Tác động của đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế - Pdf 10

Dựa vào các lý thuyết kinh tế về đầu tư giải thích vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
MỤC LỤC
GV hướng dẫn: PGS.TS. Từ Quang Phương 1
Dựa vào các lý thuyết kinh tế về đầu tư giải thích vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
LỜI MỞ ĐẦU
Tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn là mục tiêu hướng tới của nhiều
quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Từ khi giành được độc lập
năm 1975 và đặc biệt là từ sau năm 1986, khi Việt Nam thực hiện chính
sách đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn đặt mục tiêu phát triển kinh tế lên
hàng đầu với định hướng đến năm 2020 Việt Nam sẽ cơ bản trở thành một
nước công nghiệp. Để đạt được mục tiêu trên thì đầu tư là một yếu tố cực
kỳ quan trọng vì đầu tư, nói rõ hơn là đầu tư phát triển, không những làm
gia tăng tài sản của cá nhân nhà đầu tư, mà còn trực tiếp làm gia tăng tài
sản vật chất cho nền kinh tế, có tác động rất mạnh mẽ đến phát triển kinh
tế. Đã có nhiều lý thuyết về đầu tư được nêu ra nhằm phân tích tác động
của đầu tư đến tăng trưởng và phát triển dưới nhiều khía cạnh khác nhau
như lý thuyết số nhân đầu tư, lý thuyết gia tốc đầu tư, mô hình Harrod –
Domar...
Chính phủ Việt Nam với vai trò của mình đã luôn nỗ lực tạo điều kiện
tốt nhất cho mục tiêu phát triển kinh tế bền vững và kết quả là Việt Nam đã
trở thành thành viên chính thức của tổ chức kinh tế thế giới WTO từ ngày
11/01/2007. Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức lớn đặt ra đối với Việt
Nam khi nền kinh tế còn non trẻ, khả năng kiểm soát các luồng vốn đầu tư
(trong nước và từ bên ngoài vào) còn hạn chế. Nếu không có một cái nhìn
đúng đắn về đầu tư thì nền kinh tế Việt Nam sẽ rất khó đứng vững trước
làn sóng vốn tràn vào Việt Nam và luôn biến động một cách mạnh mẽ như
hiện nay. Chính vì tầm quan trọng của đầu tư đối với tăng trưởng và phát
triển kinh tế là rất lớn nhưng vấn đề giải thích sự tác động đó thông qua các
lý thuyết kinh tế về đầu tư còn ít được đề cập đến. Do đó chúng tôi quyết
định chọn đề tài nghiên cứu là: “DỰA VÀO CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ VỀ
ĐẦU TƯ GIẢI THÍCH VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ

với toàn bộ nền kinh tế. Những kết quả này không chỉ nhà đầu tư mà cả nền
kinh tế, xã hội được thụ hưởng.
Chẳng hạn, một nhà máy được xây dựng, tài sản vật chất của nhà đầu tư
trực tiếp tăng lên, đồng thời tài sản vật chất, tiềm lực sản xuất của nền kinh tế
cũng được tăng thêm. Lợi ích trực tiếp do sự hoạt động của nhà máy này đem lại
cho nhà đầu tư là lợi nhuận, còn cho nền kinh tế là thoả mãn nhu cầu tiêu dùng
(cho sản xuất và cho sinh hoạt) tăng thêm của nền kinh tế, đóng góp cho ngân
sách, giải quyết việc làm cho người lao động…
Trình độ nghề nghiệp, chuyên môn của người lao động tăng thêm không
chỉ có lợi cho chính họ (để có thu nhập cao, địa vị cao trong xã hội) mà còn bổ
sung nguồn lực có kỹ thuật cho nền kinh tế để có thể tiếp nhận công nghệ ngày
càng hiện đại, góp phần nâng cao dần trình độ công nghệ và kỹ thuật của nền
sản xuất quốc gia.
1.2 Phân loại đầu tư:
Căn cứ vào các kết quả của hoạt động đầu tư, bản chất và lợi ích do đầu
tư đem lai chúng ta có thể chia đầu tư ra làm 3 loại: đầu tư tài chính, đầu tư
thương mại và đầu tư phát triển.
*Đầu tư tài chính:
Đầu tư tài chính là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra cho vay hoặc
mua các giấy tờ có giá để hưởng lãi suất định trước, hay lãi suất tuỳ thuộc vào
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ quan phát hành. Đầu tư tài chính
không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (Nếu không xét đến quan hệ quốc tế
trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của các tổ chức, cá
nhân. Với sự hoạt động của hình thức đầu tư này, vốn được lưu chuyển dễ dàng,
khi cần có thể rút ra nhanh chóng. Đây thực sự là một nguồn cung cấp vốn quan
trọng cho đầu tư phát triển.
* Đầu tư thương mại:
Đầu tư thương mại là hình thức đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra
mua hàng hóa và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận chênh lệch do
GV hướng dẫn: PGS.TS. Từ Quang Phương 4

