BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Bùi Thị Thanh Nhung CẢM HỨNG TRIẾT LUẬN VỀ CON NGƯỜI
TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1986- 2000
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số : 60 22 32
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Bùi Thị Thanh Nhung
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Từ sau thời điểm năm 1986, khi Đại hội Đảng lần thứ VI, đất nước ta chính thức bước
vào thời kì đổi mới. Trên tất cả các lĩnh vực hoạt động và đời sống xã hội đều có những
chuyển biến lớn. Trong sáng tác văn học, văn xuôi thời đổi mới giai đoạn 1986-2000 nói
chung, truyện ngắn nói riêng, nổi lên vấ
n đề quan niệm nghệ thuật về con người với cảm
hứng triết luận đã thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà phê bình, lý luận văn học.
Thực ra, từ bao đời nay con người với đời sống muôn màu muôn vẻ của nó là đối
tượng trung tâm của văn học, tính cách, tâm hồn, tất cả những gì thuộc về con người làm nên
ý nghĩa cuộc sống của con người là đối tượng mà nhà văn tìm đến tr
ước hết. Khám phá bản
chất người là một trong những thành tựu của văn học nhân loại. Có thể nói, sự sáng tạo của
nhà văn, tầm khái quát sâu rộng của tác phẩm nghệ thuật làm phong phú đời sống tinh thần
của dân tộc và nhân loại xuất phát từ việc giải quyết vấn đề con người. Nhưng cùng với sự
thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học, đặ
c biệt trong truyện ngắn giai
đoạn 1986-2000 thì cảm hứng triết luận về con người ngày càng trở nên đậm đặc. Trên các
tờ báo, tạp chí chuyên ngành có nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến hiện tượng văn học này.
Đây là một bước phát triển mới, một sự khởi sắc toàn diện của văn xuôi. Tuy nhiên các bài
viết mới chỉ giới thiệu hay phê bình một tác giả, một tác phẩm, một khía cạnh cụ th
ể của vấn
đề. Việc làm sáng tỏ sự chuyển biến trong cảm hứng sáng tác, tìm về cảm hứng triết luận về
con người mang tính chỉnh thể có ý nghĩa cả về lí luận cũng như về thực tiễn.
Đến với đề tài này, sở dĩ chúng tôi chọn mốc thời gian 1986-2000 là vì, không chỉ nó
có liên quan đến những tác phẩm đoạt giải của Hội nhà văn, được công bố r
ộng rãi, được
công chúng đón nhận, mà giai đoạn 1986-2000 là giai đoạn có ý nghĩa quan trọng, giai đoạn
Và trong mối quan hệ cũng hết sức phong phú, phức tạp của nó với toàn xã hội, con người
trở thành mối quan tâm hàng đầu của sáng tác. Với Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của
cuộc sống con người, Đảng chủ tr
ương phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ con
người làm mục đích cao nhất của mọi hoạt động. Văn học, đặc biệt là văn học đã bước vào
giai đoạn thực sự trưởng thành, không chỉ bày tỏ tình yêu, sự phẫn nộ hay lòng thương xót
con người mà còn là một lĩnh vực quan sát và khám phá con người. Tính tự do, dân chủ và
mục đích chân chính đó đã tạo thành dòng chả
y ồ ạt vào đại dương nhân bản, nghiêng hẳn về
phía con người.
Trần Đình Sử khẳng định: Chỉ từ sau năm 1986,với công cuộc đổi mới toàn diện của
đất nước, con người trong văn học mới thực sự trải qua một bước ngoặt mới. Chất sử thi
nhạt dần và quan niệm thế sự, đời tư, triết lí, văn hóa về con người n
ổi lên, trở thành nét chủ
đạo, làm thay đổi cả diiện mạo văn học” [ A.I.40, tr. 282].
Nguyễn Văn Hạnh có khẳng định trách nhiệm của người cầm bút: Ý thức rõ hơn chức
năng và sức mạnh riêng của văn học, trách nhiệm của người cầm bút, đặc biệt trong bước
ngoặt lớn của đất nước, các nhà văn càng thấy phải hiểu sâu hơn con người, con người với
số phận chẳng ai giống ai, với những biểu hiện sống, những nhu cầu tinh thần và vật chất đa
dạng và luôn thay đổi. [A. II. 30. tr. 219- 220]
Nhận định của Huỳnh Như Phương vừa nhấn lại đặc điểm của văn học hôm nay vừa
tiếp tục khơi thông hướng đi nhân bản của nó: ý hướng đi vào nội tâm để khám phá chiều
sâu tâm linh nhằm nhận di
ện hình ảnh con người đích thực là ý hướng có triển vọng của một
nền văn học dân chủ [A.II.67, tr.16].
