Phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 12 qua dạy học phương pháp tọa độ trong không gian - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÙI LƯƠNG VẺ

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC
SINH LỚP 12 QUA DẠY HỌC PHƯƠNG PHÁP
TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN

Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 60 14 01 11

HÀ NỘI - 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÙI LƯƠNG VẺ

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC
SINH LỚP 12 QUA DẠY HỌC PHƯƠNG PHÁP
TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN

Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 60 14 01 11



MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU ................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN..............................................7 1.1.
Một số vấn đề về tự học....................................................................................7 1.1.1.
Quan niệm về hoạt động học tập............................................................................7 1.1.2.
Quan niệm về tự học ..............................................................................................7 1.1.3.
Các mức độ của tự học...........................................................................................8 1.1.4.
Đặc trưng của hoạt động tự học .............................................................................9 1.2.
Năng lực và năng lực tự học toán của học sinh Trung học phổ thông. .............10 1.2.1.
Biểu hiện năng lực tự học toán của học sinh .......................................................10 1.2.2.
Quy trình hoạt động tự học toán ..........................................................................11 1.3.
Phương pháp dạy học với vấn đề phát triển năng lực tự học toán của học sinh 13 1.3.1.
Phương pháp dạy học...........................................................................................13 1.3.2.
Tổng thể các phương pháp dạy học .....................................................................14 1.3.3.
Phương pháp dạy học và vấn đề phát triển năng lực tự học toán của học sinh ...15 1.4.
Thực trạng của vấn đề dạy học toán theo hướng tự học ở trường Trung học phổ thông
Tân Lập .......................................................................................................16 Kết luận
Chương 1 ................................................................................................17
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ
HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC NỘI DUNG PHƯƠNG
PHÁP TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN .........................................................18
2.1. Phân tích nội dung chương " Phương pháp tọa độ trong không gian"..................18
2.1.2. Yêu cầu dạy học chương "Phương pháp tọa độ trong không gian"...............18
2.1.3. Nội dung và phân phối chương trình chương ...............................................20
2.2. Một số giải pháp nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua dạy
học nội dung phương pháp tọa độ trong không gian ..............................................21


5


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Biểu đồ so sánh kết quả của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng ....... 111
Biểu đồ 3.2. Biểu đồ so sánh kết quả của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng ....... 114

6


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỉ XXI, nền kinh tế, khoa học kỹ thuật đã có những tiến bộ
vượt bậc. Chúng ta hiện đang sống trong xã hội tri thức- đây là một hình thái xã hội mà
trong đó tri thức trở thành yếu tố quyết định đối với nền kinh tế của một quốc gia. Con
người là yếu tố trung tâm trong xã hội tri thức, là chủ thể kiến tạo xã hội. Đối với con
người cá thể, tri thức là một cơ sở để xác định vị trí xã hội và khả năng hành động. Giáo
dục đóng vai trò then chốt trong trong việc đào tạo con người và sự phát triển xã hội.
Nhận thức sâu sắc vai trò của giáo dục trong việc khẳng định vị thế của Việt Nam trên
trường quốc tế, ngay trong Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam đã khẳng định: " Giáo
dục là quốc sách hàng đầu" [16]. Trong giai đoạn hiện
nay, giáo dục cần thực hiện tốt ba mục tiêu cơ bản sau:
1. Mục tiêu trí dục: cung cấp nền học vấn cơ bản, giúp học sinh hướng nghiệp
một cách hiệu quả.
2.

