Tiểu luận Kinh tế đầu tư Mối quan hệ giữa Đầu tư với Tăng trưởngvà phát triển kinh tế
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
**************
TIỂU LUẬN KINH TẾ §ÇU T¦
ĐỀ TÀI:
MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ VỚI TĂNG TRƯỞNG
VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẠI VIỆT NAM
1
Tiểu luận Kinh tế đầu tư Mối quan hệ giữa Đầu tư với Tăng trưởngvà phát triển kinh tế
MỤC LỤC
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN 1
************** 1
TIỂU LUẬN KINH TẾ §ÇU T¦ 1
ĐỀ TÀI: 1
MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TẠI VIỆT NAM 1
PHẦN I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ VỚI TĂNG TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN KINH TẾ 3
1.1. Khái quát quan niệm về tăng trưởng và phát triển kinh tế 3
1.2. Khái niệm đầu tư và vốn đầu tư 7
1.3 Mối quan hệ giữa đầu tư với tăng trường và phát triển kinh tế 11
1.3.1 Tốc độ tăng đầu tư và tốc độ tăng trưởng kinh tế 11
1.3.2. Mối quan hệ giữa cơ cấu đầu tư và tốc độ tăng trưởng 16
PHẦN II. THỰC TRẠNG VỀ ĐẦU TƯ VÀ TĂNG TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở
VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 19
2.1 Các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế và đầu tư tròng vòng 5 năm trở lại đây – những kết
quả đạt được 19
2.2 Tác động của Đầu tư nước ngoài đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội Việt
Nam trong hơn 20 năm qua: 35
kinh tế.
• Mô hình David Ricardo (1772-1823) với luận điểm cơ bản là đất đai sản xuất
nông nghiệp (R, Resources) là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế. Nhưng đất sản
xuất lại có giới hạn do đó người sản xuất phải mở rộng diện tích trên đất xấu hơn để
sản xuất, lợi nhuận của chủ đất thu được ngày càng giảm dẫn đến chí phí sản xuất
lương thực, thực phẩm cao, giá bán hàng hóa nong phẩm tăng, tiền lương danh nghĩa
tăng và lợi nhuận của nhà tư bản công nghiệp giảm. Mà lợi nhuận là nguồn tích lũy
để mở rộng đầu tư dẫn đến tăng trưởng. Như vậy, do giới hạn đất nông nghiệp dẫn
đến xu hướng giảm lợi nhuận của cả người sản xuất nông nghiệp và công nghiệp và
3
Tiểu luận Kinh tế đầu tư Mối quan hệ giữa Đầu tư với Tăng trưởngvà phát triển kinh tế
ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Nhưng thực tế mức tăng trưởng ngày càng tăng
cho thấy mô hình này không giải thích được nguồn gốc của tăng trưởng.
• Mô hình hai khu vực tăng trưởng kinh tế dựa vào sự tăng trưởng hai khu vực
nông nghiệp và công nhiệp trong đó chú trọng yếu tố chính là lao động (L labor),
yếu tố tăng năng suất do đầu tư và khoa học kỹ thuật tác động lên hai khu vực kinh
tế. Tiêu biểu cho mô hình hai khu vực là mô hình Lewis, Tân cổ điển và Harry T.
Oshima.
• Mô hình Harrod-Domar nguồn gốc tăng trưởng kinh tế là do lượng vốn (yếu tố
K, capital) đưa vào sản xuất tăng lên.
• Mô hình Robert Solow (1956) với luận điểm cơ bản là việc tăng vốn sản xuất chỉ
ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn mà không ảnh hưởng trong dài
hạn, tăng trưởng sẽ đạt trạng thái dừng. Một nền kinh tế có mức tiết kiệm cao hơn
sẽ có mức sản lượng cao hơn không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong dài
hạn (tăng trưởng kinh tế bằng không (0)).
• Mô hình Kaldor tăng trưởng kinh tế phụ thuộc phát triển kỹ thuật hoặc trình độ
công nghệ.
• Mô hình Sung Sang Park nguồn gốc tăng trưởng là tăng cường vốn đầu tư quốc
gia cho đầu tư con người.
