Quá trình giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ trong cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930 1945 - Pdf 33

1


2


3


2.2. Giải quyết nhiệm vụ dân tộc và dân chủ giai đoạn 1936 – 1939………….44
2.2.1. Chủ trương của Đảng………………………..……………………...……44
2.2.2. Kết quả………………………………………..………………………….52
2.3. Đánh giá…………………………………………..………………………..59
Tiểu kết chương 2:…………………………………………..….........................63
CHƯƠNG 3. CHỦ TRƯƠNG GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ GIẢI PHÓNG DÂN
TỘC TRONG PHONG TRÀO CÁCH MẠNG 1939 – 1945……………….....64
3.1. Bối cảnh lịch sử………………………………………………………..….64
3.1.1. Bối cảnh quốc tế……………………………………….………………..64
3.1.2. Tình hình trong nước……………………………………………………68
3.2. Chủ trương đấu tranh mới của Đảng Cộng sản Đông Dương…………..…70
3.3. Kết quả…………………………………………………………………….82
3.4. Một số nhận xét đánh giá……….…………………………………………87
Tiểu kết chương 3: ………………………………………………………..……92
KẾT LUẬN …………………….……………….………………………...…...93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………..…………………………......96

4


5


đường nào khác con đường cách mạng vô sản.
Sự thật là, kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào mùa Xuân năm
1930 là một sự kiện lịch sử vĩ đại chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối và
giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Từ đây, yêu cầu bức thiết của lịch sử
6


dân tộc là giải quyết hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ lại trở nên cần kíp hơn bao
giờ hết, điều này được chứng minh ngay trong bản Chính cương vắn tắt do
Nguyễn Ái Quốc khởi thảo được thông qua tại hội nghị thành lập Đảng Cộng
Sản Việt Nam. Chính cương nêu rõ con đường cách mạng Việt Nam là làm “Tư
sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.
Đối với một nước thuộc địa, nửa phong kiến như Việt Nam thời bấy giờ,
tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản: một là, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với thực
dân Pháp, hai là, mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với địa chủ phong kiến. Cho
nên, con đường cứu nước muốn thành công nhất thiết phải giải quyết đúng đắn
hai mâu thuẫn này, tiến hành giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải
phóng con người. Tức là giải quyết vấn đề dân tộc và dân chủ trong cách mạng.
Thực chất của hai vấn đề dân tộc và dân chủ trong cách mạng lúc này là, đánh
đổ ách thống trị của TDP và phong kiến tay sai, giành lại độc lập cho dân tộc
đem lại ruộng đất cho dây cày và phát triển đất nước theo con đường cách mạng
vô sản. Do đó, hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ không tách rời nhau, có mối
quan hệ khăng khít với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển, đòi hỏi giai cấp
lãnh đạo cách mạng phải nhận thức và giải quyết một cách thỏa đáng.
Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 chứng kiến nhiều biến
động của dân tộc ta vừa “bi” vừa “hùng”, chỉ trong vòng 15 năm nhưng đã làm
nên những trang sử hào hùng nhất, chói lọi nhất trong lịch sử hàng nghìn năm
của dân tộc ta. Từ mùa Xuân năm 1930 với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt
Nam tới khi cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi, đã đưa nhân dân ta
tập dượt qua ba cao trào cách mạng 1930 – 1931, 1936 – 1939, 1939 – 1945 để

lọc đã trình bày một cách khái quát về sự vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào
điều kiện cụ thể của Việt Nam để vạch ra đường lối chính trị, chiến lược và sách
lược của Đảng ta trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở nước ta.
Cuốn “Cách mạng tháng Tám 1945 toàn cảnh” của GS.TS Phan Ngọc Liên
biên soạn, nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2005. Trình bày một cách
cụ thể cuộc cách mạng tháng Tám trên phạm vi cả nước và một số vấn đề xung
quanh cuộc Cách mạng tháng Tám của Việt nam từ góc độ trong và ngoài nước.
Ngoài ra nghiên cứu lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 còn thu hút
nhiều nhà nghiên cứu về các vấn đề cụ thể như:
Luận án tiến sĩ lịch sử: “Cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở
Nghệ An” của Tiến sĩ Trần Văn Thức, công bố năm 2003 đã nghiên cứu một
cách đầy đủ và hoàn chỉnh có hệ thống cuộc cách mạng tháng Tám ở Nghệ An.

