BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
======
NGUYỄN THỊ XUYẾN
KẾT NỐI VĂN HỌC VỚI ĐỜI SỐNG TRONG
DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN
LÃNG MẠN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
1930 – 1945 Ở THPT
Chuyên ngành: LL&PP Dạy học Văn - Tiếng Việt
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS PHẠM THỊ THU HƢƠNG
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Để luận văn “Kết nối văn học với đời sống trong dạy học đọc hiểu
truyện ngắn lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 ở THPT” đƣợc hoàn
thành, tôi đã nhận đƣợc rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của các cá nhân, tập
thể. Tôi xin chân thành bày tỏ tình cảm của mình với những sự giúp đỡ quý
báu đó!
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất tới PGS.TS Phạm Thị
Thu Hƣơng – ngƣời đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hƣớng dẫn tôi trong suốt
quá trình thực hiện luận văn này!
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học - Trƣờng Đại
học Sƣ phạm Hà Nội 2 đã quan tâm và tạo điều kiện cho tôi trong toàn khóa
học!
Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
Nxb
Nhà xuất bản
Nxb ĐHSP
Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm
SGK
Sách giáo khoa
SGV
Sách giáo viên
TNLM
Truyện ngắn lãng mạn
3.1. Mục đích nghiên cứu ................................................................................ 17
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................... 17
4. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU.................................................. 18
4.1. Đối tƣợng ................................................................................................. 18
4.2. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................. 18
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU............................................................... 18
5.1 Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp ............................................................. 18
5.2. Phƣơng pháp khảo sát, điều tra, thống kê ................................................ 18
5.3. Phƣơng pháp thực nghiệm ....................................................................... 18
6. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC ....................................................................... 19
7. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN ................................................................. 19
7.1. Về phƣơng diện lí luận ............................................................................. 19
7.2. Về phƣơng diện thực tiễn ......................................................................... 19
8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN ................................................................. 19
PHẦN NỘI DUNG ......................................................................................... 20
CHƢƠNG 1..................................................................................................... 20
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI ..................................................................... 20
1.1. Gắn với đời sống - một nguyên tắc cơ bản trong dạy học văn ở nhà
trƣờng phổ thông. ............................................................................................ 20
1.2. Truyện ngắn lãng mạn 1930-1945 ........................................................... 26
1.3. Ý nghĩa của vấn đề kết nối văn học với đời sống trong dạy học đọc hiểu
văn bản văn chƣơng ở trƣờng phổ thông ........................................................ 42
Tiểu kết chƣơng 1............................................................................................ 48
CHƢƠNG 2..................................................................................................... 49
CÁCH THỨC KẾT NỐI VĂN HỌC VỚI ĐỜI SỐNG TRONG .................. 49
DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN LÃNG MẠN VIỆT NAM .............................. 49
GIAI ĐOẠN 1930-1945 Ở THPT .................................................................. 49
1. Thực trạng dạy học truyện ngắn lãng mạn Việt Nam 1930-1945 từ góc nhìn
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. “Văn học và đời sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là
con ngƣời”
Từ bao đời nay, văn học và cuộc sống luôn có một mối quan hệ hữu cơ
gắn kết khó có thể tách rời bởi “hƣơng nhụy trong mát và ngọt lành của cuộc
sống chính là văn học”. Ví nhƣ con ong cần mẫn tìm mật ngọt cho đời, văn
học- bằng chức năng và tác dụng diệu kì của mình, đã tiếp xúc, thu nhặt
những chất liệu từ cuộc sống để khám phá, tái hiện và nâng cuộc sống lên một
tầm cao mới, để tìm đến những giá trị chân- thiện- mĩ của cuộc đời. Bởi “cuộc
đời chính là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học” (Tố Hữu).
Văn học nói một cách đơn giản là một hình thái xã hội, một loại hình
nghệ thuật dùng ngôn từ để thể hiện với chức năng phản ánh và tái tạo cuộc
sống trên quan điểm thẩm mĩ qua lăng kính mang tính chủ quan của tác giả.
Văn học phản ánh hiện thực trong tính sinh động, toàn vẹn của nó. Bởi vậy,
giống nhƣ những bộ bách khoa toàn thƣ về cuộc sống, văn học “mở ra chân
trời mới”, cung cấp cho ngƣời đọc những kiến thức phong phú, đa dạng về thế
giới xung quanh, về con ngƣời, về chính bản thân mình, … Những hiểu biết
ấy vƣợt qua giới hạn của thời gian, không gian giúp cho con ngƣời “lớn dần
thêm” về trí tuệ, hoàn thiện thêm về nhân cách.
