Phần kết thúc trong truyện ngắn việt nam giai đoạn 1930 1945 - Pdf 35

1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn
ngữ mang tính hoàn chỉnh, trọn vẹn nhất, đồng thời là một đơn vị
ngôn ngữ phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống và
các ngành khoa học. Vì vậy, văn bản cũng là đối tượng nghiên cứu
của rất nhiều nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước. Tuy nhiên khi
nghiên cứu về văn bản, các nhà ngôn ngữ học thường quan tâm đến
các tiêu chí xác định một văn bản, kết cấu văn bản, các đặc trưng
của văn bản, các kiểu văn bản, … ít đề cập đến đặc điểm, chức năng
của từng phần cụ thể trong văn bản, đặc biệt là phần kết thúc trong
văn bản nghệ thuật.
Trong văn bản nghệ thuật, phần kết thúc có vai trò quan trọng
trong việc khái quát nội dung, chủ đề tư tưởng, tăng khả năng nhấn
mạnh và biểu cảm cho tác phẩm văn chương, đồng thời góp phần
mở ra những tầng ý nghĩa mới. Phần kết thúc trong văn bản nghệ
thuật mang đậm dấu ấn và cá tính sáng tạo của nhà văn.
Trong truyện ngắn, phần kết thúc đóng vai trò quan trọng
trong sự thành bại của một truyện ngắn. Vì vậy, trau chuốt, tổ chức
sắp xếp diễn biến của câu chuyện tên cơ sở các phần trong đó có
phần kết truyện là phương châm sáng tác được nhiều tác giả truyện
ngắn tâm đắc. Kết thúc không chỉ có ý nghĩa giản đơn là sự dừng lại
hay chỉ là kết thúc câu chuyện, kết thúc số phận nhân vật, kết thúc
mâu thuẫn mà kết thúc truyện còn có vai trò gợi mở ra nhiều vấn đề
của cuộc sống của quá khứ, hiện tại và tương lai, tạo nên sự đồng
sáng tạo đối với người đọc. Người đọc sẽ thực sự tâm đắc khi
1




3

đại hóa với nhiều cuộc cách tân sâu sắc cả về hình thức lẫn nội
dung. Truyện ngắn Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể
với sự xuất hiện của một đội ngũ đông đảo những tác giả tài năng,
cùng với sự ra đời của hàng loạt các tác phẩm được coi là kiệt tác
trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Trong đó phải kể đến tên tuổi
những nhà văn đã đi vào tâm thức của những người yêu văn học
như Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Thạch Lam…
Đây là những tác giả tiêu biểu cho dòng văn học giai đoạn 1930 –
1945, đồng thời cũng là những tác giả có các tác phẩm được lựa
chọn để đưa vào chương trình giảng dạy trong nhà trường phổ
thông. Các tác phẩm của họ không chỉ là những sản phẩm tinh thần
có ý nghĩa giáo dục, bồi đắp tư tưởng tình cảm cho học sinh mà còn
là những ngữ liệu tiêu biểu góp phần giúp học sinh rèn luyện kĩ
năng xây dựng văn bản.
1.3. Về mặt thực tiễn, hiện nay trong nhà trường phổ thông,
ngay từ chương trình Ngữ văn bậc THCS học sinh đã được tiếp cận
khái niệm văn bản. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều học sinh còn mơ
hồ và lúng túng trong việc xác định bố cục của một văn bản, cũng
như chưa xây dựng được kĩ năng vận dụng các hiểu biết về đặc
điểm, chức năng, mối quan hệ đa chiều của các phần trong văn bản
đặc biệt là phần kết thúc văn bản để khai thác chủ đề tư tưởng của
tác phẩm một cách hiệu quả. Bởi vậy việc nghiên cứu phần kết thúc
trong truyện ngắn sẽ góp phần tích cực vào việc giảng dạy môn Ngữ
văn ở trường phổ thông.