1.3 Khái niệm về tăng trưởng:
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một
khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Sự gia tăng này được thể hiện
ở quy mô và tốc độ tăng trưởng. Quy mô phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít còn
tốc độ tăng trưởng được dùng để so sánh sự gia tăng giữa các thời kỳ. Người ta
thường xác định tăng trưởng kinh tế thông qua các chỉ tiêu GDP (tổng sản phẩm
quốc nội), GNP (tổng sản phẩm quốc dân) và GNI (thu nhập bình quân đầu
người).
Bản chất của tăng trưởng kinh tế là phản ánh sự thay đổi về lượng của
nền kinh tế. Đầu tư phát triển không những làm gia tăng tài sản của nhà đầu tư
mà còn trực tiếp làm tăng tài sản của nền kinh tế quốc dân. Chẳng hạn khi nhà
đầu tư xây dựng một nhà máy thì nhà máy đó không những là tài sản của nhà
đầu tư mà còn là tiềm lực sản xuất của cả nền kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm
cho người lao động. Như vậy đầu tư phát triển chính là một yếu tố không thể
thiếu đối với quá trình tăng trưởng của một nền kinh tế.
1.4 Khái niệm về phát triển:
Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến về mọi mặt của nền kinh
tế. Phát triển kinh tế là một khái niệm rộng hơn tăng trưởng. Nếu tăng trưởng
được xem là quá trình biến đổi về lượng thì phát triển là quá trình biến đổi cả về
lượng và chất của nền kinh tế. Đó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình
hoàn thiện của cả hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Phát triển kinh
tế bao gồm có tăng trưởng, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiều hướng tiến
bộ (thường xét đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành: sự gia tăng tỉ trọng ngành
công nghiệp, dịch vụ và giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp), sự biến đổi ngày
càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội (xóa bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, tăng
tuổi thọ bình quân, tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, nước sạch của người
dân, đảm bảo phúc lợi xã hội, giảm thiểu bất bình đẳng trong xã hội…).
Một mặt trái của đầu tư phát triển, bên cạnh việc làm tăng sản lượng của
nền kinh tế, đầu tư phát triển còn gây nên một số tác động tiêu cực như ô nhiễm,
GV hướng dẫn: PGS.TS. Từ Quang Phương 6

là mức gia tăng đầu tư
k là số nhân đầu tư
Từ công thức (1) ta có :
IkY
∆=∆
.
GV hướng dẫn: PGS.TS. Từ Quang Phương 7
Dựa vào các lý thuyết kinh tế về đầu tư giải thích vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
Như vậy việc gia tăng đầu tư có tác dụng khuếch đại sản lượng tăng lên
số nhân lần. Trong công thức trên, k là một số dương lớn hơn 1. Vì khi I=S, có
thể biến đổi công thức (2) thành:
MPSMPC
C
Y
CY
Y
S
Y
I
Y
k
1
1
1
1
1
=