8


Luận án Tiến sĩ Lịch sử Đảng: “Báo chí Trung Kỳ giai đoạn 1930 – 1945”
của Tiến sĩ Nguyễn Văn Trung, công bố năm 2012 đã làm sáng tỏ quá trình đấu
tranh cách mạng của Trung Kỳ thông qua hình thức báo chí của Xứ ủy Trung
Kỳ.
Những tài liệu và công trình nghiên cứu khoa học nêu trên đã đề cập đến các
vấn đề khác nhau của lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 nhưng chưa có
công trình nào nghiên cứu một các chuyên sâu, có hệ thống về vấn đề “Quá trình
giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ trong cách mạng
Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945” cho nên thực hiện đề tài này không trùng lắp
với bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào đã được công bố, tuy nhiên đây
sẽ là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng và chủ yếu để chúng tôi thực hiện đề
tài này.
2.


Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, tác giả nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác – Lênin về nghiên cứu lịch sử. Sử dụng phương pháp lịch sử - lôgic
làm phương pháp nghiên cứu chính. Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp
phân tích, tổng hợp...
4.

Ý nghĩa của đề tài
Thực hiện đề tài này, tác giả mong muốn nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn

diện và có hệ thống về “Mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ trong
cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945”, với mục đích tìm hiểu một cách
cụ thể về mối quan hệ của hai nhiệm vụ này trong cách mạng Việt Nam nhằm
cung cấp một tài liệu tham khảo cho quá trình học tập và giảng dạy lịch sử Việt
Nam giai đoạn 1930 – 1945.
5.

Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung của

luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Giải quyết nhiệm vụ dân tộc và dân chủ trong phong trào cách
mạng 1930 – 1931.
Chương 2. Giải quyết nhiệm vụ dân tộc và dân chủ trong phong trào dân chủ
1936 – 1939.
Chương 3. Chủ trương giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc trong phong
trào cách mạng 1939 – 1945

10


lòng tự tôn dân tộc không những bị cướp đi mà còn bị chà đạp thảm hại, quyền
11


lợi của nhân dân chẳng những không được cải thiện mà còn bị tước đoạt một
cách trắng trợn, nhân dân ta phải chịu cảnh áp bức, bóc lột đến tột cùng, quyền
dân tộc và quyền con người bị xâm phạm nghiêm trọng.
Từ đây, Việt Nam bước vào giai đoạn mới – giai đoạn đấu tranh
chống xâm lược của thực dân phương Tây để giành lại độc lập dân tộc, nhiệm
vụ cách mạng được hình thành, ngay lúc này chính là hai nhiệm vụ cơ bản: đánh
đuổi TDP và tay sai đòi lại quyền dân tộc, tức là thực hiện hai nhiệm vụ dân tộc
và dân chủ.
Năm 1858, TDP nổ súng xâm lược Việt Nam, sau khi tạm thời dập tắt
được các phong trào đấu tranh của nhân dân ta, thực dân Pháp từng bước thiết
lập bộ máy thống trị ở Việt Nam.
Về chính trị: Thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước bỏ
quyền đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, chia Việt
Nam thành ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ một chế
độ cai trị riêng. Đồng thời với chính sách nham hiểm này, thực dân Pháp câu kết
với địa chủ trong việc bóc lột kinh tế và áp bức chính trị đối với nhân dân Việt
Nam.
Về kinh tế: Thực dân Pháp tiến hành cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền,
đầu tư khai thác tài nguyên, xây dựng một số cơ sở công nghiệp, xây dựng hệ
thống đường giao thông, bến cảng phục vụ cho lợi ích của chúng. Chính sách
khai thác thuộc địa của Pháp đã tạo nên sự chuyển biến đối với nền kinh tế Việt
Nam, nhưng cũng dẫn đến hậu quả là nền kinh tế nước ta bị lệ thuộc vào tư bản
Pháp, bị kìm hãm trong vòng lạc hậu.
Về văn hóa: Thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hóa, giáo dục thực
dân, dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu… “chúng tôi không những bị áp bức
và bóc lột một cách nhục nhã, mà còn bị hành hạ và đầu độc một cách thê