3



5

điểm, kết luận cơ bản hoặc nêu tình tiết kết thúc, các nhận xét cảm
tưởng đối với những điều đã nêu trên. Phần kết thúc là phần khép
lại văn bản, làm cho văn bản có tính hoàn chỉnh” [35; tr.164].
Như vậy, có thể thấy rằng, phần lớn các nhà ngôn ngữ học đã
xác định về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của phần kết thúc trong văn
bản.
2.2. Khái quát tình hình nghiên cứu về phần kết thúc trong
truyện ngắn
Vấn đề kết thúc văn bản nghệ thuật nói chung và kết thúc
truyện ngắn nói riêng từng được một số tác giả đề cập đến.
Bàn về kinh nghiệm viết văn nhiều nhà văn bậc thầy trên thế
giới và trong nước đã nhấn mạnh đến vai trò của phần kết thúc. Có
thể kể đến như:
A.Tsêkhốp, nhà văn bậc thầy về truyện ngắn nhấn mạnh đến
vai trò của phần mở đầu và kết luận trong truyện ngắn:“theo tôi,
viết truyện ngắn cốt nhất phải tô đậm cái mở đầu và cái kết luận”
[41; tr.92].
Nhà văn Nga Y.U Nagibin cũng cho rằng “nên nghĩ cho kĩ về
mở đầu và kết luận”, “cần nhớ rằng đoạn đầu và đoạn cuối tác
phẩm là một cái gì tinh tế, phức tạp, yêu cầu chú ý thật cao” [20;
tr.56].
Nhà văn Đỗ Chu khẳng định “Còn như kết thúc truyện ngắn:
đó là một hành động dễ gây ra những gì xúc động đột ngột. Ta sẽ
rất sung sướng nếu cảm thấy vừa khép kín một cái gì hình thành.
Và ta sẽ buồn bã biết bao nếu chợt nhận ra mình đã lầm lẫn. Ở phút
5



7

Bài viết Nơi tác phẩm kết thúc là cuộc sống bắt đầu tác giả
Bùi Việt Thắng (1998) đề cập tới vai trò của đoạn kết thúc truyện
ngắn. Trong bài này, tác giả đã chứng minh sự tồn tại của các kiểu
kết thúc khác nhau: kết khép, kết mở, kết bất ngờ và kiểu truyện
không có kết [37; tr.5].
Bài viết Các kiểu kết thúc truyện ngắn hôm nay của tác giả Lê
Thị Hường (1995) bàn đến các kiểu kết thúc chung thường gặp như:
1. Kết thúc để ngỏ
2. Kết thúc có nhiều đoạn kết
3. Kết thúc đối nghịch
4. Loại truyện có mở đầu mà không có kết thúc
Trong quan niệm của tác giả bài viết, phần kết thúc của truyện có
thể trùng hoặc không trùng với đoạn văn kết thúc.[37; tr.4].
Tác giả Trần Anh Hào (1999) có bài Vai trò của đoạn mở, đoạn
kết với tiếng cười trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan. Bài
viết này xét cơ chế gây cười của đoạn mở, đoạn kết trong một số
truyện ngắn trào phúng tiêu biểu của Nguyễn Công Hoan [37; tr.5].
Gần đây một số luận văn thạc sỹ cũng đã bắt đầu nghiên cứu
về phần kết thúc trong văn bản, phần kết thúc trong truyện ngắn, có
thể kể đến như: Luận văn Đặc điểm đoạn văn kết thúc trong truyện
ngắn Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh của tác
giả Tạ Mai Anh (2002); Luận văn Đoạn mở đầu và đoạn kết thúc
trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu của tác giả Lê Thị Thùy Nga
(2009)… Tuy nhiên các luận văn trên mới chỉ dừng lại ở việc khảo
sát, thống kê và nêu ra một số đặc điểm cơ bản như: cấu tạo, chức
7