Là một loại hình nghệ thuật, văn học không phản ánh, biểu hiện đời
sống trực tiếp mà gián tiếp thông qua hình tƣợng nghệ thuật. Nói theo cách
khác, hình tƣợng nghệ thuật là phƣơng tiện để nhà văn nhận thức, phản ánh,
khái quát các hiện tƣợng đời sống. Qua hình tƣợng nghệ thuật, ngƣời đọc hình
dung, tƣởng tƣợng ra thế giới hiện thực, cảm nhận đƣợc quan điểm, thái độ
của nhà văn bộc lộ trong tác phẩm. Điều cốt lõi của văn chƣơng chính là lòng
2
1.2. Kết nối văn học với đời sống là một quan điểm dạy học đúng đắn,
một nguyên tắc trong dạy học đọc hiểu tác phẩm văn chƣơng
Ngữ văn là một môn học tích hợp, không chỉ là sự hợp lực của ba phân
môn mà còn vận dụng kiến thức của các môn học khác, kiến thức trong đời
sống xã hội, các tri thức kỹ năng, phƣơng pháp giảng dạy, từ kinh nghiệm của
thực tiễn. Do đó, kết nối văn học với đời sống là nội dung không thể thiếu
trong việc giảng dạy Ngữ văn trong nhà trƣờng hiện nay bởi nguyên tắc này
đã đƣợc đặt nền móng trong các bộ giáo trình đầu tiên và ngày càng dƣợc chú
ý trong bối cảnh phát triển năng lực ngƣời học.
Đây là quan điểm dạy học phù hợp với đặc trƣng bộ môn, làm cho văn
học gắn liền với đời sống thực tiễn xã hôi, đời sống tinh thần của học sinh.
Việc tạo ra những kết nối giữa tác phẩm văn học và đời sống giúp
học sinh có thể cắt nghĩa, hiểu sâu sắc hơn nội dung tƣ tƣởng, giá trị, ý
nghĩa tác phẩm.
Kết nối văn học với đời sống góp phần ứng dụng mục tiêu giáo dục,
dạy học hiện nay giúp HS tích hợp các kiến thức và kĩ năng đã lĩnh hội xác
lập mối liên hệ giữa các tri thức và kĩ năng thuộc các phân môn đã học bằng
cách tổ chức thiết kế các nội dung tình huống tích hợp để HS vận dụng phối
hợp các tri thức và kĩ năng riêng rẽ của các phân môn vào giải quyết vấn đề
đặt ra qua đó lĩnh hội các kiến thức và phát triển năng lực kĩ năng tích hợp.
Tổ chức thiết kế các hoạt động phức hợp để HS học cách sử dụng phối
hợp những kiến thức và kĩ năng đã thụ đắc trong “nội bộ các phân môn”. Đặt
HS vào trung tâm của quá trình dạy học để HS trực tiếp tham gia vào giải
quyết các vấn đề tình huống tích hợp; biến quá trình truyền thụ tri thức thành
quá trình HS tự ý thức về cách thức chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng;
phát huy tính tích cực chủ động và sáng tạo của HS; chú trọng mối quan hệ
giữa HS với SGK phải buộc HS chủ động tự đọc tự làm việc độc lập
5
Sêkhốp). Mỗi tác phẩm văn học không chỉ đơn thuần là một tác phẩm nghệ
thuật trƣng diện, phô bày những hình tƣợng nghệ thuật độc đáo của ngƣời
nghệ sĩ. Nếu cái độc đáo đó nó không ngụ một tinh thần nhân văn sâu sắc,
không chứa đựng những niềm vui, nỗi buồn của con ngƣời, không cho chúng
ta cảm nhận đƣợc tình cảm, tƣ tƣởng của tác giả thì đó chỉ là cái độc đáo, khô
khan, hời hợt, giả tạo. Một trong những chức năng quan trọng của văn học là
giáo dục, là cứu vớt con ngƣời. Nếu không xuất phát từ những tình cảm chân
thực, liệu rằng tác phẩm văn học có đủ sức lay động tâm hồn con ngƣời để
thực hiện chức năng hƣớng thiện cao cả đó? Hơn nữa mỗi tác phẩm văn học
lại là quá trình sáng tạo mà khâu đầu tiên phải là sự rung động cực điểm của
tâm hồn ngƣời nghệ sĩ.