Như vậy, dù đã bị mất nước nhưng mọi tầng lớp nhân dân yêu nước nhận
thức được rằng phải đứng lên đánh đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân,
giành lại độc lập cho dân tộc, các phong trào yêu nước nổ ra mạnh mẽ ngay khi
thực dân Pháp đặt chân đến nước ta, chính người Pháp cũng phải thừa nhận
rằng, họ đã phải đối đầu với một sự phẫn nộ ghê gớm của người dân Việt Nam,
những người tay không, chân đất nhưng tràn đầy tinh thần quả cảm, dám đấu
tranh và dám hy sinh.
13


Sau khi đã bình định nước ta, TDP bắt tay vào quá trình khai thác thuộc
địa mà họ rêu rao là “khai hóa văn minh”, cũng từ đây xã hội Việt Nam bị phân
hóa sâu sắc, TDP tăng cường bóc lột sức người sức của, từng bước biến Việt
Nam thành thuộc địa của Pháp, xâm phạm quyền dân tộc của nước Việt Nam.
Với danh nghĩa là nước bảo hộ nhưng thực chất thực dân Pháp đang xâm lược
nước ta.
Có thể thấy, từ một quốc gia phong kiến độc lập, thống nhất có chủ quyền
chúng ta mất nước rơi vào ách đô hộ của TDP, nổi lên mâu thuẫn giữa dân tộc ta
với TDP xâm lược và đô hộ, đây là mâu thuẫn nổi bật, gay gắt và cơ bản nhất
lúc bấy giờ. Nhiệm vụ của lịch sử dân tộc đặt ra lúc này là đánh đuổi thực dân
Pháp để giành lại độc lập cho dân tộc, đây là nhiệm vụ cấp bách đối với mỗi
người Việt Nam yêu nước, thôi thúc họ đứng lên đấu tranh chống ách đô hộ của
TDP.
Mặt khác, đối với chế độ PK Việt Nam nói riêng và chế độ quân chủ nói
chung trên thế giới luôn thường nhật tồn tại mâu thuẫn giai cấp, chủ yếu là giữa
nông dân với địa chủ PK. Vì vậy, như một quy luật tất yếu khi TDP xâm lược và
đô hộ nước ta mâu thuẫn dân tộc trở nên căn bản và bao trùm, theo đó mâu
thuẫn giai cấp sẽ được điều tiết tạm thời lắng dịu để tập trung giải quyết vấn đề
mâu thuẫn dân tộc. Tuy nhiên, thực tế lịch sử dân tộc lại cho thấy rằng trong quá
trình xúc tiến âm mưu xâm lược Việt Nam cũng như quá trình TDP đặt ách đô

dân tộc, không phân biệt là dân tộc thiểu số hay dân tộc đa số, dân tộc chậm phát
triển hay dân tộc có sự phát triển cao về các mặt là xu hướng của thời đại, là
đường lối, chính sách tiến bộ của những nhà nước hiện đại. Việt Nam là nhà
nước gồm nhiều dân tộc có truyền thống sâu sắc và đoàn kết dân tộc. Quyền dân
tộc là những quyền cơ bản nhất, đồng thời cũng là cơ sở tối thiểu để bảo đảm
cho một dân tộc tồn tại và phát triển bình thường, là cơ sở để dân tộc đó thực
hiện các quyền khác của mình.
Quyền dân tộc cơ bản gồm bốn yếu tố:
Thứ nhất là, “độc lập”: Tức là nhà nước đó phải tự định đoạt vận mệnh
dân tộc mình mà không bị lệ thuộc vào sự can thiệp của nước ngoài, không có
quân đội của nước ngoài đóng trên lãnh thổ, đó phải là một nhà nước có chủ
quyền, có nhân dân và có lãnh thổ riêng.