Mục tiêu phát triển : giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức, hình


yêu cầu của một thế giới thay đổi nhanh chóng. Muốn vậy cần phải có thói quen học tập
riêng và phải tự học là chính chứ không phải chỉ học trong các nhà trường là chính. Sẽ
không bắt kịp với thời đại nếu người học không học cách học. Học cách học chính là học
cách tự học, tự đào tạo.
Nói tới phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học, đó là cầu nối giữa
học tập và nghiên cứu khoa học. Nếu phát triển cho người học có được kỹ năng,
phương pháp, thói quen tự học, biết ứng dụng những điều đã học vào những tình
huống mới, biết tự lực phát hiện và giải quyết những vấn đề gặp phải thì sẽ tạo cho họ
lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có của mỗi người. Học tập Toán không thể
không đi theo xu thế đó. Đặc biệt phần tọa độ hóa hình học không gian là phần không
thể thiếu trong chương trình toán phổ thông vì nhiệm vụ của nội dung phương pháp
tọa trong không gian thuộc môn Hình học không gian là cung cấp những kiến thức
cơ bản về Hình học không gian ba chiều một cách có hệ thống và tiếp tục phát triển,
phát triển tư duy lôgic, trí tưởng tượng không gian, kĩ năng vận dụng các kiến thức
hình học vào giải quyết bài tập bằng phương pháp tọa độ hóa, các hoạt động thực tiễn
và vào các môn học khác. Tuy nhiên đây lại là phần tương đối khó đối với học sinh
do vậy mà không phải học sinh nào cũng đủ thời gian để thấu hiểu, ghi nhớ và vận
dụng những kiến thức mà giáo viên truyền thụ ở trên lớp. Vì vậy, việc tự học của học
sinh là rất quan trọng và cần thiết.
2


Với những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài: "Phát triển năng lực tự học
cho học sinh lớp 12 qua dạy học phương pháp tọa độ trong không gian"
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Trong lịch sử của nền giáo dục Việt Nam, vấn đề tự học đã được phát động,
nghiên cứu và triển khai rộng rãi. Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng chính cuộc đời của
Người là tấm gương sáng ngời về con đường tự học. Người thấy rõ vai trò của học tập.
Người cho rằng: học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời… không ai có thể tự cho mình
biết đủ rồi. Theo Người muốn học suốt đời thì phải tự học. Một trong các nguyên tắc tự

Dạy học nội dung phương pháp tọa độ trong không gian Hình học 12
ban cơ bản như thế nào thì góp phần phát triển được năng lực tự học của học sinh?
7. Giả thuyết khoa học
Dạy học nội dung phương pháp tọa độ trong không gian theo định hướng
phát triển năng lực tự học của học sinh sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ
môn Toán trong trường Trung học phổ thông.
8. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các bài tập hình học không gian của chương " Phương pháp tọa
độ trong không gian " trong sách giáo khoa và sách bài tập Hình học 12 Ban cơ bản và
các sách tham khảo.
9. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
-Ý nghĩa lý luận
+ Bước đầu xác định được cơ sở lí luận cơ bản về tự học và quá trình dạy
học theo hướng dạy cách tự học.
+ Xác định cấu trúc của năng lực tự học toán, biểu hiện cụ thể của năng lực
tự học toán của học sinh Trung học phổ thông, hệ thống kỹ năng tự học chủ yếu,
mối quan hệ giữa hoạt động dạy học toán và vấn đề phát triển năng lực toán học.
+ Đề ra phương án dạy học nội dung phương pháp tọa độ trong không gian
theo hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh Trung học phổ thông trong quá
trình dạy học toán.
-Ý nghĩa thực tiễn
+ Nội dung luận văn có thể giúp giáo viên có thêm tư liệu phục vụ việc giảng
dạy chương " Phương pháp tọa độ trong không gian " trong chương trình Hình học
lớp 12 Ban cơ bản.
+ Giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giải bài toán hình học tọa độ trong không
gian góp phần nâng cao chất lượng dạy học Toán trong trường phổ thông.
10. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu lí luận: Các cơ sở tâm lý học, giáo dục học và dạy học môn
Toán; các định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn Toán; các tài liệu, sách báo