9

5. Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện luận văn này,
chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Phương pháp này nhằm
thống kê, phân loại tần số xuất hiện các phần kết thúc trong truyện
ngắn của một số tác giả tiêu biểu giai đoạn 1930 - 1945.
- Phương pháp miêu tả: Miêu tả hình thức, cấu tạo của các phần
kết thúc.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Luận văn áp dụng phương
pháp này để tìm ra các đặc điểm về cấu tạo, quan hệ, chức năng của
phần kết thúc trong truyện ngắn.
6. Đóng góp của luận văn:
- Về lí luận: Bước đầu góp phần làm rõ đặc điểm của phần kết
thúc trong mối quan hệ với các bộ phân khác trong văn bản nói
chung, truyện ngắn nói riêng.
- Về thực tiễn: góp phần giúp cho người sử dụng tiếng Việt
nhất là đối với giáo viên và học sinh phổ thông hiểu đúng ý nghĩa,
giá trị của phần kết thúc trong văn bản và rèn luyện kĩ năng xây
dựng văn bản.
7. Bố cục luận văn:
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
Chương 2: Đặc điểm của phần kết thúc trong truyện ngắn Việt
Nam giai đoạn 1930 - 1945.
Chương 3: Chức năng và quan hệ của phần kết thúc trong
truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945.
9


tr.15].
Nhấn mạnh đến điểm xuất phát và đích đến của văn bản là
hướng tới hoạt động giao tiếp, I.R. Gal’perin (1981) quan niệm:
11


12

“Văn bản - đó là sản phẩm của quá trình sáng tạo lời mang tính
cách hoàn chỉnh, được khách quan hóa dưới dạng tài liệu viết,
được trau chuốt văn chương theo loại hình tài liệu ấy, là tác phẩm
gồm tên gọi (đầu đề) và một loạt đơn vị riêng (những thể thống nhất
trên câu) hợp nhất lại bằng những liên hệ khác nhau về từ vựng,
ngữ pháp, logic, tu từ, có một hướng đích nhất định và một mục tiêu
thực dụng”[35; tr.16].
Ở Việt Nam, các nhà Việt ngữ học cũng đã đưa ra nhiều quan
niệm, định nghĩa về văn bản:
Nhấn mạnh tính cấu trúc và tính liên kết trong văn bản, Trần
Ngọc Thêm (1985) cho rằng : “Văn bản là một hệ thống mà trong
đó các câu mới chỉ là phần tử. Ngoài các câu - phần tử, trong hệ
thống văn bản còn có cấu trúc. Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí
của mỗi câu và những mối quan hệ của nó với những câu xung
quanh và toàn văn bản nói chung. Sự liên kết là mạng lưới của
những quan hệ và liên hệ ấy”[35; tr.16].
Dựa vào sự hoàn chỉnh về nội dung và hình thức, dạng tồn tại
và đích giao tiếp của văn bản, Nguyễn Quang Ninh (1994) cho rằng:
“Văn bản là một thể hoàn chỉnh về hình thức, trọn vẹn về nội dung,
thống nhất về cấu trúc và độc lập về giao tiếp. Dạng tồn tại điển
hình của văn bản là dạng viết”[35; tr.16].
Tương đồng với Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán cho

Trong ngôn ngữ, tính chỉnh thể hay tính hoàn chỉnh được nói
nhiều ở các cấp độ ngôn ngữ bởi nó là điều kiện để đảm bảo sự tồn
tại của các đơn vị ngôn ngữ. Chẳng hạn, hoàn chỉnh của từ để đảm
13