Trong “Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn
1986-2000”, Nguyễn Văn Kha khẳng định: Giữa cuộc sống rộng lớn, giữa các sự kiện, biến
động lịch sử đầy rối rắm và phức tạp, chính đời sống con người, t
ư tưởng, tình cảm và thân
phận của nó là đối tượng trung tâm của văn học [A.I.21, tr.11].
hơn đến con người, văn học sau 1975 bổ sung những mảng hiện thực nghiệt ngã, khu
ất tối
qua các số phận nhỏ bé của nhiều loại người trong xã hội. Ở những số phận đó có cả cái hài
lẫn cái bi, cái đẹp đẽ lẫn cái tầm thường. Đấy là bằng chứng về một tư duy hiện thực mới,
một quan niệm nghệ thuật mới về con người, một quan hệ “tiếp xúc thân mật suồng sã” của
nhà văn với đối tượng phả
n ánh [A.II.31, tr. 79].
Đánh giá về sáng tác Ma Văn Kháng, Nguyễn Thị Huệ có một ánh nhìn đầy chất nhân
văn về con người trong cuộc đời thường: Từ trong bản chất vốn có, con người là phong phú
và phức tạp (…) nên không thể dùng cái nhìn phân đôi con người một cách đơn giản, cứng
nhắc; phân biệt một cách rạch ròi: tốt- xấu, tích cực, tiêu cực mà cần phải đi sâu nghiên
cứu, mổ xẻ phân tích những nỗi ni
ềm thực, những uẩn khúc và bi kịch riêng của đời họ,
không thể dè bỉu, giễu cợt trước những vấp ngã, lầm lạc của con người mà cần phải có cái
nhìn bao dung, độ lượng, thể tất trước những lầm lạc đó. [A.II.34, tr. 53].
Trần Cương nêu một cái nhìn khái quát, so sánh sự khác biệt rõ nét của hai giai đoạn
văn học: Nếu các nhà văn trước 86 đứng ở phương diệ
n xã hội và phong trào để nhìn con
người thì các nhà văn sau 86 đã đứng ở góc độ con người để nhìn con người, xã hội và các
vấn đề chung. Do đó, dường như lần đầu tiên xuất hiện hai chủ đề thuộc về con người mà
trước kia chưa có. Đó là chủ đề về số phận con người và hạnh phúc cá nhân.[A.II.11,
tr.34,35]
Có thể nói thể tài thế sự, đời tư đang dần chiếm vị trí chủ
đạo trong văn xuôi, đáp ứng
được nhu cầu phân tích, lý giải, suy tư về con người, xã hội và mọi trạng huống của nhân
tình thế thái. Văn xuôi đương đại có sự chuyển đổi mạnh mẽ từ miêu tả hiện thực sang biểu
hiện hiện thực. Từ tái hiện hiện thực theo chiều rộng, chiều dài hướng tới sự tái hiện cuộc
sống theo chiều sâu, sự khái quát, triế
t luận về xã hội, nhân sinh, phát hiện ra bản chất của
cuộc sống xã hội và con người.[A.II.37, tr.28].
yêu ghét phân minh, chống lại ách áp bức bóc lột, chống lại sự nô dịch con người. Vì thế,
chủ nghĩa nhân văn trong văn học không chỉ là tình yêu thương con người mà còn nâng cao
con người lên, hướng con người đến cái chân, cái thiện, cái mỹ. [A.1.21, tr.14].