chính được dùng để chỉ hoạt động học diễn theo phương thức đặc thù, nhằm chiếm
lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo.
Hoạt động học tập là hoạt động chuyên hướng vào sự tái tạo lại tri thức ở
người học. Sự thuận lợi cho người học ở đây đó là con đường đi mà để phát hiện lại đã
được các nhà khoa học tìm hiểu trước. Và để tái tạo lại, người học không có cách gì
khác đó là phải huy động nội lực của bản thân (động cơ, ý chí, …), càng phát huy cao
bao nhiêu thì việc tái tạo lại càng diễn ra tốt bấy nhiêu. Do đó hoạt động học làm thay
đổi chính người học. Việc học không chỉ dừng lại ở việc nắm bắt những khái niệm
đời thường mà học phải tiến đến những tri thức khoa học, những tri thức có tính chọn
lựa cao, đã được khái quát hoá, hệ thống hoá.
Hoạt động học tập không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kĩ năng, kĩ
xảo mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động
học. Hoạt động học muốn đạt kết quả cao, người học phải biết cách học, phương
pháp học. Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi học sinh. Do đó nó giữ
vai trò chủ đạo trong việc hình thành và phát triển tâm lý của người học trong lứa tuổi
này.
1.1.2. Quan niệm về tự học
Trong lịch sử giáo dục, vấn đề tự học được quan tâm từ rất sớm, được đề cập
và nhìn nhận theo nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Tự học (self-learning) là quá trình người học nỗ lực chiếm lĩnh tri thức bằng
hành động của chính mình, hướng tới mục đích nhất định.
7


Theo từ điển : "Tự học là quá trình chủ thể nhận thức tự mình hoạt động lĩnh
hội tri thức và phát triển kĩ năng thực hành, không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo
viên và sự quản lí trực tiếp của cơ sở giáo dục đào tạo".
Theo tác giả Hồ Chí Minh: tự học là học một cách tự động, tức là: học tập một
cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự
mình chủ động vạch kế hoạch một cách tự giác, tự mình làm chủ Bước gian để học và

Mức độ ba: hoạt động tự học diễn ra nhằm đáp ứng nhu cầu hiểu biết riêng, bổ
sung và mở rộng, nâng cao các kiến thức trong khung chương trình đào tạo của nhà
trường nhằm mở mang hiểu biết của bản thân. Ở hình thức này, người học hoàn toàn
chủ động lựa chọn kiến thức cần bổ sung, cần mở rộng thông qua tự lựa chọn tài liệu.
Người học tự đọc tài liệu để hiểu biết và tiếp thu các tri thức trong tài liệu để hiểu biết,
điều chỉnh và sắp xếp, bổ sung vào hệ thống tri thức bản thân đã có. Có lẽ đây là hình
thức tự học rất cao, đòi hỏi ở người học có những kiến thức nhất định bởi vì lúc này
người học phải hoàn toàn tự mình tổ chức toàn bộ các hoạt động.
1.1.4. Đặc trưng của hoạt động tự học
Hoạt động tự học có nhiều đặc trưng, tuy nhiên có thể kể tới bốn đặc trưng
cơ bản sau:
- Tự học có tính độc lập cao. Chính người học là tác nhân đầu tiên thực hiện
quá trình học cho đến khi kết thúc. Tính tích cực, chủ động trong hoạt động học đã
quan trọng nhưng nó càng có vai trò quan trọng hơn trong tự học, nó được coi như là
một công cụ hỗ trợ đắc lực giúp cá nhân tích lũy kinh nghiệm, tri thức và hoàn thiện
nhân cách.
- Đối với tự học, động cơ có vai trò quan trọng. Đó là nguồn kích thích, là tiềm
lực bên trong gây hứng thú khi người học tham gia quá trình học. Nhờ vào các hứng
thú, người học tham gia tích cực và biết tiếp tục quá trình học bằng cách tạo cho nó
một hình thức phù hợp với tính cách của mình. Khi đã là chủ thể học thì người học đã
tự giác xác định được động cơ, mục đích học tập.Tự học lúc này là quá trình học tự
giác, chủ động, có phong cách và phương pháp cá nhân; có mục tiêu và giải pháp cá
nhân gắn với nhu cầu giá trị và khả năng cá nhân.
- Trong hoạt động tự học thì khả năng lựa chọn về nội dung, phương pháp và
hình thức tổ chức học là cao và rất rộng rãi. Sự lựa chọn này nhằm có sự điều chỉnh
phù hợp giữa người học với các điều kiện bên ngoài. Đây là một đặc trưng mà chỉ
trong hoạt động tự học mới có.
- Mỗi cá nhân có một phương pháp học tập, cách thức tổ chức học tập là khác
nhau, đặc trưng riêng cho cá nhân đó, nên có thế nói phương pháp tự học
9

nay là sử dụng Internet là việc làm cần thiết và thường xuyên. Đó là nguồn tư liệu
phong phú, bổ sung cho việc nghe giảng và ghi chép rất tốt.