=


càng lớn. Sản lượng càng tăng thì công ăn việc làm càng gia tăng.
Thực tế gia tăng đầu tư, dẫn đến gia tăng các yếu tố tư liệu sản xuất (máy
móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu…) và quy mô lao động. Sự kết hợp hai yếu
tố này làm cho sản xuất phát triển, kết quả là gia tăng sản lượng của nền kinh tế.
3. Lý thuyết gia tốc về đầu tư
3.1 Tư tưởng trung tâm của mô hình gia tốc đầu tư
Nếu số nhân đầu tư giải thích mối quan hệ giữa việc gia tăng đầu tư với
sản lượng hay việc gia tăng đầu tư có ảnh hưởng như thế nào tới sản lượng. Như
vậy, đầu tư xuất hiện như một yếu tố của tổng cầu. Theo Keynes, đầu tư còn
được xem xét dưới góc độ tổng cung, nghĩa là mỗi sự thay đổi của sản lượng
cũng làm thay đổi đầu tư như thế nào.
Các doanh nghiệp thực hiện các dự án đầu tư để đưa mức tư bản đạt
mức mong muốn. Lượng tư bản mong muốn phụ thuộc vào mức sản lượng là
GV hướng dẫn: PGS.TS. Từ Quang Phương 8
Dựa vào các lý thuyết kinh tế về đầu tư giải thích vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
điều dễ dàng chấp nhận được. Khi mức sản lượng cao hơn, các hãng có nhu cầu
lớn hơn về tư bản, vì tư bản là một trong nhiều nhân tố để tạo ra sản lượng. Tư
tưởng trung tâm của mô hình gia tốc dựa trên mối quan hệ đơn giản này.
3.2 Nội dung của lí thuyết gia tốc đầu tư
Mô hình gia tốc giả thiết rằng, lượng tư bản mong muốn là bội số của
mức sản lượng:
t
d
t
YK .
α
=
0>
α
(1)

tttt
d
t
d
ttn
YYYYKKI
ααα
ttn
YI
∆=
.
,
α
(4)
Mức đầu tư phụ thuộc vào sự thay đổi của sản lượng.
Dạng đơn giản này cho ta thấy một đặc điểm quan trọng của mô hình gia
tốc từ phương trình (1),
α
có thể được coi là tỉ lệ giứa mức tư bản mong muốn
so với sản lượng:
GV hướng dẫn: PGS.TS. Từ Quang Phương 9
Dựa vào các lý thuyết kinh tế về đầu tư giải thích vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
t
d
t
Y
K
=
α
(5)


−=
t
d
ttn
KKI
λ
10 <<
λ
(6)
Sử dụng (1) ta có:
)..(
1,

−=
tttn
KYI
αλ
(7)
Trong đó, thông thường
1−t
K
khác
d
t
K
1−
do lượng tư bản thực tế khác
lượng tư bản mong muốn trong mỗi thời kì. Phương trình (7) xác định cơ chế
điều chỉnh một phần mà ở đó hệ số

a. Lý thuyết giả định quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng và đầu tư là cố định.
Thực tế đại lượng này (α) luôn biến do sự tác động của nhiều nhân tố khác.
b. Thực chất lý thuyết đã xem xét sự biến động của đầu tư thuần (NI) chứ
không phải sự biến động của tổng đầu tư do sự tác động của thay đổi sản lượng.
Vì từ công thức
t
d
t
YK .
α
=
có thể viết:
Tại thời điểm t:
t
d
t
YK .
α
=
(8)
Tại thời điểm (t -1):
11
.
−−
=
t
d
t
YK
α

I
t
-D= K
d
t
- K
t-1
d
= α( Y
t
-Y
t-1
d
)= α.ΔY (11)
Và đầu tư ròng ΔI= α.ΔY
Như vậy theo lý thuyết này đầu tư ròng là hàm của sự gia tăng sản lượng
đầu ra. Nếu sản lượng tăng, đầu tư ròng tăng (lớn hơn α lần). Nếu sản lượng
giảm, đầu tư thuần sẽ âm. Nếu tổng cầu về sản lượng trong thời gian dài không
đổi, đầu tư ròng sẽ bằng 0 (khi ΔY=0 thì ΔI=0)
GV hướng dẫn: PGS.TS. Từ Quang Phương 12
Dựa vào các lý thuyết kinh tế về đầu tư giải thích vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tuy nhiên khi sản lượng không thay đổi giữa hai thời kỳ đầu tư thuần
bằng 0 nhưng tổng đầu tư là một số dương vì các doanh nghiệp vẫn phải đầu tư
thay thế máy móc thiết bị đã hao mòn hết.
c. Theo lý thuyết này toàn bộ vốn đầu tư mong muốn đều được thực hiện
ngay trong cùng một thời kỳ. Điều này không đúng vì nhiều lý do, chẳng hạn do
việc cung cấp các yếu tố có liên quan đến thực hiện vốn đầu tư không đáp ứng,
do cầu vượt quá cung…do đó lý thuyết gia tốc đầu tư tiếp tục được hoàn thiện
qua thời gian. Theo lý thuyết gia tốc đầu tư sau này thì vốn đầu tư mong muốn
được xác định như là một hàm của mức sản lượng hiện tại và quá khứ, nghĩa là