• Mô hình Tân cổ điển nguồn gốc của tăng trưởng tùy thuộc vào cách thức kết hợp
thế giới lần thứ II cho thấy mặc dù hầu hết tư bản bị phá hủy nhưng những nước có
nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn có thể phục hồi và phát triển kinh tế một cách
ngoạn mục. Một ví dụ là nước Đức, "một lượng lớn tư bản của nước Đức bị tàn
phá trong Đại chiến thế giới lần thứ hai, tuy nhiên vốn nhân lực của lực lượng lao
động nước Đức vẫn tồn tại. Với những kỹ năng này, nước Đức đã phục hồi nhanh
chóng sau năm 1945. Nếu không có số vốn nhân lực này thì sẽ không bao giờ có
sự thần kỳ của nước Đức thời hậu chiến."
[1]
• Nguồn tài nguyên thiên nhiên: là một trong những yếu tố sản xuất cổ điển, những
tài nguyên quan trọng nhất là đất đai, khoáng sản, đặc biệt là dầu mỏ, rừng và
nguồn nước. Tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng để phát triển kinh tế, có
những nước được thiên nhiên ưu đãi một trữ lượng dầu mỏ lớn có thể đạt được
mức thu nhập cao gần như hoàn toàn dựa vào đó như Ả rập Xê út. Tuy nhiên, các
nước sản xuất dầu mỏ là ngoại lệ chứ không phải quy luật, việc sở hữu nguồn tài
nguyên thiên nhiên phong phú không quyết định một quốc gia có thu nhập cao.
5
Tiểu luận Kinh tế đầu tư Mối quan hệ giữa Đầu tư với Tăng trưởngvà phát triển kinh tế
Nhật Bản là một nước gần như không có tài nguyên thiên nhiên nhưng nhờ tập
trung sản xuất các sản phẩm có hàm lượng lao động, tư bản, công nghệ cao nên
vẫn có nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới về quy mô.
• Vốn (hay còn gọi là Tư bản): là một trong những nhân tố sản xuất, tùy theo mức độ
tư bản mà người lao động được sử dụng những máy móc, thiết bị nhiều hay ít (tỷ
lệ tư bản trên mỗi lao động) và tạo ra sản lượng cao hay thấp. Để có được tư bản,
phải thực hiện đầu tư nghĩa là hy sinh tiêu dùng cho tương lai. Điều này đặc biệt
quan trọng trong sự phát triển dài hạn, những quốc gia có tỷ lệ đầu tư tính trên
GDP cao thường có được sự tăng trưởng cao và bền vững. Tuy nhiên, tư bản
không chỉ là máy móc, thiết bị do tư nhân dầu tư cho sản xuất nó còn là tư bản cố
định xã hội, những thứ tạo tiền đề cho sản xuất và thương mại phát triển. Tư bản
cố định xã hội thường là những dự án quy mô lớn, gần như không thể chia nhỏ
giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung
gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các
tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư;
Đầu tư trong nước là việc nhà đầu tư trong nước bỏ vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp
khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam;
Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ
Việt Nam ra nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư
Trong kinh tế “Đầu tư” được hiểu là sự chi tiêu mà kết quả làm tăng tài sản cho nền kinh
tế (giá trị của những tài sản mua đi bán lại giữa các thực thể kinh tế với nhau không được
coi là đầu tư đối với nền kinh tế). Vì vậy, có những trường hợp đối với một cá nhân, hoặc
của một tổ chức nào đó là đầu tư, nhưng xét trên phạm vi toàn nền kinh tế thì đó không
phải là đầu tư nếu quá trình đầu tư đó không tạo thêm tài sản mới. (ví dụ: một người bỏ ra
một khoản tiền để mua một ngôi nhà của người khác để ở thì hành vi mua bán đó không
được tính là đầu tư trên phạm vi toàn nền kinh tế).
Các nhà kinh tế vĩ mô chia đầu tư thành 3 loại chính như sau: đầu tư vào tài sản cố định
dùng trong sản xuất kinh doanh; đầu tư vào tài sản lưu động và đầu tư vào nhà ở.
Đầu tư tài sản cố định là sự bỏ vốn ra để xây dựng nhà máy, cơ sở hạ tầng và mua sắm
trang, thiết bị và các tài sản đủ tiêu chuẩn là TSCĐ của các đơn vị sản xuất kinh doanh
(làm tăng thực sự tài sản sản xuất). Theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính là những
tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên và có thời gian sử dụng trên 1 năm.