14

bảo cho từ là đơn vị có sẵn, có tính định danh; hoàn chỉnh cho câu
để đảm bảo cho câu thực hiện chức năng thông báo và hoàn chỉnh
cho văn bản để thể hiện chủ đề. Đối với văn bản, tính chỉnh thể
được biểu hiện ở cả phương diện nội dung và hình thức.
Về hình thức, văn bản phải có kết cấu, bố cục hợp lí từ phần
mở đầu đến phần kết thúc văn bản.
Về nội dung, một văn bản được coi là hoàn chỉnh về nội dung
khi mà ý đồ của người viết đã được thể hiện trong toàn bộ văn bản,
thể hiện qua cách nêu vấn đề, trình bày, giải quyết vấn đề và cuối
cùng là kết luận rút ra tất cả những điều đã trình bày trong văn bản.
Ngoài ra, tính chủ đề cũng là một biểu hiện của tính hoàn chỉnh của
văn bản. Tức là, một văn bản luôn phải thể hiện được một chủ đề bao
trùm và triển khai một cách thống nhất trong toàn văn bản.
Tính hoàn chỉnh của văn bản vừa mang tính khách quan vừa
mang tính chủ quan. Tính khách quan là do qui luật tư duy của con
người: mọi sự vật tồn tại trong tính chỉnh thể, quá trình nhận thức
của con người là một quá trình hoàn chỉnh đi từ trực quan sinh động
đến tư duy trừu tượng. Về chủ quan: có những vấn đề người viết
cho là đầy đủ, trọn vẹn nhưng một số người cho là chưa hoàn chỉnh.
Ngoài ra, văn bản còn phản ánh trình độ tư duy của con người trong
một thời đại nhất định, có những văn bản ở thời kì này là đúng
nhưng ở thời kì khác lại có độ lệch. Vì vậy, tính hoàn chỉnh của văn

logic. Đó là sự tổ chức, sắp xếp các nội dung (thể hiện trong các
câu, các phần của văn bản) sao cho phù hợp với khách quan (logic

15


16

sự kiện) và nhận thức của con người (logic chủ quan). Khi các câu
có sự liên kết về nội dung - ngữ nghĩa thì ở chúng có sự liên kết.
Giữa liên kết nội dung và liên kết hình thức có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau, mối quan hệ này được thể hiện như sau: “giữa
hai mặt liên kết nội dung và liên kết hình thức có mối quan hệ biện
chứng chặt chẽ: liên kết nội dung được thể hiện bằng hệ thống các
phương thức liên kết hình thức, và liên kết hình thức chủ yếu dùng
để diễn đạt sự liên kết nội dung liên kết” [8; tr.120]. Liên kết nội
dung chỉ được nhận ra trong mối quan hệ với liên kết hình thức
“Liên kết nội dung được thể hiện bằng một hệ thống các phương
thức liên kết hình thức, và liên kết hình thức chủ yếu dùng để diễn
đạt sự liên kết nội dung” [8; tr.135].
Tóm lại: Liên kết là một đặc trưng quan trọng của văn bản, là
yếu tố để có thể xác định và phân biệt giữa văn bản với tập hợp
ngẫu nhiên của những đơn vị ngôn ngữ. Tính liên kết sẽ giúp cho
văn bản có tính chỉnh thể, tức là đảm bảo sự trọn vẹn về nội dung và
hoàn chỉnh về hình thức.
1.2.3.Tính khả phân của văn bản
Khi văn bản có nhiều nội dung phức tạp sẽ nảy sinh vấn đề
phân đoạn văn bản. Một văn bản lớn có thể phân ra thành nhiều đơn
vị (phần, đoạn văn, câu). Đây là đặc tính khả phân của văn bản. Sự
phân chia văn bản vừa xuất phát từ yêu cầu về logic - ngữ nghĩa

tải về số lượng và nội dung, phá vỡ tính mạch lạc - logic giữa các
phần trong văn bản.