Và lý thuyết gia tốc đầu tư hoàn thiện sau này cũng đã đề cập đến tổng
đầu tư.
Theo lý thuyết gia tốc đầu tư ban đầu thì đầu tư thuần ∆I=I
t
- D
t
=K
t
d
-K
t-1
d
.
Theo lý thuyết gia tốc đầu tư sau này thì
K
t
d
- K
t-1
d
= λ(Kt
*
t
–K
t-1
) và do đó ∆I= λ(Kt
*
t
–K
t-1

t-1
d
I
t
chính là tổng đầu tư trong kỳ và là hàm của vốn mong muốn và vốn
thực hiện.
GV hướng dẫn: PGS.TS. Từ Quang Phương 13
Dựa vào các lý thuyết kinh tế về đầu tư giải thích vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
4. Lý thuyết quỹ nội bộ đầu tư
Theo lý thuyết này, đầu tư có quan hệ tỷ lệ thuận với lợi nhuận thực tế:
I = f (lợi nhuận thực tế). Do đó, dự án đầu tư nào đem lại lợi nhuận cao sẽ được
lựa chọn. Vì lợi nhuận cao, thu nhập giữ lại cho đầu tư sẽ lớn hơn và mức đầu tư
sẽ cao hơn. Nguồn vốn cho đầu tư có thể huy động bao gồm: Lợi nhuận giữ lại,
tiền trích khấu hao, đi vay các loại trong đó bao gồm cả việc phát hành trái
phiếu bán cổ phiếu là nguồn vốn huy động từ bên ngoài. Vay mượn thì phải trả
nợ, trường hợp nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, doanh nghiệp có thể
không trả được nợ và lâm vào tình trạng phá sản. Do đó, việc đi vay không phải
là điều hấp dẫn, trừ khi được vay ưu đãi. Cũng tương tự, việc tăng vốn đầu tư
bằng phát hành trái phiếu cũng không phải là biện pháp hấp dẫn. Còn bán cổ
phiếu để tài trợ cho đầu tư chỉ được các doanh nghiệp thực hiện khi hiệu quả
của dự án đầu tư là rõ ràng và thu nhập do dự án đem lại trong tương lai sẽ lớn
hơn các chi phí đã bỏ ra.
Chính vì vậy theo lý thuyết quỹ nội bộ của đầu tư, các doanh nghiệp
thường chọn biện pháp tài trợ cho đầu tư từ các nguồn vốn nội bộ và các sự gia
tăng của lợi nhuận sẽ làm cho mức đầu tư của doanh nghiệp lớn hơn.
Sự khác nhau giữa lý thuyết gia tốc đầu tư và lý thuyết này dẫn đến việc
thực thi các chính sách khác nhau để khuyến khích đầu tư. Theo lý thyết gia tốc
đầu tư chính sách tài khoá mở rộng sẽ làm cho mức đầu tư cao hơn và do đó sản
lượng thu được cũng sẽ cao hơn. Còn việc giảm thuế lợi tức của doanh nghệp
không có tác dụng kích thích đầu tư. Ngược lại theo lý thuyết quỹ nội bộ của

- Là hàm số biểu thị sự phụ thuộc của sản lượng vào các yếu tố đầu vào
như vốn, lao động, …
GV hướng dẫn: PGS.TS. Từ Quang Phương 15
Dựa vào các lý thuyết kinh tế về đầu tư giải thích vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
- Hàm có dạng:
Y = Ae
rt
L
α
K
1-
α
Trong đó:
Y: sản lượng
L: số lao động
K: lượng vốn
Ae
rt
: năng suất toàn bộ nhân tố (đặc trưng cho công nghệ)
t : là thời gian
α,1-α : là các hệ số co giãn theo sản lượng lần lượt của lao động và
vốn
Trong trường hợp nền kinh tế (thị trường) ở trạng thái cạnh tranh hoàn
hảo thì α, 1-α có thể được xem là tỷ lệ đóng góp của vốn và lao động vào sản
lượng.
Từ hàm sản xuất Cobb - Douglas trên đây ta có thể tính được tốc độ tăng
trưởng của sản lượng như sau:
g = r + αh + (1-α) n
Trong đó:
g: Tỷ lệ tăng trưởng của sản lượng.

