thể quan sát được:
Kỹ năng nghe giảng trong tự học toán: đó là quá trính thu nhận thông tin qua
lời của giáo viên. Kết quả sau khi nghe giảng là sự thể hiện trình độ tiếp nhận vấn
đề và trình độ tự học của người học.
Kỹ năng ghi chép trong tự học toán: ghi chép là thao tác phổ biến trong hoạt động
tự học của học sinh. Ghi chép mang sắc thái và thể hiện trình độ tự học của cá nhân.
Kỹ năng hỏi trong tự học toán: có hai hình thức chủ yếu: tự hỏi và hỏi người
khác. Bản thân người học tự đặt câu hỏi rồi tự trả lời, điều này giúp phát triển tư
duy rất tốt. Nếu không trả lời được thì hỏi bạn, hỏi giáo viên, hỏi người khác
Kỹ năng đọc, xem tài liệu tham khảo và khai thác thông tin: đối với tự học
Toán thì việc sử dụng Sách giáo khoa, Sách tham khảo, Tài liệu tham khảo, đặc biệt
ngày nay là sử dụng Internet là việc làm cần thiết và thường xuyên. Đó là nguồn tư
liệu phong phú, bổ sung cho việc nghe giảng và ghi chép rất tốt.
11
Kỹ năng giao tiếp với thầy và bạn trong quá trình tự học: có thể thông qua
các hình thức: trao đổi, thảo luận, đặt câu hỏi, về nội dung học tập.
Kỹ năng vận dụng kiến thức toán tích lũy được vào học tập và xử lý các tình
huống thực tiễn cuộc sống. Kỹ năng này được thể hiện giải các bài toán, biết chứng
minh, vận dụng tốt các khái niệm, định lý toán học, biết áp dụng vào các môn học
xây dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn là việc cần làm đầu tiên. Bởi vì, thành
công hay không thì không bao giờ là kết quả của một quá trình ngẫu hứng tùy ý,
tùy tiện thiếu tính toán. Có động cơ học tập tốt khiến cho người ta luôn tự giác say
mê, học tập với những mục tiêu cụ thể rõ ràng với niềm vui sáng tạo bất tận.
Trong động cơ học tập của học sinh, có thể tách thành hai nhóm cơ bản: Các động
cơ hứng thú nhận thức và các động cơ trách nhiệm trong học tập. Thông thường
nhóm động cơ hứng thú nhận thức hình thành và đến với người học một cách tự
nhiên khi bài học có nội dung mới lạ, thú vị, bất ngờ, động và chứa nhiều những
yếu tố nghịch lý, gợi sự tò mò. Còn nhóm động cơ nhiệm vụ và trách nhiệm thì bắt
buộc người học phải liên hệ với ý thức về ý nghĩa xã hội của sự học cũng như trách
nhiệm với bản thân, gia đình, thầy cô, uy tín, danh dự trước bạn bè Từ đó người học
mới có ý thức kỉ luật trong học tập, nghiêm túc, tự giác thực hiện mọi nhiệm vụ học
tập, những yêu cầu từ giáo viên, phụ huynh.
Cả hai nhóm động cơ trên không phải là một quá trình hình thành tự phát, cũng không
đem lại từ bên ngoài mà nó hình thành và phát triển một cách tự giác, bên trong.
- Xây dựng kế hoạch học tập:
Việc tự học sẽ có hiệu quả nếu kế hoạch được xác định rõ ràng với tính hướng đích
cao. Tức là kế hoạch ngắn hạn, dài hơn được lập rõ ràng, nhất quán cho từng Bước
điểm, từng giai đoạn cụ thể sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mình. Sau
đó là phải chọn đúng trọng tâm, cốt lõi để có sự ưu tiên tác động trực tiếp và dành
Bước gian cho nó. Sau khi xác định được trọng tâm, xác định các phần một cách
hợp lý logic về nội dung và thời gian, đặc biệt tập trung hoàn thành dứt điểm từng
phần, từng hạng mục theo thứ tự. Điều này sẽ giúp cho quá trình tự học được trôi
chảy và thuận lợi.
- Thực hiện chiến lược:
Đây là giai đoạn quyết định và chiếm nhiều thời gian, công sức nhất. Khối lượng
kiến thức và các kỹ năng toán học được hình thành nhanh hay chậm, nắm bắt vấn đền
nông hay sâu, rộng hay hẹp, bền vững hay không tùy thuộc vào nội lực của chính bản
thân người học trong bước mang tính đột phá này. Có thể kể đến các hoạt động:
tương tác giữa người dạy và người học nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng
và giáo dục. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là nhấn mạnh vai trò người thầy, mà
14
ở đây thầy giữ vai trò chủ đạo còn trò là chủ thể của quá trình học tập với các hoạt
động tự giác, tích cực.
1.3.2. Tổng thể các phương pháp dạy học
Hiện nay có nhiều hệ thống phân loại các phương pháp dạy học nhưng chưa
hoàn chỉnh và chưa nhận được sự thống nhất trên phạm vi quốc tế. Có điều đó là do
tính nhiều chiều của phương pháp dạy học. Tùy theo xét về phương diện này hay
phương diện khác mà có thể liệt kê các phương pháp dạy học theo cách này hay
cách khác. Một hệ thống chặt chẽ về phương pháp dạy học chưa chắc đã có giá trị
trong thực tiễn. Vấn đề quan trọng là người giáo viên phải biết xem xét các phương
diện khác nhau, biết lựa chọn, sử dụng những phương pháp cho đúng lúc, đúng chỗ
và biết vận dụng phối hợp một số trong các phương pháp đó khi cần thiết. Có thể
trình bày các phương pháp dạy học thành một tổng thể theo các phương diện sau:
- Những chức năng điều hành quá trình dạy học:
Đảm bảo trình độ xuất phát; hướng đích và gợi động cơ; làm việc với nội dung mới;
củng cố (được thực hiện qua các hình thức: nhắc lại, đào sâu, luyện tập, hệ thống
hóa và thực hành); kiểm tra và đánh giá; hướng dẫn công việc về nhà.