Tô Huy Rứa góp thêm một lời nhắc nhở: Phải ý thức sâu sắc rằng, văn học, nghệ
thuật của chúng ta không chỉ là nhu cầu thiết yếu của con người mà chính là một trong
những
động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát
triển toàn diện của con người Việt Nam.[A. II.73, tr.29]
Trên tinh thần đó, Nguyễn Ngọc Thiện khẳng định: Và vì văn hóa, văn nghệ là nền
tảng tinh thần của xã hội, thể hiện chiến lược về con người, nhằm mục tiêu xây dựng con
người, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con ng
ười nên tính nhân văn của nó trong sự hướng
tới Chân, Thiện, Mỹ được đề cao.[A. II.78, tr. 21]
Trong Các nhà văn trả lời phỏng vấn về chiến tranh, về đề tài chiến tranh trong văn
học, Xuân Thiều bộc bạch: Trong các truyện ngắn của mình, tôi thường mong muốn được
phát hiện những điều chưa biết của con người Việt Nam ta trong chiến tranh. Những điều
thuộc về thế giới bên trong, thuộc về phẩm chất, về cách nhìn, cách đánh giá con người thế
nào là hợ
p lẽ con người nhất. Để con người tốt hơn, yêu nhau hơn và điều quan trọng là giữ
gìn cho được cuộc sống đáng sống này, chống mọi sự đe dọa của chiến tranh.[A.II.35,
tr.133, 134]
Và nhận xét của Mai Hương: Sau những cảm hứng chà xát dữ dội với những mặt tiêu
cực của cuộc sống, nhiều tác phẩm văn xuôi đã tìm khơi lại cảm hứ
ng về những vẻ đẹp bình
dị… những chuyển động thầm kín và ấm áp trong ngõ ngách của tâm hồn con người.
[A.II.37, tr.28]
Lã Nguyên lạc quan: Giữa hai bờ chân, thiện, hướng tới cái đẹp, văn học đang dào
dạt đổ về đại dương nhân bản mênh mông.[A.II.56]
Bên cạnh đó, văn học khẳng định vị trí tối thượng của con người trong mọi cái thuộc
về giá trị có trong cuộc số
trên xã hội. Dưới sự tác động của hoàn cảnh xã hội; trên quan điểm lịch sử cụ thể, luận văn
xem xét sự vận động và chuyển biến của văn học theo xu h
ướng tất yếu của nó, để từ đó cố
gắng tiếp cận một cách đầy đủ nhất những quan điểm của tác giả về đời sống, xã hội, đặc
biệt là về con người thể hiện trong tác phẩm.
Phương pháp hệ thống được chú ý vận dụng trong việc khảo sát tác phẩm, hệ thống
những yếu tố làm nổi bật vấn
đề của luận văn theo từng luận điểm, giúp có được cái nhìn
xuyên suốt.
Phương pháp phân tích- tổng hợp được chúng tôi sử dụng rộng rãi trong luận văn.
Đi từ việc khảo sát tác phẩm, phân tích những yếu tố nổi bật trong việc thể hiện cảm hứng
nghệ thuật (như khám phá tâm lí nhân vật, lí giải hành động của nhân vật,…) rút ra những
nhận xét có tính chất tổng hợp, khái quát, làm nổi rõ c
ảm hứng.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
5.1. Ý nghĩa khoa học
Như đã nói, cảm hứng triết luận về con người trong truyện ngắn thời đổi mới 1986-
2000 là một trong những cảm hứng chủ đạo của văn học thời kì đổi mới nhưng chưa được đi
sâu nghiên cứu một cách tập trung. Luận văn sẽ đ
i vào khảo sát vấn đề này một cách hệ
thống, cụ thể, góp phần làm sáng tỏ hơn trong việc nghiên cứu vấn đề này.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Nhận thức lại con người trong văn học thời kì đổi mới, như là một cách nhìn cuộc
sống trong những mối quan hệ bộn bề, phức tạp. Góp thêm tiếng nói, hướng về phía chiều
sâu trong tâm hồn con người, để mà nhận diện con ng
ười của hôm nay.
- Trong công tác giảng dạy ở nhà trường, luận văn hi vọng sẽ gợi ý được những hướng
tiếp cận mới trong việc phân tích và giảng dạy tác phẩm văn học ở bậc phổ thông, bổ sung
một góc nhìn mới về con người.
6. Kết cấu của luận văn
2.3.2. Hạnh phúc và những khắc kho
ải kiếm tìm
2.3.3. Sự hữu hạn của mỗi người trước thời gian đời người
Chương 3: Giọng điệu nghệ thuật của cảm hứng triết luận về con người trong
truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1986-2000.
