ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KIỀU THỊ LOAN
CỐT TRUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN MINH CHÂU SAU 1975
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lí luận văn học
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Diêu Thị Lan Phƣơng
Hà Nội-2013
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. LÍ DO CHọN Đề TÀI 1
2. LịCH Sử VấN Đề 2
3. MụC ĐÍCH, ĐốI TƢợNG, PHạM VI NGHIÊN CứU 8
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CứU 8
5. CấU TRÚC LUậN VĂN 9
NỘI DUNG 9
3.2.2. Cách tổ chức các thành phần cốt truyện phi truyền thống 86
3.3. Cách xây dựng tình huống trong cốt truyện 89
3.3.1. Tình huống nhận thức 90
3.3.2. Tình huống nghịch lí 93
3.3.3. Tình huống bi kịch 95
3.3.4. Tình huống ngẫu nhiên 97
3.4. Thời gian - không gian và tiêu điểm trần thuật trong cốt truyện 99
3.4.1. Thời gian nghệ thuật và sự co duỗi của cốt truyện 99
3.4.2. Không gian nghệ thuật và sự vận động của cốt truyện 104
3.4.3. Sự lựa chọn tiêu điểm trần thuật trong cấu trúc cốt truyện 108
KẾT LUẬN 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117 1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong quá trình vận động và phát triển của văn học Việt Nam, Nguyễn
Minh Châu là một trong số ít những nhà văn mà sáng tác đã trở thành hiện
tƣợng tiêu biểu cho văn học hiện đại. Đến với văn học vào thời điểm mà cả
dân tộc đang gồng sức cho cuộc chiến đấu chống Mĩ, Nguyễn Minh Châu
nhanh chóng khẳng định chỗ đứng của mình trong lòng bạn đọc với một loạt
tác phẩm nóng hổi hơi thở đời sống chiến tranh và cách mạng.
Cả cuộc đời là một hành trình không ngừng nghỉ để tìm kiếm “hạt
ngọc” ẩn chứa trong mỗi con ngƣời, Nguyễn Minh Châu đã yêu thƣơng và tin
tƣởng, lặng lẽ và sẻ chia, thấu hiểu và dâng tặng đời bao tặng phẩm quý giá.
Những trang viết của ông vừa giàu chất văn, chất thơ ở tình ngƣời cao đẹp
truyện của ông cũng đã đƣợc đề cập tới nhƣng thật sự chƣa có công trình
khoa học nào lấy việc tìm hiểu về vấn đề cốt truyện truyện ngắn của Nguyễn
Minh Châu trong chỉnh thể của cấu trúc nghệ thuật làm đối tƣợng nghiên cứu
một cách toàn diện và sâu sắc.
Với tất cả những lý do đó, trên cơ sở kế thừa thành tựu của ngƣời đi
trƣớc, chúng tôi chọn đề tài “Cốt truyện trong truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu sau năm 1975 ” cho luận văn của mình. Đây sẽ là cơ hội để ngƣời viết
tiến hành tìm hiểu các yếu tố nghệ thuật làm nên cấu trúc cốt truyện của
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trong những sáng tác sau 1975 trên tinh thần
khoa học một cách toàn diện. Từ đó luận văn hƣớng đến một cách hiểu, cách
lý giải thuyết phục về cái hay, cái độc đáo và hấp dẫn của truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu, đặc biệt là dƣới góc độ thi pháp cốt truyện.
2. Lịch sử vấn đề
Là một trong những tác giả có vị trí quan trọng trong văn xuôi hiện đại
Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn đổi mới, Nguyễn Minh Châu và sáng
tác của ông đã đƣợc các nhà nghiên cứu chú ý tìm hiểu trên nhiều phƣơng
diện. Tính cho đến nay, đã có hàng trăm bài viết đăng trên các báo và tạp chí 3
cùng rất nhiều những chuyên luận, công trình nghiên cứu về cuộc đời và tác
phẩm của ông. Theo cuốn sách Nguyễn Minh Châu – về tác gia và tác phẩm,
thƣ mục tài liệu nghiên cứu tác gia, tác phẩm Nguyễn Minh Châu ghi nhận có
đến 150 bài viết và công trình nghiên cứu lớn nhỏ.
