tóm tắt luận án khảo sát lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn nguyễn minh châu, nguyễn huy thiệp, nguyễn thị thu huệ - Pdf 22

Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Lời nói là khái niệm có ý nghĩa tiền đề, là đối tợng nghiên cứu trung tâm
của ngữ dụng học. Không nghiên cứu ngôn ngữ ở dạng tĩnh với những quy luật và
cấu trúc cứng nhắc, bất biến, ngữ dụng học chú trọng đến việc sử dụng ngôn ngữ
trong hoạt động giao tiếp, xem xét mối quan hệ giữa ngôn ngữ với những ngữ cảnh
và ngời dùng khác nhau. Hớng tiếp cận này cho phép ngữ dụng học có thể nhận ra
những dạng thức, quy luật hành chức sinh động và đa dạng của ngôn ngữ.
1.2. Khi giao tiếp, lời nói đợc tổ chức thành hai dạng: lời đối thoại và lời
ĐTNT. Lời đối thoại luôn thể hiện mối quan hệ tơng tác giữa một ngời nói và một
ngời nghe trực tiếp, hiện diện trực quan trong quá trình nói năng. Do vậy, nó là
nguồn t liệu quan trọng để ngữ dụng học tìm ra những nguyên tắc, đặc tính hành
chức của ngôn ngữ. Lời ĐTNT thờng diễn ra ngầm ẩn, không hớng đến ngời nghe
nào khác ngoài chính bản thân ngời nói. Nó là dạng lời thoại đợc ngời nói sử dụng
để giao tiếp với chính mình - một ngời nghe đặc biệt. Những tính chất này khiến
việc nghiên cứu lời ĐTNT từ lý thuyết hội thoại hầu nh còn bỏ trống. Một dạng sử
dụng ngôn ngữ để giao tiếp cha đợc tiếp cận đầy đủ, tức là ngời ta cha thể khám
phá hết tính đa dạng, những quy luật hành chức phổ quát và đặc thù của ngôn ngữ
trong đời sống.
1.3. Lời ĐTNT tồn tại khá phổ biến trong thực tế sử dụng ngôn ngữ để giao
tiếp của con ngời nhng nó chỉ hiện diện rõ ràng, cụ thể ở tác phẩm nghệ thuật với
hai thể loại chủ yếu là kịch và tiểu thuyết (truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn). Sự
tái hiện vào tác phẩm nghệ thuật tất yếu không thể đảm bảo tuyệt đối tính khách
quan, nguyên bản của dạng lời nói này nhng ở một mức độ nhất định, các tác giả
luôn phải tôn trọng các đặc tính bản chất, các nguyên tắc nảy sinh, hành chức của
nó. Vì thế, khi cha có điều kiện vật chất hoá lời ĐTNT ở đời sống thực, lời ĐTNT
trong tác phẩm nghệ thuật là một nguồn t liệu đủ tin cậy cho phép việc nghiên cứu
về nó có thể đạt đợc những kết quả cơ bản bớc đầu. Đồng thời, tìm hiểu dạng lời
nói này trong tác phẩm văn học cũng là tìm hiểu một cách thức tổ chức ngôn ngữ
nghệ thuật của nhà văn, góp phần định hình phong cách ngôn ngữ tác giả.
1.4. Sau 1975, văn học Việt Nam chuyển sang một thời kỳ phát triển mới,có