10


Kỹ năng giao tiếp với thầy và bạn trong quá trình tự học: có thể thông qua
các hình thức: trao đổi, thảo luận, đặt câu hỏi,...về nội dung học tập.
Kỹ năng vận dụng kiến thức toán tích lũy được vào học tập và xử lý các tình
huống thực tiễn cuộc sống. Kỹ năng này được thể hiện giải các bài toán, biết chứng minh,
vận dụng tốt các khái niệm, định lý toán học,... biết áp dụng vào các môn học khác
như Hóa, Lý, Sinh,...đặc biệt là biết xây dựng mô hình toán học của các tình huống
thực tế, áp dụng công thức toán học giải quyết bài toán thực tế.
- Nhóm kỹ năng tự học thuộc các hoạt động không thể quan sát được:
Nhóm kỹ năng liên quan đến động cơ và mục đích: Như tự xác định nhu cầu,
mục đích học tập, động cơ học tập.
Nhóm kỹ năng liên quan đến trí tuệ: Năng lực này đòi hỏi học sinh phải quan sát,
phân tích, tổng hợp, so sánh, suy luận, khái quát hóa các tài liệu Toán học, kiến thức
Toán học; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những tri thức, kinh nghiệm
cá nhân... Ngoài ra nhóm kỹ năng này còn kể đến khả năng tư duy độc lâp, tư duy linh
hoạt, tư duy sáng tạo trong học toán, hay các kỹ năng tư duy logic, sử
dụng ngôn ngữ chính xác, kỹ năng suy đoán và tưởng tượng…
Nhóm các kỹ năng liên quan đến năng lực toán học: Như các kỹ năng thu
nhận thông tin toán học, kỹ năng lưu trữ các thông tin toán học.
Nhóm kỹ năng tổ chức hoạt động tự học toán: tự xây dựng kế hoạch tự học, tự
thực hiện kế hoạch và tự kết thúc kế hoạch: tự đánh giá việc thực thi kế hoạch,có sự
điều chỉnh rút ra kinh nghiệm cần thiết trong tự học.
Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá: Đó là những kỹ năng đánh giá cách giải quyết vấn
đề, đánh giá việc thảo luận, kết luận của bạn, của bản thân, của giáo viên,.., kỹ
năng rút ra sai lầm, thiếu hụt về mặt kiến thức,…

từng giai đoạn cụ thể sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mình. Sau đó là phải
chọn đúng trọng tâm, cốt lõi để có sự ưu tiên tác động trực tiếp và dành Bước gian
cho nó. Sau khi xác định được trọng tâm, xác định các phần một cách hợp lý logic về
nội dung và thời gian, đặc biệt tập trung hoàn thành dứt điểm từng phần, từng hạng
mục theo thứ tự. Điều này sẽ giúp cho quá trình tự học được trôi chảy và thuận lợi.
- Thực hiện chiến lược:
Đây là giai đoạn quyết định và chiếm nhiều thời gian, công sức nhất. Khối lượng kiến
thức và các kỹ năng toán học được hình thành nhanh hay chậm, nắm bắt vấn đền nông
hay sâu, rộng hay hẹp, bền vững hay không... tùy thuộc vào nội lực của chính bản
thân người học trong bước mang tính đột phá này. Có thể kể đến các hoạt động:
12