Trên cơ sở khảo sát những tài liệu hiện có trong tay, chúng tôi nhận
thấy các bài viết về Nguyễn Minh Châu đã tiếp cận khá kĩ lƣỡng cả hai
phƣơng diện con ngƣời và tác phẩm của nhà văn. Trong giới hạn của đề tài
nghiên cứu, sau đây, chủ yếu ngƣời viết sẽ chỉ điểm qua những ý kiến và
công trình nghiên cứu có liên quan đến truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu.
Xoay quanh vấn đề về Nguyễn Minh Châu và các sáng tác của ông nói
Hiển, Tô Hoài, Nguyễn Kiên, Trần Đình Sử, Lã Nguyên…
Sau cuộc hội thảo, nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu tiếp tục bàn
luận về truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, dần dần đi tới những thống nhất
trong đó có sự khẳng định quá trình đổi mới tích cực và đầy hiệu quả của ông.
Về những tập truyện ra đời trong giai đoạn sau này, có thể kể đến những ý
kiến của Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân,Tôn Phƣơng Lan, Trịnh Thu Tuyết
Hai tập truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành và Bến quê
nhận đã nhận đƣợc rất nhiều kiến giải mới mẻ. Trần Đình Sử trong bài viết
Bến quê - Một phong cách trần thuật giàu chất triết lý đã nhận xét rằng: “Bắt
đầu từ truyện ngắn Bức tranh, rồi tập Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành
và nay là tập Bến quê, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu xuất hiện như là
một hiện tượng văn học mới, một phong cách trần thuật mới… Đặc sắc của
tập Bến quê chủ yếu là sự thể nghiệm một hướng trần thuật có chiều sâu…,
phát hiện các hiện tượng đời sống trong chiều sâu triết học và lịch sử, thể
hiện nhu cầu chiêm nghiệm, tự đối thoại với chính mình và với ý thức của
mình.” [55, tr.505-508]. Lại Nguyên Ân trong tiểu luận Sáng tác truyện ngắn
những năm gần đây của Nguyễn Minh Châu trên tạp chí Văn học số 3/1993
khi nhận xét về xu hƣớng triết lí nhận thức trong những truyện ngắn gần đây
của ông đã chỉ ra sự đổi mới, tìm tòi của Nguyễn Minh Châu trong vấn đề
chuyển tải những vấn đề đạo đức, triết lí từ trong cuộc sống thƣờng ngày.
Ngô Thảo trong bài “Đọc những tác phẩm mới của Nguyễn Minh Châu” đã 5
có nhiều nhận định, đánh giá cao về tác phẩm Người đàn bà trên chuyến tàu
tốc hành. Tác giả Huỳnh Nhƣ Phƣơng qua bài Đọc Người đàn bà trên chuyến
tàu tốc hành đã có nhiều đánh giá khá sắc sảo, hấp dẫn về một số tác phẩm cụ
thể trong tập truyện ở cả hai phƣơng diện nội dung và hình thức nghệ thuật.
Cỏ lau – tập truyện cuối cùng của ông cũng nhận đƣợc sự quan tâm đặc
biệt của giới phê bình.Có thể kể đến các bài viết của: Những đổi mới về thi
người (Lê Văn Tùng), Giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Minh
Châu (Tôn Phƣơng Lan), Vấn đề tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu (Bùi Việt Thắng)…
Ngoài những bài viết đề cập trực tiếp đến truyện ngắn nêu trên, không
thể không nhắc đến hai chuyên luận nghiên cứu về Nguyễn Minh Châu là
Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu (NXB KHXH, 2002) của tác giả
Tôn Phƣơng Lan và Nguyễn Minh Châu và công cuộc đổi mới văn học Việt
Nam sau 1975 (NXB ĐHSP, H. 2007) của các tác giả Nguyễn Văn Long –
Trịnh Thu Tuyết. Những công trình này, dù có đối tƣợng và phạm vi nghiên
cứu khác nhau, nhƣng đều dành nhiều dung lƣợng cho phần nghiên cứu mảng
truyện ngắn.