Ngƣời nghệ sĩ chân chính sẽ luôn sáng tạo đƣợc những tác phẩm có giá
trị. Và tất nhiên, giá trị của tác phẩm ấy đƣợc thể hiện trong tƣ tƣởng của nhà
văn. Nói đến giá trị nhân văn của tác phẩm văn học là nói đến tình cảm hƣớng
tới con ngƣời, bảo vệ quyền làm ngƣời của con ngƣời. Tác phẩm văn học
chứa đựng tinh thần ấy phải cất lên niềm cảm thông sâu sắc với những số
phận bị vùi dập, khốn khổ và nói lên ƣớc mơ, hoài bão, khát vọng sống của
con ngƣời. Truyện ngắn lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 mang trong
mình những “sứ mệnh” cao cả, các tác giả trong giai đoạn này đều gửi gắm
những thông điệp, những giá trị nhân văn qua những trang văn thấm đẫm chất
thơ nhƣ Thạch Lam, nhƣ Nguyễn Tuân.
Thứ nhất, trong truyện ngắn lãng mạn 1930-1945 ở THPT các nhà
văn thƣờng tìm kiếm những giá trị cao đẹp, những thông điệp văn hóa, nhân
văn trong những cảnh đời tầm thƣờng, tăm tối; khám phá cái cao cả trong
những số phận bị ruồng bỏ, chà đạp. Nếu nhƣ Thạch Lam xúc động và trân
trọng những khát vọng đƣợc đổi đời, đƣợc sống hạnh phúc hơn của những
con ngƣời bé nhỏ bị lãng quên ở phố huyện nghèo xƣa thì Nguyễn Tuân lại
đẹp gắn với cái thiện.
7
Với tất cả những thông điệp nhân văn cao cả ấy, truyện ngắn lãng mạn
1930-1945 đã khẳng định đƣợc chỗ đứng trong nền văn học Việt Nam, khẳng
định đƣợc những giá trị cốt lõi của văn học đồng thời mang những giá trị
nhân bản lớn.
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Kết nối văn học với đời
sống trong dạy học đọc hiểu truyện ngắn lãng mạn giai đoạn 1930-1945 ở
THPT” với mong muốn đóng góp một tiếng nói vào quá trình đổi mới dạy
học văn hiện nay ở trƣờng phổ thông.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
2.1 Những nghiên cứu về vấn đề mối quan hệ giữa văn học với đời sống,
dạy học văn gắn với đời sống
2.1.1. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn học với đời sống
Văn học và đời sống vốn có mối quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau.
Bởi vậy khi nghiên cứu, tìm hiểu, tiếp nhận nó ta không thể không kết nối nó
với đời sống. Trong lịch sử nghiên cứu văn học, đã có rất nhiều cuốn sách,
nhiều công trình của các học giả, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đề
cập mối quan hệ giữa văn học và nguyên tắc dạy học văn gắn với đời sống.
Về mối quan hệ giữa dạy học văn gắn với đời sống, trƣớc hết chúng ta
phải kể đến cuốn Nghệ thuật với đời sống xã hội (1963) của tác giả
Plêkhanốp. Trong cuốn sách, tác giả đã phân tích những ảnh hƣởng, tác động
của đời sống đối với nghệ thuật, đã chỉ ra sự phụ thuộc khăng khít giữa tính
chất của sự cảm thụ thẩm mĩ của con ngƣời với tính chất của điều kiện sinh
hoạt, điều kiện sống của một xã hội nhất định. Ông khẳng định “Bản tính con
ngƣời khiến họ có thể có những cảm giác và quan niệm thẩm mĩ. Những điều
kiện sinh hoạt của họ cải biến những tiềm thế ấy mà một con ngƣời xã hội
phản ánh đời sống con ngƣời mà còn phải nhận thức con ngƣời và đời sống
con ngƣời, nói lên những ƣớc mơ, khát vọng, những tâm tƣ, tình cảm của con
ngƣời trong chiều sâu tâm hồn với sự đa dạng, phong phú. Chỉ đến lúc nào đó
9
văn học mới là văn học đích thực khi văn học thể hiện đƣợc sự khám phá và
sáng tạo, có những kiến giải hay và đẹp về con ngƣời và đời sống con ngƣời”.