Tiếp cận thông tin: lựa chọn và chủ động tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn
khác nhau và từ các hoạt động đã được xác định như đọc tài liệu, nghe giảng, hội
thảo, thí nghiệm, quan sát, điều tra...
Xử lí thông tin: việc xử lý thông tin trong quá trình tự học toán không diễn ra
một cách vô thức mà cần có sự gia công, xử lí mới có thể sử dụng được. Quá trình này
có thể được tiến hành thông qua việc phân tích, đánh giá, tóm lược, tổng hợp, so
sánh,...
Vận dụng tri thức toán học vào giải quyết các vấn đề liên quan như thực hành
bài tập, thảo luận, xử lí các tình huống trong bài tập, áp dụng vào thực tế cuộc sống.
Trao đổi, phổ biến kiến thức toán học: việc trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông
tin tri thức hay diễn tả lại theo yêu cầu thông qua: trình bày trước tập thể, thảo luận,
tranh luận... là công việc cuối cùng của quá trình tiếp nhận tri thức toán học. Hoạt
động này giúp cho người học có thể hình thành và phát triển kỹ năng trình bày cho
người học.
Tự đánh giá kết quả học tập: có thể thực hiện bằng nhiều hình thức, dùng các
thang đo mức độ đáp ứng yêu cầu của giáo viên, bản thân tự đánh giá, sự đánh giá
nhận xét của tập thể thông qua thảo luận, tự đối chiếu so sánh với mục tiêu đặt ra ban

Đảm bảo trình độ xuất phát; hướng đích và gợi động cơ; làm việc với nội dung mới; củng
cố (được thực hiện qua các hình thức: nhắc lại, đào sâu, luyện tập, hệ thống hóa và
thực hành); kiểm tra và đánh giá; hướng dẫn công việc về nhà.
- Những con đường nhận thức: suy diễn; quy nạp.
- Những hình thức hoạt động bên ngoài của giáo viên và học sinh:
Giáo viên thuyết trình; giáo viên, học sinh vấn đáp; học sinh hoạt động độc lập.
- Những mức độ tìm tòi khám phá:
Truyền thụ những tri thức dưới dạng có sẵn; dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề.
- Những hình thức tổ chức dạy học:
Căn cứ vào số lượng học sinh trong đơn vị học tập, có thể có các hình thức: dạy học
theo lớp, dạy học theo nhóm, dạy học theo từng cặp.
- Những phương tiện dạy học:
Sử dụng phương tiện nghe nhìn; sử dụng phương tiện chương trình hóa; làm việc
với sách giáo khoa; làm việc với bảng treo tường; sử dụng máy tính điện tử như công
cụ dạy học.
- Những tình huống dạy học điển hình trong môn Toán có thể kể:
Dạy học những khái niệm Toán học; dạy học những định lý Toán học; dạy học
những quy tắc, phương pháp; dạy học giải bài tập Toán học.
- Những hình thức tự học:
14


Đọc sách; Tự học trong môi trường công nghệ thông tin và truyền thông; Hỏi thầy,
hỏi bạn, hỏi chuyên gia.
1.3.3. Phương pháp dạy học và vấn đề phát triển năng lực tự học toán của
học sinh
Có thể nói hứng thú là một trong các con đường chủ yếu để làm cho việc học
tập trong nhà trường trở thành nguồn vui. Hứng thú chính là một cơ chế bên trong
đảm bảo học tập có hiệu quả. Do vậy việc giảng dạy phải kích thích được hứng thú,
muốn vậy phải để cho học sinh độc lập tìm tòi, giáo viên chỉ là người tổ chức, thiết kế,