15


Thứ hai là, “chủ quyền”: Nhà nước có chủ quyền là nhà nước có quyền tự
quyết riêng về đối nội, đối ngoại, chiến tranh – hòa bình của quốc gia mình.
Thứ ba là, “thống nhất”: thống nhất ở đây là thống nhất về tổ chức chính
quyền nhân dân từ trung ương đến địa phương, về hệ thống pháp luật, lãnh thổ.
Thứ tư là, “toàn vẹn lãnh thổ”: một nhà nước có chủ quyền, thống nhất,
không bị chia cắt về lãnh thổ: đất liền, các hải đảo, vùng biển, vùng trời
Các yếu tố của quyền dân tộc cơ bản luôn có mối liên hệ chặt chẽ với
nhau. Trong đó, độc lập là yếu tố quan trọng nhất vì nó là cơ sở, nền tảng quyết
định các yếu tố còn lại: có độc lập thì mới có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ.
Trước nguy cơ đối đầu với một đế quốc hùng mạnh, phát triển hơn dân
tộc ta về một nền văn minh và trình độ khoa học kỹ thuật, lúc này không phải là
cuộc đối đầu giữa những vũ khí thô sơ mà là cuộc đối đầu với các phương tiện
chiến tranh hiện đại, sự chênh lệch lực lượng rất bất lợi cho ta. Đứng trước tình

đổ được chủ nghĩa đế quốc, kẻ duy trì và bảo vệ chế độ phong kiến, kẻ thù lớn
nhất của dân tộc và cũng là của nông dân. Giải phóng nông dân khỏi ách địa chủ
phong kiến, đem lại ruộng đất cho nông dân là nội dung cơ bản của nhiệm vụ
dân chủ trong cách mạng, đồng thời cũng là xuất phát từ chính yêu cầu của sự
nghiệp giải phóng dân tộc, bởi vì vấn đề dân tộc thuộc địa thực chất là vấn đề
nông dân.
Từ những phân tích trên chúng ta thấy rõ, yêu cầu cấp thiết của lịch sử
Việt Nam đầu thế kỷ XX là phải giải quyết một cách thỏa đáng nhiệm vụ DT và
nhiệm vụ DC, tức là thực hiện một cuộc cách mạng chứa đựng cả hai nội dung
phản đế và phản phong, giành độc lập dân tộc và ruộng đất dân cày.
1.1.3. Sự thất bại của lập trường cứu nước theo khuynh hướng
phong kiến và tư sản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Giữa lúc quyền dân tộc và dân chủ bị xâm hại nghiêm trọng, chế độ
phong kiến cầm quyền đã hèn nhát đầu hàng giặc, các thế hệ người dân Việt
Nam yêu nước đã đứng lên tìm con đường cứu nước, cứu dân. Tiêu biểu phải kể
đến phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản.
Phong trào Cần Vương (1885 – 1896): Ngày 13/7/1885, vua Hàm Nghi
xuống chiếu Cần Vương, phong trào Cần Vương phát triển mạnh ra nhiều địa
phương ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Ngày 1/11/1888, vua Hàm Nghi bị
17


Pháp bắt nhưng phong trào vẫn tiếp tục đến năm 1896. Về cơ bản phong trào
phát triển qua hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: (1885 – 1888) mang tính chất giúp vua cứu nước một cách
đậm nét, vua Hàm Nghi trực tiếp chỉ huy nhân dân kháng chiến ở Quảng Bình,
Hà Tĩnh và ở những địa phương khác đều có đại diện của Vua tổ chức và lãnh
đạo kháng chiến, cho thấy sự phối hợp và chỉ huy chiến đấu giữa các địa phương
là tương đối chặt chẽ và thống nhất.
Giai đoạn 2: (1888 – 1896) đây là giai đoạn Cần Vương không có