17


18

Tóm lại: Sự phân chia bất cứ một văn bản nào cũng có một cơ
sở kép đó là trình bày một cách tách biệt với bạn đọc các mảnh đoạn
làm cho người đọc tiếp nhận vấn đề nhanh hơn và để cho tác giả thể
hiện sự liên hệ giữa các đoạn rõ ràng hơn. Sự phân chia văn bản
thành nhiều đơn vị khác nhau xuất phát từ yêu cầu của cả người tạo
lập và cả người lĩnh hội văn bản. Về phía người tạo lập văn bản, sự
phân chia thể hiện sự rạch ròi trong nhận thức và tư duy, đối với văn
bản nghệ thuật, còn tạo ra những hiệu quả nghệ thuật nhất định. Về
phía người lĩnh hội văn bản, sự phân chia giúp nhìn nhận văn bản
một cách rõ ràng trong mối quan hệ đa chiều giữa các đơn vị nhỏ
hơn tạo thành văn bản. Bên cạnh đó, việc nhìn nhận một cách đầy
đủ những đặc trưng của tính khả phân trong văn bản nghệ thuật sẽ
giúp chúng ta nhận diện được các phần, đoạn trong văn bản một
cách chính xác và hiệu quả.
1.3. Kết cấu của văn bản
1.3.1. Khái niệm kết cấu
Bất kỳ một văn bản nào cũng có một kết cấu nhất định. “Kết
cấu của văn bản là kết quả của việc sắp xếp, tổ chức các bộ phận
ngôn từ có nghĩa của văn bản theo một hình thức (một cấu trúc nhất
định)”[14; tr.103], “là cách thức tổ chức các yếu tố nội dung
(những sự kiện, hiện tượng, luận điểm…) theo một kiểu mô hình
nhất định”[14; tr.81]. Kết cấu còn được gọi là cấu trúc, là sự sắp

khuôn hình thường dùng gồm có bốn thành tố - đó là đầu đề, phần
mở, phần thân và phần kết” [8; tr.105].

19


20

Các tác giả Giáo trình giản yếu về ngữ pháp Văn bản quan
niệm: “Tùy vào đặc điểm phong cách, đặc điểm của từng văn bản
cụ thể mà kết cấu có thể là hai phần, ba phần hay nhiều hơn nữa”
[14; tr.82]. Các tác giả này cũng khẳng định “trong thực tế chúng ta
thường gặp loại văn bản có kết cấu ba phần: phần mở đầu, phần
phát triển và phần kết thúc”.
Theo Lê A (2000), văn bản có kết cấu ba phần rõ rệt: phần mở
đầu, phần phát triển, phần kết thúc; phần kết thúc là phần “đặt dấu
chấm cuối cùng cho nội dung văn bản, thông báo về sự hoàn chỉnh,
trọn vẹn của văn bản”. Cũng theo tác gỉả, có thể quy về hai cách kết
thúc trong văn bản đó là: kết thúc khép, kết thúc mở và cho dù kết
thúc theo kiểu nào thì phần kết thúc cũng phải thực hiện nhiệm vụ
cuối cùng của văn bản “giải tỏa sự căng thẳng tâm lý một cách
thành công” [3; tr.54].
Căn cứ vào sự phân chia theo trục cắt ngang của nội dung cấu trúc văn bản, Phan Mậu Cảnh (2002) cho rằng văn bản có kết
cấu ba phần: phần mở đầu, phần khai triển và phần kết thúc. Cũng
theo tác giả, các loại kết cấu có thể gặp là kết cấu hai phần (mở đầu
và triển khai), kết cấu bốn phần (nhập đề, trình bày, chứng minh và
kết thúc) [35; tr.164].
Đinh Trọng Lạc (1994) ở phương diện phong cách học ngôn
ngữ cho rằng “văn bản cơ bản vốn gồm ba phần: phần mở - phần
chính - phần kết”[10; tr.292 ]. Theo tác giả, trong văn chương xuất

dồn nén, truyện ngắn nhanh chóng bắt nhịp và thể hiện được những
vận động, biến thái tinh vi trong đời sống con người, đặc biệt là con