3.1. Giọng trăn trở, day dứt.
3.2. Giọng thương xót, ngậm ngùi.
3.3. Giọng suy tư, triết lí .
Kết luận
Thư mục tham khảo
Chương 1:
tộc khách quan của các tính cách ấy là cảm hứng tư tưởng sáng tạo của nhà văn và của tác
phẩm của nhà văn [A.38, tr141]. Như vậy, một sự lí giải, đánh giá h
ời hợt, khiên cưỡng hoặc
không chân thật đối tượng được miêu tả đều không thể gọi là cảm hứng nghệ thuật. Một sự
nhìn nhận, đánh giá, lí giải sai sự thật hay phản sự thật thì càng không thể là cảm hứng nghệ
thuật. Chỉ khi nhà văn phải thật sự xúc động, thật sự ấn tượng cái đối tượng được miêu tả
kia, tạo thành một dòng chảy cả
m xúc đầy ứ, không thể giữ lại, thôi thúc nhà văn phải nói ra,
viết ra, vì đó còn là nhu cầu chia sẻ và được chia sẻ. Đến khi đó, cái được gọi là cảm hứng
mới thật sự chân thành, thật sự xúc động, và thật sự neo lại ở người đọc một giá trị đầy ý
nghĩa như mong đợi. Những trang sách viết về anh Trỗi (Sống như Anh- Trần Đình Vân),
chị Sứ (Hòn đất- Anh Đức), anh hùng Núp (Đất nước đứng lên- Nguyên Ngọc),…có s
ức
cuốn hút vì nó được viết lên từ cảm hứng chứa đầy cảm xúc chân thành, nồng nhiệt của nhà
văn. Những vần thơ dạt dào cảm xúc sẽ cháy mãi trong lòng người đọc dù qua bao tháng,
bao năm. Cũng như những ai đọc Người đi tìm hình của nước của Chế Lan Viên đều lắng
lại một nỗi niềm dân tộc:
Đất nước đẹp vô cùng nhưng Bác phải ra đi
Cho tôi làm sóng dưới con tàu
đưa tiễn Bác
Khi bờ bãi dần lui, làng xóm khuất
Bốn phía bờ bên không bóng một hàng tre
Đêm xa nước đầu tiên ai nỡ ngủ
Sóng vỗ dưới con tàu đâu phải sóng quê hương
Trời từ nay chẳng xanh thành xứ sở
Xa nước rồi càng hiểu nước đau thương
Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương trong Lí luận văn học, vấn đề và suy nghĩ,
nêu khái niệm cảm hứng: “Cảm hứng là s
ự thiết tha và nhiệt tình nồng cháy gợi nên bởi một
tư tưởng nào đó”. Lẽ tất nhiên, tư tưởng đó phải là tư tưởng lành mạnh, tiến bộ, cao đẹp. Và
m hứng
gắn liền với những với lí tưởng cao đẹp của nhà văn về con người, cuộc sống. Nó khơi thông
miền cảm xúc qua mỗi trái tim người đọc, đọng lại một tình cảm sâu xa, khơi thông nguồn trí
tuệ, giúp nhận thức đối tượng trên nhiều phương diện, tiếp thêm sức mạnh tinh thần và đưa
đến hành động đúng đắn, đầy nhiệt huyết. Cảm hứng chủ
đạo là cảm hứng bao trùm, xuyên
suốt một tác phẩm hay toàn bộ sáng tác của một tác giả.
1.1.2. Các dạng cảm hứng và cảm hứng chủ đạo
Trong đời sống cũng như trong nghệ thuật, mọi cảm hứng bắt rễ từ tình cảm, cảm xúc
của con người. Mà cái tình trong con người thì đa dạng, phong phú, phức tạp và sâu sắc biết
chừng nào. Cảm hứng, vì vậy, cũng phong phú, đa dạng và phứ
c tạp. Và trong những trạng
thái, hoàn cảnh khác nhau của đối tượng làm nảy sinh những cảm hứng khác nhau. Có thể kể
như cảm hứng lãng mạn, cảm hứng bi kịch, cảm hứng phê phán, cảm hứng anh hùng, cảm
hứng triết luận,...
Những dạng cảm hứng nói trên “đều là sự ý thức về mặt tư tưởng và sự đánh giá về
mặt cảm xúc, một sự ý thức và đ
ánh giá chân thực và sâu sắc về những gì đang diễn ra và
tồn tại trong thực tế” (A.I.38, tr.143). Dù vậy, sự phân chia những dạng cảm hứng ở những
nhà nghiên cứu văn học nghệ thuật cũng không hoàn toàn trùng khít với nhau. Theo
Pospelov, do những khác biệt cốt yếu của bản thân cuộc sống được nhận thức [A.I.38, tr141-
142] nên cảm hứng cũng có nhiều biến thể khác. Một số dạng thức của c
ảm hứng như cảm
hứng anh hùng, cảm hứng bi kịch, cảm hứng kịch tính, cảm hứng thương cảm, cảm hứng
lãng mạn, cảm hứng châm biếm và cảm hứng hài hước.