động vũ trang làm phương pháp giành độc lập. Tuy nhiên, Phan Bội Châu lại lựa
chọn phương pháp thiên về bạo động cá nhân.
Phan Bội Châu thiếu sự hiểu biết về kẻ thù, ông hiểu sâu sắc về bản chất
của chủ nghĩa TDP bao nhiêu thì lại mơ hồ về đế quốc Nhật Bản bấy nhiêu, xác
định sai mối quan hệ bạn – thù, đặt niềm tin sai chỗ nên đã dẫn tới sự bế tắc
trong con đường cứu nước của mình.
Đại biểu cho xu hướng cải cách là Phan Châu Trinh, với chủ trương vận
động cải cách văn hóa, xã hội, động viên lòng yêu nước trong nhân dân, đả kích
bọn vua quan phong kiến thối nát, đề xướng tư tưởng dân chủ tư sản, thực hiện
khai dân khí, chấn dân khí, hậu dân sinh, mở mang dân quyền, phản đối đấu
tranh vũ trang và cầu viện nước ngoài.
Ngoài ra, trước yêu cầu của lịch sử Việt Nam, các phong trào đấu tranh
diễn ra sôi nổi dưới nhiều hình thức phong phú, các tổ chức đảng phái ra đời
nhằm nắm giữ ngọn cờ lãnh đạo cách mạng như Tân Việt cách mạng Đảng, Việt
Nam quốc dân Đảng... Mục tiêu của các cuộc đấu tranh ở thời kỳ này đều hướng
tới giành độc lập dân tộc, nhưng trên các lập trường giai cấp khác nhau nhằm
khôi phục chế độ phong kiến, hoặc thiết lập chế độ quân chủ lập hiến, hoặc cao
hơn là thiết lập chế độ cộng hòa tư sản. Tuy diễn ra sôi nổi, dưới nhiều hình thức
nhưng cuối cùng các cuộc đấu tranh đều thất bại.
Tóm lại, từ khi Việt Nam biến thành thuộc địa của TDP, các tầng lớp
nhân dân luôn đấu tranh để tự giải phóng. Vì quyền lợi và địa vị trực tiếp bị đế
quốc Pháp xâm phạm, một bộ phận PK Việt Nam (phái phong kiến thất thế và
có liên hệ với quần chúng) lãnh đạo cuộc vận động chống đế quốc Pháp trong
khi đại bộ phận giai cấp phong kiến, trước hết là bọn đại phong kiến, đã đầu
hàng đế quốc. Phong trào Cần Vương và Văn thân thất bại thì tiếp đến các
19


phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Duy Tân, mưu bạo động của Việt
Nam quốc dân Đảng với khẩu hiệu “quân chủ lập hiến” và khẩu hiệu “dân


hai nhiệm vụ cơ bản là dân tộc và dân chủ, tập hợp lực lượng đánh đuổi thực dân
Pháp và bọn phong kiến tay sai. Phan Bội Châu chú ý giải quyết vấn đề dân tộc
(đánh Pháp) còn Phan Châu Trinh lại chú ý chống phong kiến, theo ông cần phải
“tiêu diệt nọc độc phong kiến”. Cả hai con đường cứu nước phong kiến và dân
chủ tư sản đều không nhận thức và giải quyết thỏa đáng yêu cầu của lịch sử dân
tộc đặt ra, không đồng thời đặt ra và giải quyết cả hai nhiệm vụ dân tộc và dân
chủ, chống đế quốc và chống phong kiến, không đáp ứng được nguyện vọng của
đông đảo quần chúng nhân dân, đặc biệt là giai cấp nông dân, không tập hợp
được đông đảo quần chúng nhân dân và trận tuyến đánh quân thù, do đó các con
đường cứu nước đều lần lượt rơi vào bế tắc. Từ đây cách mạng Việt Nam lâm
vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về mặt đường lối, về giai cấp lãnh đạo.
Nhiệm vụ lịch sử đặt ra là phải tìm ra một con đường cách mạng mới, một giai
cấp có đủ tư cách đại biểu cho quyền lợi của dân tộc, của nhân dân, có đủ uy tín
và năng lực để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc dân chủ đi đến thành công.
1.2. Quan điểm và chủ trương của Đảng về vấn đề dân tộc và dân chủ
1.2.1. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái
Quốc) quyết định rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Hành trình bôn ba của
Người trải qua những năm tháng gian khổ, hy sinh, đi tới nhiều vùng đất khác
nhau và Người nhận thấy trên thế giới này tồn tại hai hạng người: người bóc lột
và người bị bóc lột. Trong hành trình tìm đường cứu nước Người đã quan tâm,
tìm hiểu các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, Người đánh giá cao tư
tưởng tự do, bình đẳng, bác ái và quyền con người của các cuộc cách mạng tư
sản tiêu biểu như cách mạng Mỹ (1776), cách mạng tư sản Pháp (1789), nhưng
cũng nhận thức rõ hạn chế của các cuộc cách mạng đó, từ đó Người khẳng định
con đường cách mạng tư sản không thể đưa lại độc lập và hạnh phúc thực sự cho
nhân dân các nước nói chung, nhân dân Việt Nam nói riêng. Người đặc biệt
quan tâm tìm hiểu cách mạng tháng Mười Nga (1917) và rút ra kết luận: trong
thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi,