2.1.1. Những kết quả nghiên cứu độc thoại nội tâm ở ngoài nớc
Các nhà nghiên cứu nớc ngoài tập trung tìm hiểu lời ĐTNT nhân vật trên hai
vấn đề:
Vấn đề thứ nhất là xác định t cách tồn tại của ĐTNT trong tiểu thuyết và
truyện ngắn. Có thể khái quát sự nghiên cứu vấn đề này thành hai xu hớng cơ bản:
ĐTNT với t cách là một kỹ thuật, một thủ pháp của nhà văn trong xây dựng tác
phẩm và ĐTNT với t cách là một dạng lời thoại, đợc nhân vật sử dụng để thực hiện
sự giao tiếp.
Vấn đề thứ hai là việc xác định ĐTNT, phân biệt nó với khái niệm dòng ý
thức. Một số tác giả đã đồng nhất hai khái niệm này, tiêu biểu là Tamara Motilova.
Tuy nhiên, đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng: ĐTNT và dòng ý thức là hai
khái niệm phân biệt, mặc dù giữa chúng có mối quan hệ gần gũi với nhau.
2.1.2. Những kết quả nghiên cứu độc thoại nội tâm ở trong nớc
2
ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu chuyên biệt về ĐTNT có số lợng rất
hạn chế. Tuy nhiên, các tác giả nh: Đặng Anh Đào, Nguyễn Thái Hoà, Trần Đình
Sử đều có những sự chú trọng nhất định đến ĐTNT khi nói về sự đổi mới thi pháp
truyện và tiểu thuyết hiện đại. Bên cạnh việc chỉ ra vai trò của ĐTNT đối với thi
pháp truyện, các tác giả còn đa ra những nhận xét, phân tích về ngôi nhân xng của
ĐTNT (Đặng Anh Đào), về vai nói, vai nghe và những biểu hiện về bản chất hành
động của ĐTNT (Nguyễn Thái Hoà)
Nhiều nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã nghiên cứu về ĐTNT với t cách là một
dạng lời thoại của con ngời. Đỗ Hữu Châu cho rằng, quá trình trao lời diễn ra trong
ĐTNT nhờ vào sự phân đôi nhân cách: nhân cách nghe và nhân cách nói. Khi
nghiên cứu về các hình thức dẫn thoại, Mai Thị Hảo Yến đã chú ý đến các loại
hành động ngôn ngữ xuất hiện ở lời dẫn của ĐTNT
Kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trớc về ĐTNT là những gợi ý tiền đề
rất quan trọng cho luận án. Tuy nhiên, việc cha có một công trình nào nghiên cứu
về ĐTNT nh một đối tợng chuyên biệt, xem xét nó với t cách là một dạng lời thoại
đợc con ngời sử dụng để giao tiếp khiến cho ĐTNT vẫn cha thực sự bộc lộ hết

Tiến hành thực hiện đề tài Khảo sát lời độc thoại nội tâm nhân vật trong
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ, chúng
tôi xác định những đóng góp của luận án trên một số phơng diện sau đây:
Thứ nhất, luận án chủ yếu đi sâu tìm hiểu lời ĐTNT dới ánh sáng của lý
thuyết hội thoại và ngữ dụng học, nghiên cứu nó với t cách là một dạng lời thoại đ-
ợc con ngời sử dụng để giao tiếp.
Thứ hai, từ những kết quả nghiên cứu đạt đợc, luận án sẽ khẳng định thêm
một số vấn đề của lý thuyết hội thoại (vai trò của nhân tố ngời nghe, sự chi phối
của những nhân tố ngoài ngôn ngữ đến việc sử dụng ngôn ngữ, bản chất hành động
của lời nói), khẳng định mối quan hệ gắn bó giữa ngôn ngữ học và những ngành
khoa học liên cận nh văn hoá học, thi pháp học, lý luận văn học, xã hội học, tâm lý
học.
Thứ ba, những phơng diện quan trọng của tác phẩm văn học nh: nhân vật,
phong cách ngôn ngữ tác giả, thi pháp truyện sẽ đợc nhìn nhận từ đặc điểm hành
chức của lời ĐTNT - một hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ.
Cấu trúc luận án gồm 4 chơng:
Chơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chơng 2: Hành động ngôn ngữ của lời độc thoại nội tâm nhân vật trong
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu
Huệ
Chơng 3: Ngữ nghĩa lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ
Chơng 4: Vai trò đặc trng của lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ
4
Chơng 1
Cơ sở lý luận của đề tài
1.1. Một số khái niệm của lý thuyết hội thoại liên quan đến lời độc thoại
nội tâm
ĐTNT là một dạng thức tổ chức ngôn ngữ thành lời nói của con ngời để thực