Những đặc điểm của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 cũng
đƣợc đề cập khá nhiều trong luận án tiến sĩ, thạc sĩ và nghiên cứu của sinh
viên. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu nhƣ: luận án tiến sĩ Sáng tác
của Nguyễn Minh Châu trong sự vận động của văn xuôi đương đại của Trịnh
Thu Tuyết - ĐHSP Hà Nội, luận văn thạc sĩ Hệ thống hình ảnh biểu tượng
trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu của Dƣơng Thị Thanh Hiên –
ĐHSP Hà Nội; luận văn thạc sĩ Thế giới truyện nghệ thuật truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu của Nguyễn Thị Phƣơng Thảo – ĐHKHXH&NV Hà
Nội… Sáng tác của Nguyễn Minh Châu còn là đối tƣợng nghiên cứu của
nhiều luận văn tốt nghiệp bậc đại học. Ngoài ra cũng còn có nhiều ý kiến
nhắc đến truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trong những bài nghiên cứu về văn
học Việt Nam giai đoạn sau 1975 Những công trình nêu trên đã cho thấy sự
quan tâm sâu sắc của giới nghiên cứu đến sáng tác Nguyễn Minh Châu. Sức 7
hấp dẫn của tác phẩm Nguyễn Minh Châu, đặc biệt là mảng truyện ngắn chắc
chắn sẽ còn cần thêm nhiều công trình nghiên cứu khác quan tâm làm rõ.
Riêng về vấn đề cốt truyện trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu cũng
dƣới góc độ đặc trƣng của thể loại, thấy đƣợc những đặc điểm riêng về cốt
truyện trong sáng tác của ông, đồng thời góp phần hiểu rõ hơn những phong
cách truyện ngắn Nguyễn Minh Châu.
Với định hƣớng nhƣ vậy, trong phạm vi của đề tài, luận văn sẽ tập
trung vào việc xem xét đặc điểm cốt truyện trong truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu giai đoạn sau 1975, từ đó làm rõ quá trình vận động chuyển đổi về quan
niệm nghệ thuật và phƣơng thức biểu hiện trong truyện ngắn của nhà văn giai
đoạn sau 1975 cùng những đóng góp của ông cho văn học thời kì đổi mới.
Trên cơ sở đào sâu những phát hiện của những nhà nghiên cứu đi
trƣớc, luận văn cố gắng hệ thống hóa và phân tích kĩ một số đặc điểm của cốt
truyện trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu giai đoạn sáng tác sau 1975 để
thấy đƣợc cùng với sự thay đổi về tƣ duy nghệ thuật là sự thay đổi từ loại
hình truyện ngắn sử thi hóa sang loại hình truyện ngắn tiểu thuyết hóa, thấy
đƣợc những đóng góp của nhà văn về phƣơng diện nghệ thuật biểu hiện cho
thể loại truyện ngắn Việt Nam hiện đại.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, ngƣời viết đã sử dụng các phƣơng
pháp nghiên cứu sau:
- Phƣơng pháp xã hội học đƣợc dùng để làm rõ sự tác động cũng nhƣ
ảnh hƣởng của hoàn cảnh xã hội đối với quá trình vận động đổi mới của
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975.
- Phƣơng pháp loại hình đƣợc sử dụng nhằm khảo sát, phân loại và xác
định đặc điểm cốt truyện trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau năm
1975. 9
- Phƣơng pháp hệ thống giúp xác định vị trí truyện ngắn của ông trong
tiến trình vận động của văn xuôi Việt Nam .
- Phƣơng pháp so sánh đƣợc dùng nhƣ là một phƣơng pháp chủ yếu để
hiểu về sự thay đổi trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau 1975
không thể không xét đến những thay đổi trong quan niệm nghệ thuật và quan
niệm về con ngƣời của ông. Sự thay đổi về quan niệm nghệ thuật tất yếu sẽ
dẫn đến sự thay đổi về nội dung cũng nhƣ các yếu tố trong bút pháp thể hiện
trong quá trình sáng tạo tác phẩm văn học của nhà văn đặc biệt là yếu tố cốt
truyện.