- Những con đường nhận thức: suy diễn; quy nạp.
- Những hình thức hoạt động bên ngoài của giáo viên và học sinh:
Giáo viên thuyết trình; giáo viên, học sinh vấn đáp; học sinh hoạt động độc lập.
- Những mức độ tìm tòi khám phá:
Truyền thụ những tri thức dưới dạng có sẵn; dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề.
- Những hình thức tổ chức dạy học:
Căn cứ vào số lượng học sinh trong đơn vị học tập, có thể có các hình thức: dạy học
theo lớp, dạy học theo nhóm, dạy học theo từng cặp.
- Những phương tiện dạy học:
Sử dụng phương tiện nghe nhìn; sử dụng phương tiện chương trình hóa; làm việc
nhận thức của học sinh là các phương pháp phát triển và phát triển được năng lực tự
học của học sinh.
Điều kiện tiên quyết để phát triển tính độc lập tư duy là việc nắm tri thức mới
bằng con đường giải quyết các vấn đề. Một mức độ thấp hơn của tính độc lập là tự
giải quyết vấn đề do một người khác đặt ra và tùy theo khả năng tìm cách kiểm tra
kết quả. Tính độc lập trong tư duy và trong hành động của học sinh là biểu hiện
quan trọng của tính tích cực. Tính độc lập cũng tạo điều kiện thuận lợi để phát triển
các trí tuệ khác của học sinh như tư duy sáng tạo, lòng dũng cảm Vậy phương pháp
16
dạy học mà theo đó phát triển, phát triển được tính độc lập của tư duy cũng chính là
phương pháp dạy học phát triển, phát triển được năng lực tự học của học sinh.
Việc giải quyết độc lập những bài toán có tính vấn đề sẽ thúc đẩy sự phát
triển năng lực sáng tạo. Tính sáng tạo của tư duy chỉ có thể được nảy nở trên cơ sở
của tư duy độc lập. Tính độc lập của tư duy và tính sáng tạo không khác nhau về
bản chất. Tư duy sáng tạo là một dạng tư duy độc lập tạo ra ý tưởng mới, độc đáo và
có hiệu quả cao. Dạy học phát triển, phát triển được tư duy sáng tạo chính là đã phát
triển năng lực tự học, tự nghiên cứu ở trình độ cao nhất. Khi đã có tư duy sáng tạo
thì học sinh luôn luôn tự mình đặt ra các vấn đề, giải quyết chúng theo những
hướng, cách thức rất độc đáo. Do vậy, các phương pháp phát triển, phát triển được
tư duy sáng tạo cho học sinh cũng chính là các phương pháp phát triển và phát triển
được năng lực tự học cho học sinh, hơn nữa còn ở mức độ cao nhất.
Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh không có nghĩa là gạt bỏ, loại
trừ, thay thế hoàn toàn các phương pháp dạy học truyền thống, hay phải "nhập nội"
một số phương pháp xa lạ vào quá trình dạy học. Vấn đề là ở chỗ cần kế thừa, phát
triển những mặt tích cực của phương pháp dạy học hiện có, đồng thời phải học hỏi,
vận dụng một số phương pháp dạy học mới một cách linh hoạt nhằm phát huy tính
tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập, phù hợp với hoàn cảnh điều
kiện dạy và học cụ thể.
1.4. Thực trạng của vấn đề dạy học toán theo hướng tự học ở trường
làm việc nhóm của học sinh, làm cho học sinh máy móc, không sáng tạo trong việc
chiếm lĩnh tri thức và phát triển kỹ năng.
Vậy có thể thấy rằng, tuy giáo viên và học sinh cũng đã có chút ít nhận thức
được về vấn đề tự học (ở nhà), nhưng do nhiều nguyên nhân mà chất lượng của tự
học còn chưa cao. Để khắc phục tình trạng này, giáo viên cần nhận thức rõ hơn và
có các biện pháp định hướng, điều khiển, kiểm tra thường xuyên việc tự học của
học sinh; đồng thời phải tác động tích cực đến những yếu tố ảnh hưởng đến việc tự
học làm tăng cường ý thức của học sinh trong vấn đề tự học.
Kết luận Chương 1
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn đã trình bày ở trên, chúng tôi có thể
kết luận rằng:
Việc tự học của học sinh là một hình thức học mà ở đó phát huy cao nhất vai trò
chủ thể tích cực độc lập nhận thức của học sinh. Do vậy, muốn có một kết quả học tập cao
đòi hỏi học sinh cần phải có một quá trình phát triển năng lực tự học, trong đó người giáo
viên phải là người biết tác động, biết giáo dục, biết tổ chức nhằm hình thành ở học sinh
những năng lực tự học, từ đó có thể phát triển và phát triển năng lực tự học tốt hơn.
18
CHƯƠNG 2
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO
HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC NỘI DUNG
PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN
2.1. Phân tích nội dung chương “ Phương pháp tọa độ trong không gian”
2.1.1 Đặc điểm của chương
- Bộ môn hình học không gian rất trừu tượng, đòi hỏi học sinh phải có trí
tưởng tượng thật phong phú thì mới học tốt được bộ môn này.
- Dùng hệ tọa độ chuyển những hình ảnh hình học không gian về ngôn ngữ
đại số, tức là về dạng phương trình.
- Xây dựng một “mô hình bằng số thực” để thể hiện các khái niệm