Tiểu luận
Đổi mới tư duy về tập hợp lực lượng của Việt Nam
giai đoạn 1986 – 1995 trong việc gia nhập ASEAN
Trong phạm vi và thời gian có hạn, với khả năng nghiên cứu còn rất nhiều hạn
chế, bài tiểu luận của tôi chỉ đưa ra được những cái nhìn khái quát nhất về Đổi mới tư
duy về tập hợp lực lượng của Việt Nam giai đoạn 1986 – 1995 trong việc gia nhập
ASEAN, với các nội dung chính sau:
I. Cơ sở đổi mới tư duy về tập hợp lực lượng
1. Tình hình thế giới và khu vực
2. Tình hình trong nước
II. Đổi mới tư duy tập hợp lực lượng với ASEAN và thực tiễn triển khai trong
giai đoạn 1986 – 1995
1. Giai đoạn 1986 – 1991
2. Giai đoạn 1991 – 1995
Bài tiểu luận chắc chắn còn có nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp
của các thầy cô.
Sinh viên trình bày
Nguyễn Phạm Thanh Phương
II. Cơ sở đổi mới tư duy về tập hợp lực lượng
1. Tình hình thế giới và khu vực
a) Tình hình thế giới
Cuối thập niên 80 – đầu thập niên 90 của thế kỷ XX có những dấu hiệu rõ rệt dự
báo sự kết thúc của thời kỳ Chiến tranh lạnh với sự tồn tại của trật tự hai cực chi phối
quan hệ quốc tế kéo dài mấy thập kỷ như việc nối lại gặp gỡ cấp cao giữa hai cường
quốc đứng đầu hai cực Mỹ - Xô, xu thế tăng cường đối thoại khu vực và sự khủng
hoảng nghiêm trọng ở một loạt các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Cục diện chính
trị thế giới vì thế mà thay đổi nhanh chóng, phức tạp. Trong bối cảnh đó, các nước lớn
bắt đầu tiến hành điều chỉnh chiến lược theo hướng đẩy mạnh hòa hoãn, cải thiện quan
hệ với nhau, tập trung giải quyết các vấn đề phát sinh từ trong nội bộ, chú trọng phát
triển nội lực và chạy đua kinh tế. Các nước đều điều chỉnh đường lối, tập trung phát
triển kinh tế quốc gia, tăng cường hợp tác với nhau trên những lĩnh vực các bên cùng
Từ đầu thập niên 80, khu vực Đông Nam Á đã có những dấu hiệu đi vào hòa bình
và ổn định. Mối quan hệ căng thẳng giữa ASEAN và Đông Dương đã bắt đầu được cải
thiện, cả hai phía thể hiện những nỗ lực đối thoại bắt đầu từ 1985. Tuy nhiên, giai đoạn
1986 – 1991, vấn đề Campuchia lại trở thành một trở ngại lớn trong quá trình bình
thường hóa quan hệ của Việt Nam với các nước trong khu vực. Với việc Việt Nam rút
hết quân khỏi Campuchia năm 1989 và đến khi Hiệp định Pari về Campuchia được ký
kết vào tháng 10/1991 thì trở ngại này mới được gỡ bỏ. Quan hệ Việt Nam – ASEAN
bắt đầu có những chuyển biến tích cực, mở ra những triển vọng hợp tác mới.
Năm 1991, sự tan rã của Liên bang Xô Viết làm cán cân so sánh lực lượng thế
giới nghiêng hẳn về một bên. Trong tình hình có nhiều biến động như thế, các cường
quốc đều bắt đầu giảm dần sự hiện diện quân sự tại Đông Nam Á, tạo ra khoảng trống
quyền lực ở khu vực. Do đó, vấn đề quan ngại chung của các nước trong khu vực lúc
này không chỉ là làm thế nào để tập trung ổn định kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội
trong mỗi nước mà còn đặt ra nhu cầu hợp tác để phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh,
ngăn chặn nguy cơ can thiệp của nước lớn lên khu vực. Quan hệ giữa các nước trong
khu vực đã “thoát khỏi” cái bóng ý thức hệ, vấn đề được quan tâm thúc đẩy hàng đầu
là “bảo đảm được môi trường quốc tế thuận lợi và giữ được các khu vực thị trường
truyền thống, duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của mình trong những năm
70 – 80”
2
. Việc nối lại quan hệ giữa hai khối trong khu vực là ASEAN và Đông
Dương là một đòi hỏi bức thiết và trở thành một chính sách quan trọng của cả hai phía.