[6,86]
Ở cuốn Văn học và cuộc sống (1996), trong lời mở đầu tác giả Mai
Thanh đã khẳng định “ý tƣởng nổi bật và sâu đậm nhất là: cuộc sống và mối
quan hệ giữa văn học với cuộc sống. Cuộc sống ở đây đƣợc hiểu theo nghĩa
rộng nhất của khái niệm này” [43,7]. Theo tác giả cuộc sống ấy là :“Lịch sử
anh hùng nghìn năm dựng nước và giữ nước của chúng ta gắn với những tấm
gương anh hùng dân tộc thông qua những hành động lập đức, lập công của
họ của toàn dân tộc, là việc trồng lúa truyền đời của nông dân Việt Nam”
[61,8]. Cũng theo tác giả, cuộc sống là thứ có trƣớc, văn học là cái có sau, văn
chƣơng phải từ cuộc sống, thấu hiểu cuộc sống chứ không đƣợc phép xuyên
tạc cuộc sống.
Hay trong Văn học đời sống- Đời sống với văn học tác giả Ngô Thảo có
viết “Mối quan hệ giữa văn học và đời sống là một vấn đề cơ bản mà thời nào
cũng đặt ra… trong mối quan hệ giữa văn học với đời sống thì đời sống đóng
một vai trò vô cùng quan trọng. Nó vừa là chỗ bắt đầu vừa là chỗ đi tới của
văn học. Hiện thực đời sống, con người xã hội là đối tượng phản ánh của văn
học. Phục vụ đời sống, góp phần cải tạo đời sống là mục đích cuối cùng của
văn học” [44,89]. Tác giả đã phân tích mối quan hệ tác động qua lại giữa văn
học với đời sống thực tại của đất nƣớc sau năm 1975.
Văn học gắn bó mật thiết với đời sống. Vì thế, dạy học đọc hiểu các tác
phẩm văn học, ngƣời dạy và ngƣời học không ngừng tạo ra những kết nối, sự
thời giáo dục kĩ năng, bản lĩnh, thái độ cho học sinh, xử lí những tình huống
đời sống đặt ra trƣớc mắt.
Năm 2000, trong cuốn “Phương pháp học văn ở bậc trung học” tác giả
Trịnh Xuân Vũ đã có những đóng góp về phƣơng pháp dạy học văn “phƣơng
pháp dạy học mới là phương pháp dạy học phát triển và có định hướng khoa
11
học. Đối tượng tác phẩm phát triển, chủ thể- trò phát triển và kiến thức phát
triển. Đó là sự phát triển theo dòng lịch sử tiến hóa của xã hội loài người.
Trên lớp học hiện đại, với vai trò là chủ thể-mỗi cá thể trò tự cảm nhận tác
phẩm, suy nghĩ, tìm tòi phát hiện ở tác phẩm những vấn đề cần thiết cho đời
sống hiện tại (…). Đó là quá trình để cho khái niệm mới hình thành, tư duy
mới được xác lập, cảm quan được xác tín và do đó dẫn đến việc điều chỉnh lại
nhận thức và hành vi từng cá thể- trò trong đời sống, môi trường, học đường
và khả năng ứng xử có bản lĩnh trong đời sống xã hội”[9,123]. Tác giả xác
định rõ học sinh là vị trí trung tâm của dạy- học văn, học sinh chính là chủ
thể- trò. Bên cạnh đó, tính tự chủ của học sinh trong học tập cũng đƣợc nhấn
mạnh và ngƣời giáo viên phải có ứng xử phù hợp khi bƣớc từ môn Ngữ văn ra
đời sống xã hội.