Trong sáng tác nghệ thuật, cảm hứng được biểu hiện nhiều biến thể, nảy sinh từ ý thức
con người về tư tưởng và cảm xúc, nhất là những người nghệ sĩ sáng tạo nghệ thuật ngôn từ.
Vì vậy, tác ph
ẩm nghệ thuật ngôn từ có nhiều biến thể cảm hứng. Tuy vậy, vẫn có một biến
thể ngự trị chủ yếu, xuyên suốt tác phẩm. Đấy là cảm hứng chủ đạo.
Nhưng vẫn có một cảm hứng chủ đạo xuyên suốt tác phẩm, nó chi phối toàn bộ tác
phẩm, từ hình tượng, hoàn cảnh, tình huống đến cả giọng điệu, lời văn… Điều này tùy thuộc
vào nội dung tư tưởng, tình cảm của nhà văn, tùy thuộc vào cá tính sáng tạo nghệ thuật của
mỗi người cầm bút. Nó còn tùy thuộc vào hoàn cảnh xã hội, thực tại của đời sống mà nhà
v
ăn đang sống trong đó.
Theo Hêgel, cảm hứng chủ đạo là trung tâm điểm của nghệ thuật. Đấy chính là biểu
hiện tâm hồn người nghệ sĩ say sưa thâm nhập vào đối tượng một cách xuyên suốt. Và vì
vậy, nó gây tác động cảm xúc nhiều khi cũng rất mạnh mẽ đối với người tiếp nhận tác phẩm,
tạo sự đồng cảm, thăng hoa trong nghệ thuật.
Có thể
thấy, cảm hứng và các dạng thức của nó là một trong những yếu tố quan trọng
trong tác phẩm văn học và xuyên suốt trong lí luận văn học. Nó thể hiện nội dung tư tưởng,
tình cảm của tác giả về những đối tượng cụ thể được nói đến trong tác phẩm. Và việc nghiên
cứu cảm hứng chủ đạo giúp ta hiểu được đặc điểm sáng tác của các nhà văn.
1.1.3. C
ảm hứng triết luận về con người trong văn học Việt Nam thời đổi mới, giai đoạn
1986-2000.
So với những dạng cảm hứng khác, có thể nói, cảm hứng triết luận hình thành muộn
hơn. Sự lí giải và miêu tả đời sống con người theo cảm hứng triết luận được phát triển trong
xã hội thái bình, khi số phận cá nhân con người đặc biệt được quan tâm, khi mà ý thức về
phận ng
ười thật sâu sắc. Những nhà văn ưu tư, mẫn cảm trước đời sống thực tại, đi sâu vào
thế giới nội tâm con người, khám phá và lí giải đến tận cùng cái gọi là bản thể người, trong
những mối quan hệ với nó. Ở đó hội tụ đa dạng và phức tạp những trạng thái cảm xúc của
nhà văn: yêu, ghét, buồn, đau, chê trách, cảm thông, đồng cảm, phẫn u
ất,… đối với con
người trong cuộc sống riêng tư lẫn cuộc sống xã hội, trong những mối quan hệ riêng tư lẫn
quan hệ công dân. Vì vậy, cảm hứng triết luận giàu chất suy tưởng.
Sự phát triển ý thức cá nhân là dấu hiệu của sự phát triển ý thức con người trong
i, triết luận về con người là dạng thức biểu hiện cụ thể, đằm sâu hơn quan niệm nghệ
thuật về con người. Nó mang tính quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm. Vì vậy, nó
chi phối mạnh mẽ việc xây dựng tác phẩm, để lại những dấu ấn đậm nét cho từng nhà văn,
từng giai đoạn văn học.
Coi con người là đối tượng trung tâm của văn h
ọc, triết luận về con người có thể xem
là một biểu hiện nhân đạo hóa của ý thức lý luận, đưa văn học vào đúng quỹ đạo “nhân
học” như M.Gorki đã phát biểu. Điều này chứng tỏ sự tiến bộ của tư duy lý luận trong
nghiên cứu văn học. (Nguyễn Văn Kha, Đổi mới quan niệm về con người trong truyện ngắn
Việt Nam 1975- 2000, tr.17).