7
Tiểu luận Kinh tế đầu tư Mối quan hệ giữa Đầu tư với Tăng trưởngvà phát triển kinh tế
Đầu tư tài sản lưu động là sự bỏ vốn ra để làm tăng thêm giá trị hàng hoá tồn kho của
các doanh nghiệp, bao gồm cả nguyên, nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang và thành phẩm
tồn kho.
Đầu tư nhà ở là sự bỏ vốn ra của các hộ gia đình, các chủ đất để xây dựng nhà ở mới
dùng để ở và cho thuê.
Tuy nhiên có những ý kiến cho rằng đầu tư xây dựng nhà ở không thuộc phạm vi đầu tư
trên phương diện toàn nền kinh tế. Người ta cho rằng nhà ở thuộc tài sản tiêu dùng của
công bố số liệu của chỉ tiêu “vốn đầu tư phát triển”).
Do vậy, phần này tôi muốn so sánh nội dung của hai chỉ tiêu “Vốn đầu tư cơ bản” và
“Vốn đầu tư phát triển” với nội dung của “Vốn đầu tư trong kinh tế”.
* Vốn đầu tư cơ bản và vốn đầu tư trong kinh tế
Vốn đầu tư cơ bản (hay vẫn quen gọi là vốn đầu tư XDCB) là toàn bộ chi phí dành cho
việc tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định cho nền kinh. Nội dung
của vốn đầu tư cơ bản gồm: các khoản chi phí cho khảo sát thiết kế và xây lắp nhà cửa và
vật kiến trúc; mua sắm và lắp đặt thiết bị máy móc; chi phí trồng mới cây lâu năm; mua
sắm súc vật đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định và một số chi phí khác phát sinh trong quá
trình tái sản xuất tài sản cố định.
Vốn đầu tư cơ bản không bao gồm chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định của các cơ sở sản
xuất; chi phí khảo sát thăm dò chung không liên quan trực tiếp đến việc xây dựng một
công trình cụ thể.
Vốn đầu tư cơ bản gồm: vốn đầu tư xây lắp; vốn đầu tư mua sắm thiết bị và vốn đầu tư cơ
bản khác.
- Vốn đầu tư xây lắp (vốn xây lắp) là phần vốn đầu tư cơ bản dành cho công tác xây
dựng và lắp đặt thiết bị, máy móc gồm: vốn đầu tư dành cho xây dựng mới, mở rộng và
xây dựng lại nhà cửa, vật kiến trúc; vốn đầu tư để lắp đặt thiết bị, máy móc.
- Vốn đầu tư mua sắm thiết bị (vốn thiết bị) là phần vốn đầu tư cơ bản dành cho việc
mua sắm thiết bị, máy móc, công cụ, khí cụ, súc vật, cây con đủ tiêu chuẩn là tài sản cố
định bao gồm cả chi phí vận chuyển, bốc dỡ và chi phí kiểm tra, sửa chữa thiết bị máy
móc trước khi lắp đặt. Đối với các trang thiết bị chưa đủ là tài sản cố định nhưng có trong
dự toán của công trình hay hạng mục công trình để trang bị lần đầu của các công trình xây
dựng thì giá trị mua sắm cũng được tính vào vốn đầu tư mua sắm thiết bị.
9
Tiểu luận Kinh tế đầu tư Mối quan hệ giữa Đầu tư với Tăng trưởngvà phát triển kinh tế
- Vốn đầu tư cơ bản khác là phần vốn đầu tư cơ bản dùng để giải phóng mặt bằng
xây dựng, đền bù hoa màu và tài sản của nhân dân, chi phí cho bộ máy quản lý của ban
kiến thiết, chi phí cho xây dựng công trình tạm loại lớn.
Như vậy, so với tổng số vốn đầu tư trong kinh tế như trên đề cập ta thấy như sau: nội
Tiểu luận Kinh tế đầu tư Mối quan hệ giữa Đầu tư với Tăng trưởngvà phát triển kinh tế
Về nội dung của vốn đầu tư XDCB và vốn lưu động bổ sung là thống nhất với phần đã
nêu trên.