Năm 2004, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Khánh đã đƣa ra mối quan hệ giữa
văn học và đời sống trong giảng dạy Ngữ văn thông qua quan niệm Dạy văn
hay là dạy cho sắc những giờ lên lớp: “Giờ dạy văn sắc nét là một giờ giảng
sinh động, gắn với cuộc sống hiện hành, ngay cả lúc thầy và trò đang cùng
dạy dỗ, học tập. Thầy trò cùng ở trong lớp, đang cùng làm một công việc do
xã hội giao phó, chứ không phải ngồi trong tháp ngà. Chính đây là nơi các
học sinh gắn liền với đời sống xã hội, với lao động sản xuất, khác với lối học
của các nhà nho, các nhà tƣ sản ngày xƣa (…) Liên hệ thực tế là đặt để bài
học vào hoàn cảnh lúc bấy giờ và để giáo dục tƣ tƣởng một cách nhanh
học tích cực để văn học, nhà trƣờng và cuộc sống không còn những khoảng
cách, cụ thể hơn là ngƣời giáo viên cần làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng
của đời sống và văn học. Tuy nhiên, vấn đề kết nối văn học với đời sống nhƣ
thế nào, biện pháp ra làm sao, cách thức nào để tạo ra những kết nối ấy vẫn
chƣa đƣợc nghiên cứu đầy đủ.
13
2.2. Những nghiên cứu về truyện ngắn lãng mạn Việt Nam và dạy học
truyện ngắn lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 ở THPT
Về truyện ngắn lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, ý kiến của
các nhà nghiên cứu phê bình rất phong phú, ở cả bề rộng lẫn chiều sâu.
Những vấn đề cơ bản từ quan điểm nghệ thuật đến phong cách, từ kết cấu, cốt
truyện đến nhân vật, ngôn ngữ, … đều đƣợc tìm hiểu, khám phá một cách
tƣơng đối thấu đáo.
Thạch Lam là tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 1945. Tên tuổi ông đã gắn bó lâu dài với chƣơng trình SGK phổ thông.
Sau nhiều lần thay đổi chƣơng trình và SGK, Thạch Lam vẫn đứng vững ở vị
trí của mình, đƣợc độc giả nâng niu trân trọng. Vì vậy, ông đƣợc sự quan
tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học.
Trƣớc khi các công trình nghiên cứu khoa học về Thạch Lam ra đời,
tác giả này đã nhận đƣợc nhiều lời khen ngợi của dƣ luận, trong đó có Khái
Hƣng đã ca ngợi tập truyện Gió đầu mùa; Thế Lữ đã từng ca ngợi Thạch Lam
qua bài Tính cách tạo tác của Thạch Lam; Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện
đại đánh giá truyện của Thạch Lam là loại truyện tâm tình và xếp ông vào
những nhà tiểu thuyết tình cảm: "Có một ngòi bút lặng lẽ và điềm tĩnh vô
cùng, ngòi bút chuyên tả những cái rất đẹp, những tình cảm, cảm giác con con
nảy nở và biểu lộ ở đủ hạng ngƣời mà ông tả một cách tinh vi" [32,106].
Nhiều tác giả cũng đề cập đến thủ pháp phản ánh nghệ thuật trong
truyện ngắn Thạch Lam nhƣ cốt truyện, cấu tứ, ngôn ngữ trần thuật... Tác giả
Thạch Lam “có một ngòi bút lặng lẽ, điềm tĩnh vô cùng, ngòi bút chuyên tả tỉ
mỉ những cái rất nhỏ và rất đẹp, cảm tình, cảm giác con con … Buồn mà đẹp,
tỉ mỉ và sâu sắc, đó là hai đặc tính của những truyện ngắn xuất sắc nhất của
Thạch Lam” [60, tr.134].
Một số nhà nghiên cứu có tên tuổi nhƣ Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ,
Phong Lê, Trần Đình Sử, Nguyễn Huệ Chi, … đều có những công trình
15
nghiên cứu công phu và sâu sắc về truyện ngắn giai đoạn này. Các tác giả
tƣơng đối nhất quán trong việc đánh giá những thành tựu của các nhà văn,
những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm. Trong rất nhiều ý
kiến về Thạch Lam, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến ý kiến của Phan Cự Đệ
về câu văn Thạch Lam: “Câu văn Thạch Lam cứ như câu văn của ngày hôm
nay. Văn Thạch Lam không nặng về dùng chữ to tát hoặc những cấu trúc gấp
gáp vội vàng, câu chữ chỉ cần đủ cho phô diễn. Có lúc sự diễn tả vượt ra
ngoài câu chữ vì sức gợi mở và khơi sâu vào cảm giác, vừa cho ta nhìn, vừa
cho ta cảm” [41, tr.20].