1
r
α

+ n
Từ đó ta thấy tỷ lệ tăng trưởng trong “thời đại hoàng kim” g phụ thuộc
vào tỷ lệ tăng trưởng của công nghệ và lao động.
• Những nội dung mới của mô hình tân cổ điển:
- Trong mô hình tân cổ điển các nhà kinh tế học bác bỏ quan điểm cổ
điển cho rằng sản xuất trong một tình trạng nhất định đòi hỏi những tỉ
lệ nhất định về lao động và vốn. Họ cho rằng vốn có thể thay thế
được nhân công và trong quá trình sản xuất, có nhiều cách khác nhau
trong việc kết hợp các yếu tố đầu vào.
- Từ quan điểm trên đây, các nhà linh tế học tân cổ điển cũng đưa ra
khái niệm “Sự phát triển kinh tế theo chiều sâu”, có nghĩa là gia tăng
số lượng vốn cho một đơn vị lao động trong sản xuất; còn sự gia tăng
vốn phù hợp với sự gia tăng về lao động được gọi là “Sự phát triển
kinh tế theo chiều rộng”.
- Các nhà kinh tế tân cổ điển còn cho rằng, tiến bộ kĩ thuật là yếu tố cơ
bản để thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Một khía cạnh đáng chú ý về xu
hướng thay đổi trong kĩ thuật là đa số các sang chế đều có khuynh
hướng dùng vốn để tiết kiệm nhân công.
GV hướng dẫn: PGS.TS. Từ Quang Phương 17
Dựa vào các lý thuyết kinh tế về đầu tư giải thích vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
7. Mô hình Harrod – Domar
7.1 Sự ra đời của mô hình
Dựa vào tư tưởng của Keynes, vào những năm 40 với sự nghiên cứu một
cách độc lập, hai nhà kinh tế học là Roy Harrod ở Anh và Evsay Domar ở Mỹ
đã cùng đưa ra mô hình giải thích mối quan hệ giữa sự tăng trưởng và thất
nghiệp ở các nước phát triển. Mô hình này cũng được sử dụng rộng rãi ở các

GV hướng dẫn: PGS.TS. Từ Quang Phương 18
Dựa vào các lý thuyết kinh tế về đầu tư giải thích vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
- Nền kinh tế luôn cân bằng ở dưới sản lượng tiềm năng. Để có thể huy
động được các nguồn lực dư thừa cần phải đầu tư để mở rộng quy mô sản xuất.
- Công nghệ không đổi, sự kết hợp giữa vốn và lao động được thực hiện
theo một hệ số cố định.
Hệ số ICOR (k) là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của vốn đầu tư, nó được
xác định theo công thức:
k =
Y
K


Trong đó:
∆K là mức thay đổi vốn sản xuất
(∆K = K
t
– K
t-1
)
∆Y là mức thay đổi về kết quả sản xuất và ∆Y = Y
t
– Y
t-1
, ở đây t chỉ
năm nghiên cứu và t - 1 chỉ năm trước năm nghiên cứu.
Ý nghĩa của k là để tạo thêm được một đơn vị kết quả sản xuất thì cần
tăng thêm bao nhiêu đơn vị vốn sản xuất. Hay nói cách khác, k là “giá” phải trả
thêm cho việc tạo thêm một đơn vị kết quả sản xuất. Hệ số ICOR càng lớn
chứng tỏ chi phí cho kết quả tăng trưởng càng cao nó phụ thuộc vào mức độ


=


=
*
từ đây suy ra:
ICOR
Ys
Y
*
=∆
Phương trình phản ánh tốc độ tăng trưởng kỉnh tế:
Y
ICOR
Ys
Y
Y
g :
*
=

=
Cuối cùng ta có:
ICOR
s
g
=
- Theo Harrod-Domar, tiết kiệm là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế.
Muốn gia tăng sản lượng với tốc độ g thì cần duy trì tỉ lệ tích lũy để đầu tư trong