Với một loạt các bài phê bình, tiểu luận… cùng những tác phẩm không
chỉ minh họa xuất sắc cho bƣớc chuyển âm thầm mà quyết liệt trong quan
niệm sáng tác mà còn đạt tới sự hoàn thiện nghệ thuật, Nguyễn Minh Châu đã
tạo cho mình một vị trí không thể thay thế trong giai đoạn quá độ của văn học
trƣớc và sau 1975, trở thành một nhà văn đặt nền móng toàn diện và sâu sắc
cho sự đổi mới cả về quan niệm nghệ thuật lẫn phƣơng thức biểu đạt. Là nhà
văn mặc áo lính, Nguyễn Minh Châu ý thức hết sức sâu sắc về sứ mệnh
thiêng liêng của ngƣời cầm bút trong giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến.
Tâm niệm sáng tác trở thành cháy bỏng trong ông lúc này là hƣớng đến cuộc
“đấu tranh vì quyền sống của cả dân tộc”, do vậy nhà văn đã dành gần nửa
cuộc đời để say sƣa ngợi ca, mê mải khám phá vẻ đẹp lung linh, kỳ ảo của
cuộc sống và tâm hồn con ngƣời trong chiến tranh vệ quốc. Bằng tài năng và
tâm huyết của một nhà văn luôn trăn trở với sự nghiệp văn học nƣớc nhà,
Nguyễn Minh Châu đã thể hiện những thay đổi trong tƣ duy nghệ thuật của
mình qua một loạt tác phẩm có nhiều tìm tòi, khám phá. Đó là quá trình nhà
văn khước từ văn chương “minh họa” để đến với văn chương thực sự là cây
đời; từ hứng thú với con người sử thi đơn phiến đến hứng thú với con người
thường nhật phức tạp, bí ẩn chưa biết hết,… 11
t
Sáng tạo nghệ thuật là một thứ lao động hết sức nhọc nhằn, vất vả và
luôn phải tự làm mới mình để tồn tại và phát triển. Trong hành trình sáng tạo
thời chống Mĩ. Có thể dễ dàng nhận ra ở trong họ những phẩm chất tiêu biểu
nhất cho vẻ đẹp của con ngƣời thời đại bấy giờ nhƣ giàu lòng yêu nƣớc, say
mê lí tƣởng, gan dạ dũng cảm, sẵn sàng hi sinh tình cảm cá nhân, lợi ích riêng
tƣ cho lợi ích của cộng đồng, dân tộc.
Tác phẩm của Nguyễn Minh Châu trƣớc 1975, dù muốn hay không, ít
nhiều cũng là những bức tranh minh họa cho những chủ trƣơng, đƣờng lối
văn nghệ của Đảng. Mỗi nhân vật của ông đều có đời sống riêng, đều đƣợc
khắc họa trong những hoàn cảnh cụ thể khác nhau, tuy nhiên, sự phong phú
ấy không nhằm nói lên sự đa dạng phức tạp trong tính cách, số phận con
ngƣời mà chủ yếu là muốn cho thấy bộ mặt nhiều vẻ của dân tộc, nhân dân
trong sự đồng lòng quyết tâm thực hiện những nhiệm vụ cao cả chống giặc
ngoại xâm, giành lại độc lập tự do cho đất nƣớc. Chiến tranh là nền cảnh chủ
yếu của đời sống cộng đồng, có vai trò nhƣ một không gian khung, một sân
khấu để nhân vật hoạt động. Qua nhân vật, nhà văn thể hiện sự quan sát, đánh
giá, bày tỏ tình cảm thái độ về cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc.
Đời sống cá nhân của con ngƣời chƣa thực sự trở thành đối tƣợng chủ
yếu để nhà văn phản ánh mà chỉ là một yếu tố trong bức tranh hiện thực lịch
sử xã hội của tác phẩm. Có lẽ lúc bấy giờ, trong ông chƣa xuất hiện khái niệm
“văn nghệ minh họa”, tuy nhiên cũng ngay trong những tháng ngày mơ mộng
và hào hùng ấy, Nguyễn Minh Châu đã sớm nhận ra những bất cập: “Hình
như cuộc chiến đấu anh hùng sôi nổi hiện nay đang được văn xuôi và thơ ca
đôi khi tráng lên một lớp men “trữ tình”hơi dày, cho nên ngắm nó thấy mỏng
mảnh, bé bỏng và óng chuốt quá khiến người ta phải ngờ vực” [13, tr.33].