duy sáng tạo là một dạng tư duy độc lập tạo ra ý tưởng mới, độc đáo và có hiệu quả cao.
Dạy học phát triển, phát triển được tư duy sáng tạo chính là đã phát triển năng lực tự
học, tự nghiên cứu ở trình độ cao nhất. Khi đã có tư duy sáng tạo thì học sinh luôn
luôn tự mình đặt ra các vấn đề, giải quyết chúng theo những hướng, cách thức rất
độc đáo. Do vậy, các phương pháp phát triển, phát triển được tư duy sáng tạo cho học
sinh cũng chính là các phương pháp phát triển và phát triển được năng lực tự học cho
học sinh, hơn nữa còn ở mức độ cao nhất.
Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh không có nghĩa là gạt bỏ, loại trừ,
thay thế hoàn toàn các phương pháp dạy học truyền thống, hay phải "nhập nội" một
số phương pháp xa lạ vào quá trình dạy học. Vấn đề là ở chỗ cần kế thừa, phát triển
những mặt tích cực của phương pháp dạy học hiện có, đồng thời phải học hỏi, vận
dụng một số phương pháp dạy học mới một cách linh hoạt nhằm phát huy tính tích
cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập, phù hợp với hoàn cảnh điều kiện
dạy và học cụ thể.
1.4. Thực trạng của vấn đề dạy học toán theo hướng tự học ở trường
Trung học Phổ thông Tân Lập
Qua việc tổng kết kinh nghiệm dạy học của bản thân, của các đồng nghiệp,
qua trao đổi trực tiếp với các em học sinh, dự giờ thăm lớp qua các năm học, có thế
nhận thấy:
Đa số cho rằng việc tự học là để đối phó với các kì thi, kiểm tra của thầy,
chưa thấy được tự học có vai trò quan trọng trong việc ghi nhớ, tái hiện, nắm kiến
thức có hệ thống. Việc tự học toán chủ yếu là dành cho việc học bài cũ và làm bài về
nhà, cố gắng hoàn thành hết bài tập giáo viên giao (bằng mọi cách có thể) và học thuộc
trong vở ghi mà chưa chú trọng vào việc tự học kiến thức mới. Việc tự học trên lớp
diễn ra hạn chế, nhiều học sinh đến lớp chỉ nghe, ghi chép thụ động mà
không tự mình suy nghĩ để tiếp nhận kiến thức mới. Đặc biệt là học sinh không
"quen" và không biết tự nghiên cứu tài liệu.
16



viên phải là người biết tác động, biết giáo dục, biết tổ chức nhằm hình thành ở học sinh
những năng lực tự học, từ đó có thể phát triển và phát triển năng lực tự học tốt hơn.
17


CHƯƠNG 2
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO
HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC NỘI DUNG
PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN
2.1. Phân tích nội dung chương " Phương pháp tọa độ trong không gian"
2.1.1 Đặc điểm của chương
- Bộ môn hình học không gian rất trừu tượng, đòi hỏi học sinh phải có trí
tưởng tượng thật phong phú thì mới học tốt được bộ môn này.
- Dùng hệ tọa độ chuyển những hình ảnh hình học không gian về ngôn ngữ đại
số, tức là về dạng phương trình.
- Xây dựng một "mô hình bằng số thực" để thể hiện các khái niệm
và các quan hệ hình học trong không gian.
- Nội dung kiến thức của chương gọn nhẹ, nhưng liên quan đến nội dung kiến
thức Hình học phẳng lớp 10, Hình học không gian lớp 11. Nội dung bài tập rất phong
phú, đa dạng, có thể có nhiều cách giải cho một bài tập cụ thể. Vì thế việc chọn cách
giải bài tập trong phần này thật sự quan trọng và quyết định việc thành
công trong nhiệm vụ học tập.
- Với phương pháp tọa độ, học sinh tập suy luận và tư duy một cách
chính xác, tránh được những sai lầm do trực giác gây ra, tạo điều kiện tiếp
cận và làm quen với những phương pháp suy luận tổng quát hơn và sâu hơn, chuẩn bị
tốt cho việc tiếp thu những kiến thức rộng hơn và cao hơn ở bậc đại học.
2.1.2. Yêu cầu dạy học chương "Phương pháp tọa độ trong không gian"
Theo tài liệu "Chương trình giáo dục phổ thông cấp THPT - Môn Toán"
[6,16], yêu cầu dạy học chương "Phương pháp tọa độ trong không gian" là:
- Về kiến thức: Khối kiến thức cụ thể của chương này học sinh cần nắm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status