* Tiểu kết: Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới cùng với những thành
tựu khoa học – công nghệ hiện đại và quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa diễn ra sâu
rộng làm cho nhu cầu đối thoại, hợp tác ngày càng gia tăng và trở nên tất yếu. Hơn
nữa, cục diện chính trị thế giới chuyển biến mau lẹ, phức tạp với việc trật tự đối đầu
2
TS. Vũ Dương Huân, Ngoại giao Việt Nam hiện đại vi sự nghiệp đổi mới (1975 – 2000), Học viện Quan hệ
Quốc tế, Hà Nội, 2002, tr. 135 – 136.
chất kỹ thuật của nước ta còn quá thiếu thốn và nghèo nàn trong giai đoạn đầu của quá
trình đổi mới.
Sự tan rã của khối xã hội chủ nghĩa khiến Việt Nam lâm vào nguy cơ tụt hậu xa
hơn về kinh tế với việc nguồn vay bên ngoài giảm mạnh, sự ưu đãi về giá chấm dứt, nợ
nước ngoài phải trả tăng, có sự đảo lộn lớn về thị trường xuất nhập khẩu, về nhiều
chương trình hợp tác kinh trế và nhiều hợp đồng về lao động, trong một thời gian ngắn
phải chuyển một phần đáng kể khối lượng buôn bán từ các thị trường truyền thống
sang các thị trường mới, chịu tác động lớn về biến động cung – cầu và giá cả thị
trường của thị trường thế giới; trong khi còn bị một số nước bao vây cấm vận.
3
Những
thay đổi này không những gây ra những thách thức về kinh tế - xã hội mà còn gây ra
nguy cơ mất ổn định chính trị khi có một bộ phận nhân dân bắt đầu nghi ngờ về con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam khi mà những chỗ dựa từ “các anh lớn” như
Liên Xô và Trung Quốc không còn.
* Tiểu kết: Đến giữa thập niên 80, Việt Nam vẫn duy trì quan điểm thế giới là
cuộc đấu tranh một mất một còn giữa hai phe với thắng lợi tất yếu của phe XHCN đối
với phe TBCN. Tuy nhiên, đến cuối thập niên 80, sự tương phản giữa tốc độ phát triển
thần kì của các nước công nghiệp mới ở châu Á với khủng hoảng kinh tế của cả Việt
Nam lẫn khối XHCN đã buộc các Việt Nam phải sửa đổi cách nhìn thế giới của mình.
Xuất phát từ nhu cầu tất yếu khách quan của quá trình đổi mới, cùng với những biến
chuyển sâu sắc của tình hình thế giới và khu vực, Việt Nam không thể tiếp tục duy trì
tư duy tập hợp lực lượng “bạn – thù”, giới hạn quan hệ với một số nước nhất định.
Hơn nữa, khi Liên Xô không còn, “hòn đá tảng” trong chính sách đối ngoại của Việt
Nam cần phải được thay đổi thích ứng với thời cuộc mới. Với mục tiêu duy trì hòa
bình, ổn định để thúc đẩy phát triển thì việc tăng cường và mở rộng các mối quan hệ
với bên ngoài, trước hết là với các nước trong khu vực trở thành tất yếu.
III. Đổi mới tư duy tập hợp lực lượng với ASEAN và thực tiễn triển khai
trong giai đoạn 1986 – 1995
Nam chỉ quan hệ với các nước XHCN, xem mình là thành trì, là người lính tiền đồn
của chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Đông Nam Á. Việt Nam đưa quân vào Campuchia với
một trong những lý do là để thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả; tuy nhiên, vấn đề
Campuchia lại trở thành một chướng ngại lớn cho Việt Nam trong việc xây dựng, phát
triển quan hệ với các nước. Việt Nam muốn đặt quan hệ, mở rộng hợp tác với ASEAN
thì trước hết phải phá thế bao vây cấm vận, giải quyết được vấn đề Campuchia.
Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, trong đó có đổi mới về đối ngoại mà
điển hình là tư duy tập hợp lực lượng, Việt Nam từng bước rút quân khỏi Campuchia
và tiến hành đối thoại với các nước trong khu vực. Việt Nam tiến hành đối thoại lần
đầu tiên với Indonesia – đại diện do ASEAN cử ra – vào tháng 7/1987; tham gia các
cuộc gặp gỡ không chính thức về Cam-pu-chia giữa các bên liên quan: JIM-1
(7/1988), JIM -2 (2/1989), IMC (2/1990); tăng cường trao đổi đoàn cấp cao, tuyên bố
4
Nguyễn Thị Mai Hoa, Bước phát triển tư duy đối ngoại của Đảng trong quan hệ các nước láng giềng và khu
vực thời kỳ đổi mới, Tạp chí Lịch sử Đảng, 5/2005.
sẵn sàng nghiên cứu việc tham gia hợp tác khu vực; thúc đẩy thương mại giảm sút do
ảnh hưởng của việc Liên Xô và Đông Âu sụp đổ.