Những manh nha về một bƣớc chuyển trong nhận thức nghệ thuật của
Nguyễn Minh Châu đã có từ sớm nhƣng phải đến những năm sau 1975, xuất
phát từ yêu cầu của cuộc sống, đặc biệt là trong không khí đổi mới từ Đại hội
VI thì mới đƣợc bộc lộ một cách triệt để. Khi chiến tranh kết thúc, cuộc sống
dần trở lại với nhịp sống bình thƣờng của nó thì cũng là lúc có nhiều vấn đề
mới nảy sinh. Con ngƣời không chỉ biết mỗi việc là cầm súng đánh giặc mà
14
người” [13, tr.345], tức “đào sâu vào hiện thực ở cái tầng đáy của đời sống”
[13, tr.337].
Hiện thực trong tác phẩm không còn chỉ là hiện thực cách mạng với
các biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng mà còn là hiện thực của đời sống
thƣờng ngày với các mối quan hệ thế sự phức tạp, đan xen. Dịch chuyển
phạm vi nhận thức và phản ánh hƣớng vào hiện thực của đời sống hằng ngày,
nhà văn chú ý nhiều đến đời sống cá nhân của mỗi ngƣời. Con ngƣời vẫn
đƣợc đặt trong mối quan hệ với hoàn cảnh lịch sử xã hội, tuy nhiên hoàn cảnh
lịch sử xã hội chỉ là cái nền để nhà văn khai thác những khía cạnh của số
phận cá nhân trong những trăn trở đời thƣờng, trong quan hệ với gia đình,
những ngƣời xung quanh, với chính bản thân mình. Trong Cỏ lau, Phiên chợ
Giát…, số phận con ngƣời cũng đƣợc đặt trong bối cảnh hiện thực rộng lớn
với nhiều biến cố, nhiều sự kiện lịch sử phức tạp chi phối mạnh mẽ đến cuộc
sống của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, điều đáng nói là ở đây, nhà văn không có
chủ ý nhằm vào việc tái hiện bộ mặt lịch sử. Điều nhà văn quan tâm thể hiện
là những số phận cá nhân với những biến động, những cảm xúc bên trong thế
giới tinh thần con ngƣời.
Ở những truyện cuối đời nhƣ Cỏ lau, Sống mãi với cây xanh, Phiên
chợ Giát, từ số phận cá nhân, tác giả mở rộng suy ngẫm, chiêm nghiệm về
những vấn đề mang tính thời cuộc, mang ý nghĩa nhân sinh đối với đời
ngƣời…Nhƣ lối dự cảm của ngƣời nông dân, đôi khi mơ hồ nhƣng lại chính
xác, Nguyễn Minh Châu đặt ra nhiều vần đề cho mai sau: vấn đề môi trƣờng,
cách ứng xử với thiên nhiên, việc quy hoạch và chính sách đối với nông thôn
và nông dân… Những vấn đề ấy cho đến nay vẫn còn ý nghĩa thời sự nóng
hổi, vẫn là những vấn đề hết sức bức xúc mà xã hội cần quan tâm và giải
quyết. Từ lối văn chƣơng minh họa của một thời để đến đƣợc với những tác
phẩm tràn đầy nhựa sống của cây đời, từ lối viết chủ yếu ngợi ca đến việc day
đặc biệt chú ý, đƣợc xem “nhƣ là một hiện tƣợng văn học mới, một phong
cách trần thuật mới”. Lấy số phận con ngƣời làm tiêu điểm cho lăng kính
nghệ thuật của mình, Nguyễn Minh Châu đi sâu khám phá những tầng sâu
thẳm của thế giới bên trong con ngƣời. Trong các truyện ngắn của ông, xu 16
hƣớng triết lí nhận thức ngày càng rõ nét hơn, con ngƣời trong tác phẩm luôn
khao khát nhận thức, chiêm nghiệm đời sống, tự đối thoại và tự nhận thức
mình trong mối tƣơng quan với tự nhiên và xã hội. Đằng sau những câu
chuyện đời thƣờng trong Dấu vết nghề nghiệp, Bến quê, Chiếc thuyền ngoài
xa, Một lần đối chứng… là những chiêm nghiệm sâu sắc về lẽ đời, là những
suy nghĩ da diết về chân lí nghệ thuật và đời sống.