đi học tại trường Đại học phương Đông (Liên Xô) và trường Lục quân Hoàng
Phố (Trung Quốc) nhằm đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam. Cùng với
việc đào tạo cán bộ, Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức ra các tờ báo Thanh niên, Công
nông, Lính cách mệnh, Tiền phong nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin về
22


Việt Nam. Quan điểm cách mạng của Nguyễn Ái Quốc đã thức tỉnh và giác ngộ
quần chúng, thúc đẩy phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân phát triển
theo con đường cách mạng vô sản. Đặc biệt với tác phẩm Đường cách mệnh
(1927) được xem là cẩm nang gối đầu giường của quần chúng cách mạng, nói
cho toàn thể nhân dân ta rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng là việc
chung của cả dân chúng chứ không phải việc một hai người, do đó phải đoàn kết
toàn dân. Nhưng cái cốt của nó là công nông và phải luôn ghi nhớ rằng công
nông là người chủ cách mệnh, công nông là gốc cách mệnh. Và cách mạng
muốn thắng lợi cần phải có một đảng lãnh đạo, Đảng có vững cách mạng mới
thành công cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy. Đảng muốn
vững thì phải có chủ nghĩa làm nòng cốt, mà trong thời đại ngày nay chủ nghĩa
chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác - Lênin.
Trong những năm 1926 – 1929, phong trào công nhân đã có sự lãnh đạo
của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Công hội đỏ và các tổ chức cộng sản
ra đời từ năm 1929, các cuộc đấu tranh đã mang tính chất chính trị rõ rệt, công
nhân chuyển hình thức đấu tranh từ tự phát sang tự giác, mỗi cuộc đấu tranh đã
có sự kết hợp, ủng hộ giữa các nhà máy, xí nghiệp, đồn điền, giữa các ngành và
các địa phương. Phong trào công nhân đã có sức thu hút và lôi cuốn phong trào
dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Cũng vào thời gian này, phong trào
yêu nước phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là phong trào nông dân diễn ra sôi nổi ở
nhiều nơi trên cả nước. Phong trào công nhân và nông dân đã hỗ trợ lẫn nhau
trong cuộc đấu tranh chống thực dân, phong kiến. “Điều đặc biệt và quan trọng
bậc nhất trong phong trào cách mạng ở Đông Dương là sự đấu tranh của quần

đường lối chính trị đúng đắn, tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, chính trị, tổ
chức và hành động của phong trào cách mạng cả nước, hướng mục tiêu độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sự kiện ĐCSVN ra đời là “một bước ngoặt vô cùng
quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô
sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”[58;8].
1.2.2. Cương lĩnh chính trị (2/1930) và Luận cương chính trị (10/1930)
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam (2/1930)
Các văn kiện được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam như: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt được

24


hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của ĐCSVN. Cương lĩnh xác định các
vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam:
Phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam: “Tư sản dân quyền
cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[23;2]. Tính chất giai
đoạn và lý luận cách mạng không ngừng đã được thể hiện trong Cương lĩnh
chính trị đầu tiên của Đảng: cách mạng tư sản dân quyền là thời kỳ dự bị để tiến
lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đây là con đường cứu nước mới khác với
những chủ trương, những con đường cứu nước của những nhà yêu nước đương
thời đã đi vào bế tắc và thất bại. Như vậy, ngay từ đầu Đảng ta đã tiếp thu và
vận dụng sáng tạo lý luận Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước.
Đường lối cơ bản của cách mạng Việt Nam được phản ánh trong Cương lĩnh đã
thể hiện được tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Việc xác
định đúng đắn phương hướng, con đường của cách mạng Việt Nam ngay từ đầu
có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đó là cơ sở để giải quyết đúng đắn các vấn đề cơ
bản của cách mạng Việt Nam.
“Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng
sản” con đường này xem ra chưa phù hợp với lý luận cách mạng của chủ nghĩa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status