(1-α)
Như vậy, tăng quy mô vốn đầu tư là nguyên nhân trực tiếp làm tăng tổng
cung của nền kinh tế nếu các yếu tố khác không thay đổi. Mặt khác, tác động
của vốn đầu tư còn được thực hiện thông qua hoạt động đầu tư nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ…Do đó, đầu tư lại gián tiếp làm tăng
tổng cung của nền kinh tế.
1.1.2 Tác động đến tổng cầu:
Để tạo ra sản phẩm cho xã hội, trước hết cần đầu tư. Đầu tư là một yếu tố
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế.
Theo Keynes, tổng sản lượng (cũng là tổng thu nhập) của nền kinh tế
hình thành nhờ vào việc hiện thực hóa những quyết định chi tiêu chính là: chi
tiêu dùng của hộ gia đình, chi tiêu cho đầu tư, mở rộng kinh doanh của doanh
nghiệp, chi tiêu của chính phủ và chi tiêu ròng của các nền kinh tế bên ngoài đối
với các sản phẩm nội địa.
AD = C + I + G + X – M
Như vậy, gia tăng đầu tư (I) sẽ làm cho tổng cầu (AD) tăng trong điều
kiện các yếu tố khác không đổi.
GV hướng dẫn: PGS.TS. Từ Quang Phương 21
Dựa vào các lý thuyết kinh tế về đầu tư giải thích vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
Thông qua lý thuyết về số nhân đầu tư, Keynes đã giải thích mối quan hệ
giữa việc gia tăng đầu tư với gia tăng sản lượng hay việc gia tăng đầu tư có ảnh
hưởng như thế nào đến gia tăng sản lượng.
Lý thuyết số nhân đầu tư cho biết khi đầu tư tăng một đơn vị thì sản
lượng tăng k đơn vị (k >1). Thực tế, việc gia tăng đầu tư sẽ dẫn đến gia tăng các
yếu tố về tư liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu...) và quy
mô lao động. Do vậy làm tăng tiêu dùng, tăng giá bán sản phẩm, tăng việc làm
cho công nhân, từ đó làm tăng sản lượng hàng hóa tiêu dùng.
Thêm vào đó, lý thuyết gia tốc đầu tư phản ánh mức đầu tư thuần sẽ phụ
thuộc vào sự thay đổi quy mô sản lượng hay nói cách khác, đầu tư sẽ phụ thuộc
vào nhu cầu của sản lượng đầu ra.

Thông qua chỉ số ICOR, ta có thể dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc
dự báo quy mô vốn đầu tư cần thiết để đạt một tốc độ tăng trưởng kinh tế nhất
định trong tương lai.
Trong những trường hợp nhất định, hệ số ICOR được xem là một trong
những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư. ICOR giảm cho thấy để tạo ra một đơn
GV hướng dẫn: PGS.TS. Từ Quang Phương
Tốc độ tăng trưởng kinh tế
=
Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP
ICOR
23
Dựa vào các lý thuyết kinh tế về đầu tư giải thích vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
vị GDP tăng thêm, nền kinh tế phải bỏ ra một lượng vốn đầu tư ít hơn, nếu các
điều kiện khác ít thay đổi.
Tuy nhiên, hệ số ICOR mới chỉ phản ánh ảnh hưởng của yếu tố đầu tư
mà chưa tính đến ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất khác trong việc tạo ra GDP
tăng thêm. ICOR cũng bỏ qua sự tác động của các ngoại ứng như điều kiện tự
nhiên, xã hội, cơ chế chính sách…Mặt khác, hệ số ICOR không tính đến yếu tố
độ trễ thời gian của kết quả và chi phí, vấn đề tái đầu tư…
Đầu tư có ảnh hưởng quan trọng không chỉ đến tốc độ tăng trưởng cao
hay thấp mà còn đến chất lượng tăng trưởng kinh tế. Trên góc độ phân tích đa
nhân tố, vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế thường được phân tích
theo biểu thức sau:
g = Di + Dl + TFP
Trong đó:
g: tốc độ tăng trưởng GDP
Di: phần đóng góp của vốn đầu tư vào tăng trưởng GDP
Dl: phần đóng góp của lao động vào tăng trưởng GDP
TFP: phần đóng góp của tổng các yếu tố năng suất vào tăng trưởng GDP
Thông qua công thức này, chúng ta có thể đánh giá tác động của vốn đầu

)(
tGDP
tGDP
t
CN
CN
=
β
• Tỷ trọng của ngành dịch vụ là
)(
)(
)(
tGDP
tGDP
t
DV
DV
=
β
• Tỷ trọng của ngành phi nông nghiệp là
β
Phi NN
(t)= β
CN
(t) + β
DV
(t)
• Tỷ trọng của ngành sản xuất vật chất là
β
SXVC


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status