Các truyện nhƣ Khách ở quê ra, Sống mãi với cây xanh, Cỏ lau, Phiên
chợ Giát … còn nhƣ muốn bao quát thêm nhiều vấn đề có tính lịch sử vào
trong cái nhỏ bé của một đời ngƣời. Về nội dung phản ánh, ở các truyện này
vấn đề không chỉ là “một lát cắt của đời sống” mà đã có tham vọng muốn tái
hiện diễn tiến của một cuộc đời, một số phận với nhiều mối quan hệ đan xen
phức tạp. Nhà văn dƣờng nhƣ muốn thông qua câu chuyện về một cuộc đời
mà gợi lên những vấn đề có tầm vóc dân tộc, thời đại.
Cái nhìn đa chiều giúp nhà văn phát hiện ở con ngƣời thƣờng nhật
những khía cạnh nhiều khi đối lập nhau. Trong mỗi con ngƣời luôn có cả
“rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và ác quỷ”. Cái tốt và cái xấu đặt cạnh
nhau, trộn lẫn vào nhau. Con ngƣời, trong những mối quan hệ khác nhau, có
sáng suốt và sai lầm, thực dụng nhƣng cũng đầy mơ mộng, có niềm tin và có
cả những phút giây yếu đuối, luôn tỉnh táo nhƣng cũng có những khoảng mờ
ảo của tâm linh. Nhƣng chính nhờ vậy mà con ngƣời hiện lên thật chân thực
và gần gũi. Những giấc mơ hãi hùng của lão Khúng, những cơn mộng du của
cô Quỳ, những mơ mộng của nhân vật trong Sân cỏ Tây Ban Nha … cho thấy
bên trong con ngƣời luôn tồn tại những điều bí ẩn mà nếu nhìn đơn giản,
con ngƣời trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 dƣờng nhƣ càng
lúc càng đƣợc tô đậm bởi chất suy tƣ triết lí, giúp đem lại một vẻ đẹp mới cho
tác phẩm của ông.
Muôn mặt đời thƣờng đã đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, đem
lại cho tác phẩm của ông sự đóng góp quan trọng trong việc nỗ lực lấp đầy
một khoảng trống của văn chƣơng trƣớc đó bằng cái hằng ngày, bằng những
số phận cá nhân trong đời sống cộng đồng. Ông quan niệm: “Con người vừa
dễ hiểu vừa đầy bí ẩn. Chúng ta đào bằng ngòi bút cho đến cùng đáy cái thật 18
chứa đầy bí ẩn, đầy nỗi niềm nguồn cơn của con người đất nước mình thì sẽ
gặp con người nhân loại, sẽ gặp cái nhân bản của nhân loại, con người Việt
Nam sẽ giao hòa với nhân loại ” [13,tr.144]. Việc tìm tòi, khám phá, đào sâu
vào bản chất con ngƣời cũng là con đƣờng để tác phẩm của ông vƣơn đến tiếp
cận với những giá trị vĩnh hằng của cuộc đời.
Song song với việc mở rộng diện phản ánh dƣới một góc nhìn mới,
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 cũng có nhiều thay đổi về bút pháp
thể hiện. Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời thay đổi tất yếu kéo theo nhiều
sự thay đổi về nghệ thuật biểu đạt : từ nhân vật đến cốt truyện, tình huống,
giọng điệu, ngôn ngữ …
Các bài tiểu luận, phê bình của ông đã đề cập đến nhiều phƣơng diện
trong quá trình văn học: từ tác dụng của văn học đến mối quan hệ giữa văn
học và đời sống chiến tranh cách mạng, mối quan hệ giữa nhà văn – nhân vật
– bạn đọc, vai trò và trách nhiệm của ngƣời cầm bút, chân dung nhà văn, kinh
nghiệm sáng tác… Những bài viết của ông cũng đã góp phần không nhỏ vào
việc tạo nên một không khí sôi nổi trong đời sống văn học những năm cuối
thế kỉ XX, đồng thời giúp cho ngƣời đọc hôm nay hiểu thêm về con ngƣời và
sáng tác của ông - một trong những nhà văn đi đầu công cuộc đổi mới văn
học. Các bài phê bình, tiểu luận cùng với những tác phẩm có giá trị nghệ
và chủ thể trần thuật…
Đối mặt với hai cuộc chiến tranh ác liệt chống Pháp và chống Mĩ, vấn
đề đƣợc quan tâm hàng đầu là sự sống còn của cả dân tộc. Yêu cầu đặt ra cho
tất cả mọi ngƣời lúc này là phải lấy trách nhiệm công dân, nghĩa vụ đối với
đất nƣớc làm phƣơng châm hành động, là thƣớc đo cao nhất để định giá mọi
giá trị. Văn học giai đoạn này, dƣới sự lãnh đạo của Đảng, lấy việc phục vụ
chính trị, phục vụ cách mạng làm nhiệm vụ hàng đầu. Ý thức công dân cùng
với nhiệt tình của ngƣời chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tƣ tƣởng đã thúc giục
các nhà văn hòa mình vào cuộc sống chiến đấu lao động của nhân dân, kịp
thời phản ánh và biểu dƣơng những việc làm tốt, những tấm gƣơng anh hùng.