Vốn đầu tư phát triển khác bao gồm: chi phí thăm dò, khảo sát và qui hoạch ngành, vùng
lãnh thổ; chi phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia (Dự án trồng mới 5 triệu ha
rừng, Chương trình 773 phủ xanh đất trống ven sông ven biển, Chương trình 135 hỗ trợ
các xã nghèo, Chương trình sắp xếp lao động và giải quyết việc làm, chương trình giáo
dục và đào tạo, chương trình y tế; Chương trình văn hoá; Chương trình phủ sóng phát
thanh; chương trình mục tiêu về truyền hình; Chương trình dân số và kế hoạch hoá gia
đình; Chương trình phát triển công nghệ thông tin, chương trình hành động phòng chống
ma tuý, Chương trình phòng chống HIV/AIDS, chương trình phòng chống tệ nạn mại
dâm ); chi phí cho các hoạt động nghiên cứu, triển khai, đào tạo và bồi dưỡng nguồn
nhân lực không thuộc vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
Vốn đầu tư phát triển là vốn được bỏ ra để thực hiện mục đích đầu tư nhằm sau một chu
kỳ hoạt động hoặc sau một thời gian nhất định thu về một giá trị nhất định lớn hơn giá trị
vốn đã bỏ ra ban đầu. Nội dung của vốn đầu tư phát triển gồm: vốn đầu tư xây dựng cơ
bản, vốn đầu tư mua sắm thiết bị máy móc, tài sản cố định dùng cho sản xuất kinh doanh,
vốn đầu tư cho sửa chữa lớn tài sản cố định; vốn đầu tư bổ sung cho vốn lưu động và các
nguồn vốn đầu tư phát triển khác như vốn đầu tư để thực hiện các chương trình mục tiêu
quốc gia, cho khoa học công nghệ, cho đào tạo nguồn nhân lực con người
So sánh giữa nội dung của chỉ tiêu “Vốn đầu tư trong kinh tế” và “Vốn đầu tư phát triển”
ta thấy: nội dung của chỉ tiêu “Vốn đầu tư” trong kinh tế không bao gồm những phần đầu
tư cho người lao động (hoặc nguồn lao động) như: Chi cho giáo dục, đào tạo nguồn lao
động kể cả đào tạo của các doanh nghiệp và các đơn vị hành chính sự nghiệp; chi sự
nghiệp khoa học công nghệ và chi cho nghiên cứu không trực tiếp liên quan đến công
trình xây dựng nào; chi sự nghiệp y tế, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, và các khoản chi
khác không được quyết toán vào tăng tài sản của nền kinh tế.
1.3 Mối quan hệ giữa đầu tư với tăng trường và phát triển kinh tế
1.3.1 Tốc độ tăng đầu tư và tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Đầu tư tác động lên tăng trưởng kinh tế ở cả hai mặt; tổng cung và tổng cầu. Yếu tố
0
)/ Y(t)/Y(t
0
) (7)
ở đây: t là năm tính toán; t
0
là năm trước năm tính toán
Người ta coi Y(t)/Y(t
0
) chính là tốc độ tăng GDP; K(t)/Y(t
0
) là tỷ lệ đầu tư của năm tính
toán trên GDP của năm trước đó. Điều này có nghĩa để đạt được tốc độ tăng trưởng nào
đó thì nền kinh tế phải đầu tư theo một tỷ lệ nhất định nào đó từ GDP; khi chuyển sang
dạng tốc độ hệ số k gọi là hệ số ICOR (incremental capital - output ratio); hệ số này cho
biết để tăng thêm một đồng GDP thì cần tăng thêm bao nhiêu đồng vốn đầu tư. Có một
thời gian rất nhiều người thích sử dụng cách tính ICOR theo công thức này và họ đơn
giản lấy Y(t)/Y(t
0
) là tốc độ tăng trưởng (công bố trong niên giám Thống kê) và họ rất băn
khoăn không biết lấy tỷ lệ và giá gì cho phần tử số. Cách tính này là không thực tế đối với
12
Tiểu luận Kinh tế đầu tư Mối quan hệ giữa Đầu tư với Tăng trưởngvà phát triển kinh tế
Việt Nam do nguồn số liệu không khả thi, ví dụ như họ thường lấy K là vốn từ trong Niên
giám Thống kê; khái niệm vốn đầu tư trong Niên giám Thống kê thực ra không phải là
vốn theo định nghĩa của các nhà kinh tế, mà cũng không hẳn là đầu tư theo SNA, nó là cái
gì thì hiện nay còn đang tranh cãi!
Từ quan hệ (5) cũng có thể khai triển (vi phân hai vế) với công thức tính ICOR như
sau:
k = (K(t)-K(t
trong những căn cứ quan trọng đối với các nhà hoạch định trong xây dựng chiến lược phát
triển kinh tế, xã hội.