Như đã nói, cảm hứng triết luận đã có từ trước, nhưng đến văn học thời đổi mới, sau
năm 1986 đến nay nó mới phát triển rõ rệt, cảm hứng triết luận bộc lộ mạnh mẽ, được nhận
thức và được ghi nhận. Cũng như những dạng cảm hứng khác nảy sinh đều có cơ sở, cảm
hứng triết luận nả
y sinh do những đặc tính khách quan của đời sống thực tại, của hoàn cảnh
xã hội. Nó phát triển trên diện rộng của nền văn học dân tộc đương đại.
Sự nảy nở của cảm hứng triết luận đòi hỏi những điều kiện phức tạp: phải có những
biến động và rung chuyển cách mạng trong đời sống xã hội. Do đó, cái có ý nghĩa lớn ở đây
là đại hội Đảng từ sau năm 1986, mở ra một bầu không khí dân chủ, làm tích cực cảm xúc và
ý thức đi tìm tận nguồn cơn những cái thuộc về
số phận con người, liên quan đến con người
trong những mối quan hệ đa dạng và phức tạp của nó.
Cảm hứng triết luận xuất phát từ chiều sâu trí tuệ, lí trí, từ sự ý thức một cách thấu
suốt phận người. Chất triết luận cũng có sự khác biệt trong các tác phẩm của những nhà văn
khác nhau và có ảnh hưởng từ lập trường tư tưởng của họ. Ch
ất triết luận xuất phát từ sự suy
tư triết lí, khái quát hóa về cuộc đời, về phận người. Nó được gây nên bởi ý thức của nhà văn
về những vấn đề thuộc về con người, không phân biệt giai tầng trong xã hội.
Cảm hứng triết luận có mối quan hệ với những dạng cảm hứng khác nhưng nó cũng có
tính riêng độc lập, có khả năng luận giải vấ
toàn quốc nhấn mạnh: “Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của đời sống con người”.
“Phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất của mọi
hoạt động”. Quan điểm, đường lối nhất quán của Đảng đã tạo ra bầu không khí dân chủ,
khơi gợi khả năng tìm tòi, sáng tạo củ
a người nghệ sĩ, đáp ứng thị hiếu của công chúng thời
đại mới, thúc đẩy nền văn học nước nhà phát triển. Chủ trương đổi mới đã tạo phấn khởi cho
văn nghệ sĩ nước ta, khơi dậy nhiều tiềm năng sáng tạo. Chưa bao giờ, chỉ trong một thời
gian ngắn, ta lại thấy xuất hiện nhiều tác phẩm được dư
luận rộng rãi chú ý như vậy [A.I.13
tr.221].
Thông thường trong những bước ngoặt lịch sử quan trọng, ý thức xã hội có sự thay
đổi. Con người sống trong xã hội đó phải thẩm định lại những thang bậc giá trị. Văn học,
một hình thái ý thức xã hội vận động và biến đổi gắn liền với những biến đổi của xã hội, của
đời sống con người. Sự
thay đổi đó yêu cầu nhà văn phải đáp ứng một cách nhanh nhạy.
Hiện thực cuộc sống đòi hỏi một sự biến đổi văn học, cần thiết đặt văn học vào vị trí phù hợp
với nó. Một cuộc đấu tranh quyết liệt giữa những phạm trù tư tưởng thẩm mĩ khác nhau là
nhằm chỉ ra những hạn chế và lời giải đ
áp cho những vấn đề mới đang đặt ra cho toàn xã hội
và cho từng con người là động lực bên trong tạo ra bước ngoặt cho văn học. Và chính sự
phát triển của văn học hôm nay đã là một lời giải đáp nói trên, khi mà những niềm tin đẹp đẽ
dường như là tuyệt đối đã được xem xét lại. Nó có mặt mạnh nhưng không thể là ổn định,
nếu không nói là nó có nhiều ảo tưởng và duy ý chí. Nếu ba m
ươi năm trước, con người
trong văn học là đối tượng để ngợi ca hay phê phán. Giờ đây, con người còn là đối tượng để
nghiên cứu, phân tích nhiều mặt, trong các bình diện tồn tại khách quan của nó.