Những vấn đề khác trong cuộc sống của con ngƣời tạm thời đƣợc gạt sang
một bên, hoặc có đƣợc đề cập đến thì cũng chỉ là để thêm chút “gia vị” làm 20
cho hình ảnh “con ngƣời mới” thêm sinh động. Những vấn đề của cuộc sống
đời thƣờng đƣợc nâng lên tầm sử thi, đƣợc soi chiếu theo góc nhìn của các
quan hệ chính trị.
Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu giai đoạn trƣớc 1975 cho thấy nhà
văn đề cập chủ yếu đến hai mảng hiện thực lớn là cuộc sống chiến đấu chống
giặc ngoại xâm, công cuộc xây dựng chế độ mới và những khoảnh khắc đời
thƣờng của con ngƣời trong bối cảnh của cuộc sống thời chiến. Không khí
chiến trƣờng không chỉ có ở nơi tiền tuyến mà còn hiện diện ở cả hậu
phƣơng, trong thao trƣờng huấn luyện và cả trong những giây phút riêng tƣ
của cuộc sống gia đình. Có thể nói đây cũng là những không gian mang màu
sắc sử thi của thời đại.
Bám sát hiện thực đời sống chiến tranh, Nguyễn Minh Châu kịp thời có
nhiều truyện ngắn viết về đủ loại quân binh chủng, từ những ngƣời lính
phòng không ( Những vùng trời khác nhau, Câu chuyện trên trận địa …),
những chiến sĩ hải quân ( Lá thư vui), bộ đội giao thông, thanh niên xung
Một điều đáng lƣu ý là bên cạnh những truyện ngắn đậm chất sử thi
đƣợc đánh giá cao nhƣ Mảnh trăng cuối rừng, ở một số truyện ngắn Nguyễn
Minh Châu giai đoạn này còn xuất hiện màu sắc đời tƣ rõ nét. Ở các truyện
nhƣ Chuyện đại đội, Lá thư vui, Đất rừng, chất đời tƣ thể hiện qua những chi
tiết gần gũi ấm áp tình ngƣời, những cảm xúc cùng sự quan tâm mà con
ngƣời dành cho nhau. Đấy là những chi tiết xoay quanh sự ra đời của chú
nghé con trong doanh trại của một đại đội, chi tiết về những giây phút hồi hộp
đầy thƣơng yêu của cô trò lớp mẫu giáo khi nhận đƣợc những bức thƣ từ tiền
tuyến, chi tiết về cảnh ngộ éo le trƣớc khi lên công trƣờng khai hoang của cô
Ngàn trong Đất rừng. Chất đời tƣ trong những tác phẩm này một mặt có tác
dụng điểm xuyết để câu chuyện thêm sinh động, mặt khác làm cho chất sử thi
trong truyện mang một nét mới không còn giống với đặc điểm sử thi truyền
thống. Riêng trong truyện Đất quê ta, cách nhìn cùng vấn đề mà tác giả đặt ra
hoàn toàn khác các tác phẩm vừa nêu. Qua câu chuyện về cô diễn viên điện
ảnh tên Hƣơng mải mê chạy theo những ảo ảnh phù hoa để rồi gia đình tan
vỡ, tác giả muốn đặt ra vấn đề về sự tha hóa trong nhân cách con ngƣời, sự