Hai là: Khi đứng trước một mục tiêu tăng trưởng do yêu cầu của các cấp lãnh đạo đặt ra,
mô hình cho phép chúng ta xác định được nhu cầu tích luỹ cần có để đạt được mục tiêu
đó. Là căn cứ để đánh giá khả năng đạt mục tiêu đã đề ra
* Nhược điểm của ICOR:
- Là một chỉ số đã được đơn giản hóa nên khó đánh giá các hiệu quả kinh tế - xã hội.
- Đầu tư ở đây chỉ là đầu tư tài sản hữu hình, còn đầu tư tài sản vô hình, tài sản tài chính
không được tính đến, nên phản ánh chưa trung thực ảnh hưởng của đầu tư tới thu nhập
quốc dân.
- Chỉ số này không biểu hiện được rõ ràng trình độ kỹ thuật của phía sản xuất, vì ICOR là
tỷ lệ đầu tư/sản lượng gia tăng. Chẳng hạn một bên có kỹ thuật sản xuất kém hơn, với một
lượng đầu tư tương đối cũng có thể cải thiện chỉ số ICOR xấp xỉ với bên có trình độ kỹ
thuật cao hơn, do kỹ thuật càng cao thì càng chậm cải tiến.
Giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ vận động và chuyển hoá. Mối quan
hệ giữa đầu tư và tăng trưởng thường theo chiều thuận, nghĩa là đầu tư lớn thì tăng
trưởng cao. Tuy nhiên cũng có những trường hợp diễn biến theo chiều ngược lại, đầu
tư lớn mà không hiệu quả, hoặc lỗ nhiều. Có những trường hợp đầu tư chưa đem lại
hiệu quả ngay như đầu tư vào các dự án trung và dài hạn, đầu tư vào cơ sở hạ tầng.
Chính do đặc điểm có độ trễ trong hiệu quả đầu tư nên Hệ số ICOR thường được dự
tính cho các kế hoạch phát triển dài hạn, thường là 5 năm.
Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng được thể hiện thông qua hệ số ICOR
(Incremental Capital-Output Ratio). Hệ số ICOR là tỷ lệ vốn đầu tư so với tốc độ tăng
trưởng (còn gọi là hệ số đầu tư tăng trưởng). Hệ số ICOR cho biết muốn có một đồng
tăng trưởng thì phải cần bao nhiều đồng vốn đầu tư.
Hệ số ICOR biểu hiện mối quan hệ giữa mức tăng sản lượng đầu ra (kỳ t) và mức đầu
tư của kỳ (t-1) và được tính bằng công thức:
14
Tiểu luận Kinh tế đầu tư Mối quan hệ giữa Đầu tư với Tăng trưởngvà phát triển kinh tế
Hệ số ICOR phụ thuộc vào nguồn dự trữ và công nghệ sản xuất. ICOR càng cao chứng
“cất cánh” không hoàn toàn phù hợp với thực tế của lịch sử. Một nhà kinh tế khác gọi
15
Tiểu luận Kinh tế đầu tư Mối quan hệ giữa Đầu tư với Tăng trưởngvà phát triển kinh tế
giai đoạn bắt đầu này là “sự đâm chồi”- bằng chứng của các dấu hiệu tăng trưởng đầu
tiên.
Cần xét đến một số khía cạnh ít mang tính số lượng hơn của việc tăng trưởng. Một
thời kỳ dài của tăng trưởng bền vững dẫn đến sự tăng trưởng bình thường. Các nhà lập
chính sách hy vọng sẽ có tăng trưởng liên tục và sẽ sửa đổi chính sách nếu không tăng
trưởng. Nếu thặng dư xã hội, hệ số ICOR và mức tăng trưởng kinh tế kết hợp mang lại
cho xã hội tốc độ tăng trưởng 0,5%/năm / vốn đầu tư tăng trưởng, điều chắc chắn là
không một ai muốn có tốc độ tăng trưởng này. Nếu tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức
0,5%/năm thì phải cần tới 144 năm để gấp đôi thu nhập từ 1 đồng vốn. [4].
1.3.2. Mối quan hệ giữa cơ cấu đầu tư và tốc độ tăng trưởng
Các nhà kinh tế đều thừa nhận đầu tư là một trong những nhân tố quan trọng nhất đối
với tăng trưởng kinh tế, muốn có tăng trưởng phải có đầu tư. Tuy nhiên cơ cấu đầu tư
(đầu tư vào đâu) là một vấn đề gây nhiều tranh cãi.