Nói như Nguyễn Khải, chiến tranh có cái réo rắt khắc nghiệt của nó. Hòa bình lại có
những đợt sóng ngầm, gió xoáy bên trong. Cái say sưa miêu tả khí thế chiến đấu của dân tộc,
dựng lại những hình tượng anh hùng bất khuấ
t, xả thân vì nhân dân, vì quê hương trong văn
tập trung thể hiện tư tưởng này càng sinh động càng tốt (tư tưởng thật rõ ràng). Tính giáo
dục trong tác phẩm, vì vậy, cũng trở nên rõ ràng. Không đa nghĩa, trừu tượng (đ
ó cũng là
một trong những hạn chế của văn học Việt Nam giai đoạn này: tính đơn giản, minh họa khá
phổ biến)
Một hiện thực đồ sộ, phức tạp, sâu thẳm, chênh vênh của ba mươi năm trước, phải đến
bây giờ, trong cửa ngõ rộng mở của dân chủ và cái bức thiết của sự đòi hỏi chính đáng, nó
mới được xới ra, phanh phui, tìm kiếm, khẳ
ng định hay phủ định, phân tích, đánh giá,…
trong tư duy mới của văn học, trong sự tiến bộ của tự do. Cần nói thêm, tự do ở đây là khám
phá và sáng tạo tích cực, không tách rời với trình độ, năng lực của nhà văn.
Văn học Việt Nam thời đổi mới có mầm mống, những thử nghiệm, những bài học từ
nhiều năm trước, trong suốt quá trình vận động của văn học cách mạng Việt Nam và nó được
đánh dấu từ công cuộc đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi vào năm 1986. “Cùng với
những biến đổi của cuộc sống, khẩu hiệu đổi mớ
i đã thổi một luồng gió đầy sinh khí vào đời
sống xã hội Việt Nam, kích thích những cải cách kinh tế và khơi dậy những suy nghĩ mới,
những tìm tòi, sáng tạo trong giới trí thức, văn nghệ sĩ. Là một bộ phận nhạy cảm nhất của
xã hội, văn học nghệ thuật hưởng ứng hết sức mạnh mẽ đường lối đổi mới trong sáng tác,
trong tác phẩm của các nhà v
ăn, nhà thơ, nhà viết kịch, nhà lí luận phê bình. Dần dần đến
lượt mình, văn học cũng tự biến đổi trong công cuộc đổi mới, có thêm những tác giả, tác
phẩm mới, có những đặc điểm về phong cách và nội dung khác với thời kì trước, cho phép
nói về một giai đoạn mới trong văn học” [A.I.53, tr. 135)
Như đã nói, nền tảng của sự đổi mới trong văn học th
ời kì này bắt nguồn từ sự tự ý
thức của văn học, tức là văn học giác ngộ về vai trò của nó trong xã hội, ý nghĩa của nó đối
với con người. Nghị quyết 05 của Bộ chính trị Đảng cộng sản Việt Nam (1987) đã mở ra một
cách nhìn mới về vị trí và chức năng của văn nghệ.
Có thể thấy diện mạo mới của vă
đang tự bi
ến đổi do chính những yêu cầu và đòi hỏi bên trong, vì sự tồn tại và phát triển hợp
quy luật và có ích của nó. Tuy nhiên sự biến đổi này vẫn đang trên đà của nó, vẫn chưa có
điểm dừng trong hiện tại. Trong quá trình đó, nó vừa kế thừa những truyền thống tốt đẹp
nhất của nền văn học dân tộc đã hình thành và phát triển trong những sự kiện lịch sử riêng
bi
ệt, vừa phủ định những gì lỗi thời, nhất thiết phải vượt qua để làm giàu thêm cho mình
những đổi mới, đồng thời dũng cảm phủ định ngay những cái mới vừa thể nghiệm mà do
những dự cảm đặc biệt, nó cảm thấy xa lạ, nhất thời không nên trở thành những phẩm chất
đích thực của một nền văn học đang tự đổ
i mới” [A.I.5 tr. 152].
Sự biến đổi đó vẫn chưa là một thông số trong tiến trình phát triển văn học, do những
ý kiến khác nhau, nhiều khi đối lập nhau, của những người đánh giá, thưởng thức của hôm
nay. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà không có một kết luận, một định hướng nào phù hợp
với nó. Trong một chừng mực nhất định của nó, có thể nhận ra tính triết luận về con người
trong truy
ện ngắn hôm nay. Thực tế đòi hỏi phải có tiếng nói thể hiện nhu cầu phong phú, đa
dạng, phức tạp về đời sống tinh thần của con người: tâm lý, tình cảm, những nỗi niềm thầm
kín, khát vọng riêng chung,… Vấn đề con người trong những mối quan hệ với nó, xã hội,
thiên nhiên, đời sống tinh thần, thế giới tâm linh, vấn đề bản năng, chất người,…tiếp tục
được kh
ơi sâu, lý giải, tìm hiểu đến tận cùng. Điều này thuộc về giá trị nhân bản, nhân văn
trong văn học.