21


22

người trong đời sống hiện đại. Trong thực tế, nhiều nhà văn lớn trên
thế giới đã đạt tới đỉnh cao của sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật chủ
yếu bằng những truyện ngắn xuất sắc của mình như: L.Tonxtôi,
M.Gorki, O.Henri, Lỗ Tấn… “Ở Việt Nam, tên tuổi của các nhà viết
truyện ngắn như Nam Cao, Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, Ngô
Tất Tố… luôn giữ một vị trí trang trọng trong lòng người yêu văn
học ”[37; tr.8].
Xung quanh khái niệm truyện ngắn đã có nhiều ý kiến của các
nhà nghiên cứu, có thể thấy một số hướng tiêu biểu như sau:
Hướng quan niệm của các nhà văn: Khi quan niệm về truyện
ngắn, phần lớn các nhà văn quan niệm qua sự trải nghiệm nghề
nghiệp của bản thân. Chẳng hạn:
Nhà văn Nguyên Ngọc quan niệm: “Truyện ngắn là một bộ
phận của tiểu thuyết nói chung” vì thế “ không nên nhất thiết trói
buộc truyện ngắn vào những khuôn mẫu gò bó. Truyện ngắn vốn
nhiều vẻ. Có truyện viết cả một đời người, lại có truyện chỉ ghi lại
một vài giây phút thoáng qua”. Theo quan niệm này thì nhà văn
nhấn mạnh đến khả năng khái quát của truyện ngắn [41; tr.9] .
Nhà văn Nguyễn Kiên quan niệm: Mỗi truyện ngắn là một
trường hợp…Trong quan hệ giữa con người với đời sống, có những
khoảnh khắc nào đó, một mối quan hệ nào đó được bộc lộ. Truyện
ngắn phải nắm bắt được cái trường hợp ấy. Trường hợp ở đây là

có thể rút ra những điểm chính về truyện ngắn như sau:
Về hình thức và dung lượng: truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ
nhỏ.
23


24

Về nội dung: truyện ngắn phản ánh hầu hết các phương diện
của đời sống, nhưng không phải toàn bộ hệ thống các sự kiện mà ở
hướng tới khắc họa vấn đề có tính hiện tượng, bản chất.
Về cốt truyện: Truyện ngắn tập trung vào một mặt nào đó của
đời sống, xoay quanh một vài biến cố, sự kiện tập trung diễn ra
trong một không gian, thời gian nhất định.
1.4.2. Kết cấu truyện ngắn
Như đã xác định, kết cấu của văn bản về cơ bản gồm ba phần:
phần mở đầu, phần thân (phần luận giải và phần kết. Tuy nhiên do
đặc trưng của thể loại, kết cấu của truyện ngắn dù không vượt ra
khỏi phạm vi kết cấu chung của văn bản như thường gặp nhưng vẫn
không thiếu sự biến hóa, linh hoạt để tạo ra những kiểu kết cấu khác
biệt với mục đích tu từ. Có thể dẫn ra một số kiểu kết cấu truyện
ngắn như sau:
1.4.2.1. Truyện ngắn có kết cấu ba phần
Những truyện ngắn có kết cấu ba phần là những truyện có kết
cấu ở dạng hoàn chỉnh nhất về cả nội dung và hình thức. Với kết
cấu này, ngoài tiêu đề, truyện ngắn bao gồm các thành tố: phần mở
đầu, phần luận giải và phần kết thúc.
* Phần mở đầu đóng vai trò như “người dẫn truyện”, dẫn dắt
người đọc bước vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm, tạo ra ấn
tượng cho người đọc cũng như giới hạn, định hướng về nội dung sẽ

đời và số phận của nhân vật Tnú cũng như dân làng Xô man, toàn
bộ không gian nghệ thuật trong tác phẩm thấm đẫm và ám ảnh bởi
xà nu: khói xà nu, lửa xà nu, mười ngón tay rừng rực cháy của Tnú
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status