Tác phẩm Hai đứa trẻ cũng đƣợc nhiều nhà nghiên cứu, phê bình,
nhiều thầy cô tìm tòi, khám phá để tìm ra phƣơng hƣớng dạy học phù hợp
nhất. Trong số các bài viết phong phú phải kể đến: Ấn tượng Hai đứa trẻ của
Lê Huy Bắc; Nguyễn Thanh Hồng với truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch
Lam; Văn Tâm với Giảng bình truyện Hai đứa trẻ;... Qua các công trình
nghiên cứu có thể thấy điểm gặp gỡ ở các tác giả là sự thừa nhận thế mạnh về
cảm xúc, nội tâm trong phạm vi phản ánh hiện thực và những nét bản sắc
riêng ở truyện ngắn Thạch Lam. Vì vậy ông đƣợc mệnh danh là nhà văn của
cảm giác và luôn thành thực với chính mình.
Hay nhƣ trong nghiên cứu của mình, tác giả Chu Văn Sơn đã có một
phát hiện độc đáo về mối quan hệ kịch tính giữa hai nhân vật Huấn Cao và
học Việt Nam Văn học hiện đại do Trần Đình Sử (tuyển chọn) [66]; Tác
phẩm văn chƣơng trong trƣờng phổ thông – Những con đƣờng khám phá của
Vũ Dƣơng Quỹ – Lê Bảo [63]; Thiết kế bài học Ngữ văn 11 (tập 1) do Phan
Trọng Luận (chủ biên) [51]; Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11 (tập 1) do Nguyễn
Văn Đƣờng (chủ biên) [20]; … Tất cả đều nhằm giúp cho bạn đọc, đặc biệt là
GV và HS có thêm cái nhìn mới về TPVH trên con đƣờng đến với nghệ thuật.
Các luận văn thạc sĩ về dạy học truyện ngắn lãng mạn Việt Nam giai
đoạn 1930-1945 trong chƣơng trình Ngữ văn ở THPT cũng là đối tƣợng
nghiên cứu của nhiều luận văn thạc sĩ: Ngô Thị Lùng Em (2009) Hệ thống
17
câu hỏi cảm thụ trong dạy học truyện ngắn của Thạch Lam ở lớp 11, Luận
văn thạc sĩ, Đại học sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Lê Ngọc Anh ( 2014)
Dạy học phần văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945 ở trường THPT ,luận
văn thạc sĩ, Đại học Vinh…
Tóm lại, những công trình, nghiên cứu, những bài viết có liên quan đến
việc dạy học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 khá phong phú và
đã đạt đƣợc những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, những công trình đó chủ
yếu nghiên cứu truyện ngắn giai đoạn 1930 – 1945 với tƣ cách là những trào
lƣu, phong cách, những sáng tạo độc đáo, có giá trị đặc sắc, cũng nhƣ vận
dụng những phƣơng pháp, biện pháp vào quá trình dạy học truyện ngắn lớp
11 để phát huy năng lực cảm thụ, năng lực “xử lí vấn đề”, năng lực đọc – hiểu
trong giờ dạy tác phẩm văn chƣơng.
Tuy nhiên, dạy học truyện ngắn lãng mạn Việt Nam giai đoạn 19301945 theo hƣớng kết nối văn học với đời sống là một vấn đề khá mới mẻ. Vì
vậy, trong luận văn này, chúng tôi mạnh dạn đề xuất, triển khai theo hƣớng
kết nối các tác phẩm giai đoạn này với đời sống với hi vọng rằng sẽ góp phần
phát triển năng lực học sinh, nâng cao chất lƣợng dạy và học.
3. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
nghệ thuật… để thấy đƣợc việc kết nối giữa văn học với đời sống. Qua so sánh,
đối chiếu, khẳng định.. ngƣời viết sẽ tổng hợp và đƣa ra nhận xét, đánh giá.
5.2. Phƣơng pháp khảo sát, điều tra, thống kê
Điều tra, khảo sát thực trạng của hoạt động kết nối văn học với đời
sống trong chƣơng trình, đánh giá kiểm tra và thi cử và quá trình dạy học đọc
hiểu truyện ngắn lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945ở THPT sau đó
thống kê các kết quả thực nghiệm sƣ phạm.
5.3. Phƣơng pháp thực nghiệm
Vận dụng những nghiên cứu lí luận vào xây dựng và thực nghiệm giáo
án: Chữ ngƣời tử tù- Nguyễn Tuân. So sánh hiệu quả giờ học theo hƣớng thiết
kế mới với cách dạy hiện hành.