Sự đổi mới trong cách nhìn nhận, cách lí giải về thực thể con người trong văn học trên
nhiều phương diện, tích cực, tiêu cực, trong cái nhìn ấm áp, bao dung, cả sự nghiêm khắc,
trừng phạt.
Cảm hứng lãng mạn, cảm hứng anh hùng ca trong văn học Việt Nam một thời không
còn là cảm hứ
ng chủ đạo. Con người với những được mất riêng tư, những nỗi niềm chìm
khuất,… trở thành đối tượng chủ yếu được hướng đến trong ánh nhìn nhân văn của các nhà
nhận diện con người trong tổng hòa các mối quan hệ của nó trong cái nhìn đa diện, nhiều
chiều.
2.1. Con người với đời sống xã hội
Tư duy truyền thống cho rằng sự phổ quát người là một chủ nghĩa nhân đạo trừu tượng
vì nó là sản phẩm muôn thuở ở ngoài không gian, thời gian. Cho nên chân lý không thuộc về
nó, mà thuộc về “chủ nghĩa nhân đạo cụ thể” lý giải bản chất của con người được qui định
bởi những quan hệ xã hội, bởi sự thay đổi của những quan hệ ấy.
2.1.1. Con người trong cuộc sống đời thường
Trong cuộc mưu sinh, kiếm tìm cái ăn, đáp ứng nhu cầu vật chất, mưu lợi nhằm thỏa
mãn thói háo danh cầu vị, con người, vì vậy mà trở nên tha hóa,
đánh mất đi cái gọi là bản
chất Người. Truyện ngắn giai đoạn 1986- 2000 dựng nên nhiều kiểu loại nhân vật, nhiều
cách tha hóa của con người.
Mỗi ngày qua đi, trong cái thế giới mà người ta gọi là xã hội loài người ấy, có biết bao
biến đổi, phản trắc bởi những toan tính xô bồ, nhọc nhằn danh lợi. Cái vòng luẩn quẩn nhỏ
hẹp với cơm- áo- gạo- tiền, những th
ứ thiết yếu có trong cuộc sống, đã làm cho con người
nhiều khi thành ngu muội. Như trùm Thịnh, lão Tảo, như những người đánh cá đêm trên một
khúc sông trong Chảy đi sông ơi của Nguyễn Huy Thiệp. Cũng vì cuộc mưu sinh (mà cũng
khó đổ lỗi cho cái gì khác) mà con người trở nên lạnh lùng, tàn nhẫn. Rằng, “hễ tối tăm và
đói kém” là nó, cái sự sống vô cùng vô tận ấy, “tác
ầm lên” [B.29, tr 160]. Họ sống một
cách “ngu muội” và “tối tăm” [B.29, tr 14] trong cuộc tranh giành miếng ăn, tranh giành sự
sống. Họ giẫm đạp lên nhau, thậm chí họ ngơ đi trước tiếng kêu cứu của một đứa trẻ bị hất
xuống sông. Bởi “những người đánh cá có lệ không cứu những ai chết đuối.” [B.29, tr. 13].
Bởi họ đói. Cái đói rất khốc li
ệt, như đã khước từ bản tính thiện trong họ, những con người
chỉ biết lèo lái để kiếm miếng ăn đến suốt đời. Ngay cả cái trò đùa của họ đối với một đứa
trẻ cũng thật độc ác. Chính trùm Thịnh đã nói với nhân vật tôi, một đứa trẻ có niềm tin kì
diệu vào sự may mắn nếu hớp được nước bọt của con trâu đen nơi khúc sông của những
dục vọng. Tất cả đều là hành vi phi đạo đức, phi nhân cách của người đàn bà ham hố một
cách thái quá đến thành trơ trẽn.
Con người sống ích kỉ đến tàn nhẫn thì sẽ thành vô cảm trước nỗi đau của đồng loại,
thậm chí trước cái chết rất th
ương tâm của đồng loại. Sự hèn kém trong nhân cách con
người bị trì xuống bởi sức nặng của tham vọng tiền tài, địa vị.