Các nhà kinh tế đều đồng ý với nhau rằng cần có một cơ cấu đầu tư hợp lý, để tạo ra cơ
cấu kinh tế hợp lý. Thuật ngữ "hợp lý" ở đây được hiểu là cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế
như thế nào để đảm bảo được tốc độ phát triển nhanh và bền vững. Mặc dù đồng ý với
nhau như vậy nhưng các nhà kinh tế có quan điểm rất khác nhau về cách thức tạo ra một
cơ cấu đầu tư "hợp lý". Có một số quan điểm chủ yếu sau đây:
+ Quan điểm của trường phái tân cổ điển
Quan điểm này cho rằng Nhà nước không nên can thiệp vào nền kinh tế trong quá trình
phân bổ nguồn lực (Vốn, lao động ) mà sự vận động của thị trường sẽ thực hiện tốt hơn
vai trò này. Trường phái này khẳng định một trong những ưu điểm của kinh tế thị trường
đó là sự phân bổ nguồn lực một cách tự động dưới sự tự điều khiển của thị trường. Các
doanh nghiệp với mục đích tối đa hoá lợi nhuận sẽ tìm kiếm những cơ hội đầu tư tốt nhất
cho mình. Tuy nhiên giả thiết của trường phái tân cổ điển là thị trường cạnh tranh hoàn
hảo. Đó là thị trường mà người bán và người mua không ai kiểm soát và có khả năng
kiểm soát giá cả và có đầy đủ thông tin trong cả hiện tại và tương lai. Trong thực tế giả
không phụ thuộc vào nguồn tài trợ bên ngoài.
Theo Nurske: ông ủng hộ sự phát triển cân đối, sản xuất hàng loạt nhiều loại sản
phẩm để gia tăng cầu, lúc đó sẽ khai thác được "lợi thế về qui mô", như vậy hiệu quả
đầu tư mới cao và đẩy nhanh tốc độ phát triển.
+ Tăng trưởng không cân đối
17
Tiểu luận Kinh tế đầu tư Mối quan hệ giữa Đầu tư với Tăng trưởngvà phát triển kinh tế
Hirschman (1958) đưa ra một mô hình mang tính trái ngược. Ông cho rằng sự mất cân đối
giữa cung và cầu tạo ra động lực cho nhiều dự án mới. Theo cách tiếp cận này vốn đầu tư
cần được nhà nước phân phối cho những ngành công nghiệp trọng điểm, nhằm tạo ra cơ
hội ở những ngành khác trong nền kinh tế; khái niệm về "liên hệ ngược" và "liên hệ xuôi"
cũng ra đời từ ông này. Hai khái niệm này được tính toán từ mô hình I/O. Ông cho rằng
sự mất cân đối này sẽ tạo ra sự phát triển.
Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế chuyển đổi, nhiều định chế của
cơ chế thị trường chưa hoàn chỉnh, nên các điều kiện của thị trường cạnh tranh hoàn hảo
rõ ràng là chưa đáp ứng được. Mặt khác, nền kinh tế của ta đang ở mức phát triển thấp,
chịu ảnh hưởng của một thời gian dài trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung Tất cả những
đặc tính đó cho thấy Nhà nước cần đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát
triển kinh tế, không thể để thị trường tự thân vận động.
18
Tiểu luận Kinh tế đầu tư Mối quan hệ giữa Đầu tư với Tăng trưởngvà phát triển kinh tế
PHẦN II. THỰC TRẠNG VỀ ĐẦU TƯ VÀ TĂNG TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
KINH TẾ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
2.1 Các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế và đầu tư tròng vòng 5 năm trở lại đây – những
kết quả đạt được
Ở góc độ toàn nền kinh tế, hệ số ICOR biểu hiện tỷ lệ vốn đầu tư so với tốc độ tăng
trưởng GDP. ở nước ta tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP còn thấp so với các quốc
gia trong khu vực. Vấn đề đặt ra là phải có các chính sách và biện pháp để tăng huy động
vốn (cả về số lượng và tỷ lệ) và đặc biệt quan trọng là phải nâng cao hiệu quả quản lý và
sử dụng vốn đầu tư.
đầu tư và so sánh hiệu quả đầu tư ở các nước khác nhau.
Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế, không chỉ được đặt ra đối với nền kinh tế
của một quốc gia mà còn phải đặt ra cho từng lĩnh vực, từng ngành kinh tế và từng đơn vị
kinh tế. Việc đầu tư vào đâu, đầu tư bao nhiêu và đầu tư vào thời điểm nào để đạt được
hiệu qủa kinh tế cao là những vấn đề mà các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà hoạch định
chính sách, xây dựng dự án đầu tư phải nghiên cứu kỹ.
Đầu tư và tăng trưởng đang trở thành vấn đề kinh tế quan trọng hiện nay của đất nước.
Tăng thêm vốn đầu tư và đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế là nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu. Đầu tư và tăng trưởng sẽ mang lại hiệu quả nếu có những giải pháp thích hợp
Chỉ số ICOR đo lường hiệu quả đầu tư, tính trên lượng vốn cần tăng thêm để đạt mức gia
tăng một đơn vị sản lượng, chính là thông số biểu hiện cụ thể nhất của thể trạng sức khỏe
nền kinh tế. Chỉ so ICOR cao đồng nghĩa với hiệu suất kinh tế thấp, nói lên tính cách
“tinh và gọn” của hệ thống.
Tỷ lệ đầu tư trên GDP của Việt Nam luôn ở mức cao so với các nước trong khu vực. Tính
trung bình từ năm 2007 đến 2008 tỷ lệ đầu tư/GDP của Việt Nam là 39.7%. Năm 2008, tỷ
lệ đầu tư/GDP lên đến 43.1%, còn theo ước tính sơ bộ đến hết tháng 8 năm 2009 tỷ lệ này
là 43,9%. Dù đầu tư cao như vậy nhưng tốc độ tăng trưởng chỉ từ 6 - 8.5%, và dự kiến,
năm 2009, mức tăng trưởng cao của Việt Nam cũng chỉ dừng ở 5,2%, do đó, hệ số ICOR
luôn ở mức cao.
ICOR càng cao đồng nghĩa với hiệu quả đầu tư trong nền kinh tế càng thấp. Chất lượng
tăng trưởng thấp kéo dài là tiền đề gây nên lạm phát, khủng hoảng và suy thoái kinh tế.
Ngay từ năm 2007, khi hệ số ICOR của Việt Nam dừng ở mức 5-6, đã có những cảnh báo
về sự lãng phí trong đầu tư và hiệu quả thấp trong sử dụng nguồn lực của Việt Nam.
20
Tiểu luận Kinh tế đầu tư Mối quan hệ giữa Đầu tư với Tăng trưởngvà phát triển kinh tế
Ông Trần Đức Nguyên, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, đã phân tích:
chỗ yếu của nền kinh tế nước ta là tăng trưởng kém chất lượng. Hệ số ICOR của nước ta
trong các năm 2001-2007 là 5,2 nghĩa là cần 5,2 đồng vốn đầu tư để tăng được một đồng
GDP, cao gấp rưỡi đến gấp hai nhiều nước xung quanh trong thời kỳ đầu công nghiệp
hoá. Các nước làm giỏi, ICOR của họ thời kỳ đầu CNH là trên dưới 3.
2001 – 2003 5,24
2004 – 2006 5,04
2007 – 2008 6,15
2009 (dự tính) 8
Nguồn TCTK
Đặt trong tương quan với việc Việt Nam tụt hạng về năng lực cạnh tranh theo đánh giá
của Ngân hàng Thế giới, cũng như của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, việc hệ số ICOR tăng
thể hiện rõ xu hướng đi xuống của nền kinh tế.
Để đảm bảo hiệu quả đầu tư, có hai yếu tố cân nhắc: đầu tư đúng đối tượng, và môi
trường kinh doanh liên tục được cải thiện (tính cạnh tranh) để tiền rót vào được sử dụng
hiệu quả. Đáng tiếc, soi vào thực tế Việt Nam , cả hai yếu tố đó đều có vấn đề.
Cụ thể: "Danh chính, ngôn thuận thì mọi việc làm mới thuận. Việt Nam nói là kích cầu,
nhưng thực chất lại dùng kích cung để thông qua đó hy vọng đẩy cầu lên. Cầu có thật thì
cung mới có thật. Trong bối cảnh khủng hoảng, các DN co cụm, kích cung chỉ có thể
mang lại hiệu quả giới hạn. Rút cuộc, bỏ ra lượng vốn lớn, nhưng chúng ta không tăng
được sự linh hoạt của thị trường, kéo theo đó là hiệu quả đầu tư giảm đi".