Tuy nhiên đổi mới tư duy về tập hợp lực lượng nói chung, việc củng cố quan hệ
với ASEAN nói riêng ở giai đoạn 1986 - 1991 còn rất hạn chế do hai nguyên nhân chủ
yếu. Một là, giai đoạn trước năm 1986, do lăng kính ý thức hệ, Việt Nam xem ASEAN
là một khối SEATO trá hình do Mỹ chi phối, hơn nữa, ta lại tự cho mình là người lính
tiền đồn chống chủ nghĩa tư bản ở Đông Nam Á nên đã không coi trọng hợp tác với
ASEAN. Hai là, trước năm 1990 hoạt động của ASEAN bị cuốn vào các vấn đề chính
trị nhất là “vấn đề Cam-pu-chia”, đồng thời các nước ASEAN chưa coi trọng hợp tác
nội khối mà vẫn hướng ra ngoài cho nên ASEAN “thế và lực” chưa mạnh và các hợp
tác về kinh tế thương mại chưa cao, nên cũng chưa là điểm nhắm đến của Việt Nam
5
.
Việc Việt Nam rút hết quân khỏi Campuchia năm 1989 đã loại bỏ một rào cản
nước nhỏ và vừa có điều kiện địa lý, lịch sử tương đối gần gũi với Việt Nam; mặc dù
có những điểm khác nhau về văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội khác nhau nhưng với
chủ trương “thống nhất trong đa dạng”, tăng cường hợp tác song vẫn tôn trọng độc lập
chủ quyền của các quốc gia thành viên, duy trì nguyên tắc chủ chốt là đồng thuận
ASEAN đã tạo nên sức lôi cuốn đối với nước ta.
Hơn nữa, mục tiêu của ASEAN về hoà bình, ổn định và mở rộng hợp tác có sự
giao thoa với mục tiêu đối ngoại của Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với chính sách đối
ngoại đa phương hoá, đa dạng hoá của nước ta nhấn mạnh vai trò của hợp tác khu vực.
Đẩy mạnh quan hệ với ASEAN là mục tiêu quan trọng đối với Việt Nam, tạo điều kiện
cho nước ta nhanh chóng đuổi kịp và hòa nhập với sự phát triển kinh tế của các nước
trong khu vực và góp phần làm tăng vị trí cũng như vai trò của Việt Nam trên trường
quốc tế, tạo thuận lợi cho Việt Nam tham gia các cơ chế hợp tác lớn hơn ở khu vực
châu Á – Thái Bình Dương.
Việt Nam đã triển khai tích cực những chủ trương trên trong quan hệ với
ASEAN giai đoạn 1991 – 1995 một cách tích cực và hiệu quả Tháng 7/1992, Việt
Nam chính thức ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á, trở thành quan sát
viên của ASEAN. Trong hai năm 1991 – 1992, Việt Nam đã ký kết được nhiều hiệp
định hợp tác khu vực. Tháng 7/1994, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần
thứ 27, các nước ASEAN đã nhất trí tuyên bố sẵn sàng công nhận Việt Nam là thành
viên chính thức của ASEAN. Cũng tại thời điểm này, Việt Nam tham gia Diễn đàn khu
vực ASEAN (ARF) với tư cách là thành viên sáng lập của diễn đàn này. Ngày
28/7/1995, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 28, Việt Nam trở thành
6
Hồng Hà, Tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của ta, Tạp chí Cộng sản, 12/1992.
thành viên thứ bảy của ASEAN, đồng thời tuyên bố gia nhập khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA).
Những nỗ lực của Việt Nam trong việc bình thường hóa quan hệ với các nước
ASEAN và tiến tới gia nhập tổ chức khu vực này đã gặt hái được thành công. Tuy
nhiên để đạt được những bước chuyển tưởng như dễ dàng đó cần phải có một quá trình
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.
2. Vũ Dương Huân, Ngoại giao Việt Nam hiện đại vi sự nghiệp đổi mới
(1975 – 2000), Học viện Quan hệ Quốc tế, Hà Nội, 2002.
3. PGS.TS. Tô Huy Rứa, GS.TS. Hoàng Chí Bảo, PGS.TS. Trần Khắc Việt,
PGS.TS. Lê Ngọc Tòng, Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ
1986 đến nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006.
4. Vũ Quang Vinh, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại
(1986 – 2000), Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2001.
5. Vũ Khoan, Việt Nam và ASEAN, Tạp chí Cộng Sản, tháng 11/1994.
6. Vũ Dương Huân, Về vấn đề đổi mới tư duy trong hoạt động đối ngoại của
Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 1(68), 3/2007.
7. Hồng Hà, Tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của ta, Tạp chí Cộng
sản, 12/1992.
8. Nguyễn Thị Mai Hoa, Bước phát triển tư duy đối ngoại của Đảng trong
quan hệ các nước láng giềng và khu vực thời kỳ đổi mới, Tạp chí Lịch sử
Đảng, 5/2005.