Đặc biệt, đối tượng thụ hưởng chính của các chính sách kích cầu của Chính phủ là khối
các DNNN, khu vực vốn được nhiều ưu đãi và gây nhiều quan ngại cho các kinh tế gia
Việt Nam
22
Tiểu luận Kinh tế đầu tư Mối quan hệ giữa Đầu tư với Tăng trưởngvà phát triển kinh tế
Đặt trong tương quan với việc Việt Nam tụt hạng về năng lực cạnh tranh theo đánh giá
của Ngân hàng Thế giới, cũng như của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, việc hệ số ICOR tăng
thể hiện rõ xu hướng đi xuống của nền kinh tế.
Để đảm bảo hiệu quả đầu tư, có hai yếu tố cân nhắc: đầu tư đúng đối tượng, và môi
trường kinh doanh liên tục được cải thiện (tính cạnh tranh) để tiền rót vào được sử dụng
hiệu quả. Đáng tiếc, soi vào thực tế Việt Nam , cả hai yếu tố đó đều có vấn đề.
Năm Chỉ tiêu kinh tế Đầu tư
2006 Tổng sản phẩm trong nước năm 2006 theo
giá so sánh ước tính tăng 8,17% so với cùng
trực tiếp nước ngoài chiếm 16,3%,
bằng 116,1%.
Vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn
ngân sách Nhà nước năm 2006 ước
tính thực hiện 64,1 nghìn tỷ đồng,
bằng 114,1% kế hoạch cả năm,
trong đó vốn đầu tư do trung ương
quản lý xấp xỉ 18 nghìn tỷ đồng,
bằng 103,3%; vốn do địa phương
quản lý 46,1 nghìn tỷ đồng, bằng
119%.
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài
năm 2006 tiếp tục phát triển. Tính
từ đầu năm đến 18/12/2006, cả
nước có 797 dự án đầu tư nước
ngoài được cấp giấy phép với tổng
số vốn đăng ký 7,57 tỷ USD, bình
23
Tiểu luận Kinh tế đầu tư Mối quan hệ giữa Đầu tư với Tăng trưởngvà phát triển kinh tế
trì được mức độ tăng cao như thương
nghiệp; vận tải, bưu chính viễn thông, du
lịch; khách sạn, nhà hàng; tài chính ngân
hàng, bảo hiểm.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo
hướng tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp,
xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng khu vực
nông lâm nghiệp và thuỷ sản. Tỷ trọng khu
vực công nghiệp và xây dựng từ 40,97%
năm 2005 lên 41,52% trong năm nay; khu
vực dịch vụ tăng từ 38,01% lên 38,08%; khu
chiếm 1,6%. Có 43 tỉnh, thành phố
có dự án đầu tư nước ngoài mới cấp
phép trong năm 2006, trong đó có
12 tỉnh, thành phố có số vốn đăng
ký từ 100 triệu USD trở lên. Có 39
quốc gia và vùng lãnh thổ được cấp
giấy phép đầu tư vào Việt Nam
trong năm 2006
2007 Theo ước tính sơ bộ, tổng sản phẩm trong
nước (GDP) năm 2007 theo giá so sánh
1994 ước tính tăng 8,48% so với năm 2006,
đạt kế hoạch đề ra (8,2-8,5%), gồm có khu
vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng
3,41% (kế hoạch 3,5-3,8%); khu vực công
nghiệp và xây dựng tăng 10,6% đạt kế
Khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội
thực hiện năm 2007 theo giá thực tế
ước tính đạt 461,9 nghìn tỷ đồng,
bằng 40,4% tổng sản phẩm trong
nước (đạt kế hoạch đề ra 40%
GDP) và tăng 15,8% so với năm
2006, trong đó vốn khu vực Nhà
24
Tiểu luận Kinh tế đầu tư Mối quan hệ giữa Đầu tư với Tăng trưởngvà phát triển kinh tế
hoạch đề ra (10,5-10,7%); khu vực dịch vụ
tăng 8,68% vượt kế hoạch đề ra (8,0-8,5%).
Tăng trưởng kinh tế năm 2007 của nước ta
đứng vào hàng các quốc gia có tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao trong khu vực (Theo
đánh giá của Ngân hàng Phát triển Châu Á-
56,3% kế hoạch cả năm, trong đó
vốn cấp phép mới là 17,86 tỷ USD
25