5
đó, cho dù có sự xâm nhập của tác giả, những lời ĐTNT do nhân vật trực tiếp
thực hiện vẫn là đối tợng khảo sát của luận án.
1.2.3. Các dạng độc thoại nội tâm của nhân vật trong truyện ngắn
Trong truyện ngắn, ĐTNT của nhân vật tồn tại dới hai dạng: ĐTNT trực tiếp
và ĐTNT gián tiếp. Luận án chỉ tập trung tìm hiểu dạng ĐTNT trực tiếp.
1.3. Tiêu chí nhận diện lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ
Luận án đa ra 4 tiêu chí để xác định lời ĐTNT nhân vật trong truyện ngắn
NMC, NHT, NTTH: tiêu chí hình thức, tiêu chí cấu trúc, tiêu chí ngữ cảnh và tiêu
chí chủ thể.
1.4. Tiểu kết chơng 1
Xác định ĐTNT là một dạng lời thoại đợc con ngời sử dụng để thực hiện sự
giao tiếp, luận án đã đa ra và vận dụng một số khái niệm của lý thuyết hội thoại vào
việc xem xét sự hành chức của ĐTNT trong truyện ngắn. Khái niệm về cuộc thoại, lợt
lời, ngữ cảnh giao tiếp, vai nói, vai nghe vừa cho phép xác định và phân biệt giới hạn
của một lợt lời ĐTNT (còn gọi là một lời ĐTNT) vừa bớc đầu chỉ ra một số điểm đặc
thù của dạng lời nói ngầm ẩn này trên phơng diện giao tiếp.
Lời ĐTNT là một khái niệm mà sự ra đời cũng nh nội dung của nó gắn bó chặt
chẽ với hai khái niệm: độc thoại và dòng ý thức. Mặc dù vậy, ĐTNT không phải là
hiện tợng trung gian giữa độc thoại và dòng ý thức. Sự tồn tại của nó trong truyện
ngắn đóng vai trò quan trọng, có tính chất phổ biến khi ngời ta muốn phản ánh những
cảm xúc, nhận thức ngầm ẩn của nhân vật.
ĐTNT là một dạng lời thoại đợc con ngời sử dụng để thực hiện sự giao tiếp với
chính mình. Vì thế, khi nhận diện lời ĐTNT trong truyện ngắn, luận án đã dựa vào
một hệ thống tiêu chí chủ yếu gắn liền với những khái niệm quan trọng của lý thuyết
hội thoại và ngữ dụng học nh: hình thức dẫn thoại, từ xng hô, hành động ngôn ngữ,
ngữ cảnh Việc đáp ứng đầy đủ những tiêu chí này càng khẳng định t cách lời thoại
của ĐTNT.
6

2.2.3. Vai trò của động từ ngữ vi đối với việc thể hiện hành động ngôn ngữ
Trong đối thoại, động từ có những vai trò cụ thể nh: biểu đạt các hành động ở
lời tơng ứng, nhấn mạnh trách nhiệm thực thi hiệu lực hành động của ngời nói, thể
hiện một số sắc thái tình cảm, thái độ của ngời nói.
Trong ĐTNT, động từ ngữ vi ít khi đợc sử dụng trong cấu trúc nội tại của lời
mà thờng đứng ngoài, tạo thành lời văn miêu tả của tác giả để dẫn dắt, báo hiệu sự
xuất hiện của lời độc thoại. Đồng thời, chúng không có khả năng nhấn mạnh những
sắc thái ngữ dụng nh trong lời đối thoại.
2.3. Tiêu chí xác định loại hành động ngôn ngữ của lời độc thoại nội tâm
nhân vật
2.3.1. Căn cứ vào động từ ngữ vi xuất hiện trong lời độc thoại nội tâm
2.3.2. Căn cứ vào những phơng tiện thể hiện hành động
2.3.3. Căn cứ vào đích ở lời
Trong ba căn cứ xác định hành động ngôn ngữ của lời ĐTNT nhân vật nói
trên, tiêu chí đích ở lời là tiêu chí đóng vai trò quan trọng nhất.
2.4. Thống kê, miêu tả các hành động ngôn ngữ của lời độc thoại nội tâm
nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn
Thị Thu Huệ
2.4.1. Kết quả thống kê, phân loại
2.4.1.1. Kết quả thống kê về tần số xuất hiện lời ĐTNT
Nhân vật của NMC trò chuyện nội tâm nhiều nhất với tần số 0,358 lần/
trang. Nhân vật trong truyện ngắn NTTH có nhu cầu độc thoại ít hơn với tần số
xuất hiện 0, 339 lần/ trang. Nhân vật của NHT thực hiện ĐTNT ít nhất: 0,192 lần/
trang.
2.4.1.2. Kết quả thống kê về các hành động ngôn ngữ của lời ĐTNT
Bảng thống kê 2.2 đã liệt kê 40 loại hành động ngôn ngữ của lời ĐTNT với
số liệu cụ thể cho mỗi loại hành động. Ba nhóm hành động ngôn ngữ xuất hiện phổ
biến trong lời ĐTNT bao gồm: nhóm hành động nhận thức (tiêu biểu là hành động
hỏi, khẳng định); nhóm hành động biểu cảm (tiêu biểu là hành động chửi) và nhóm
8

Khác với lời đối thoại, việc lựa chọn hành động ngôn ngữ của lời ĐTNT chỉ
chịu sự chi phối của những đặc điểm nhân thân từ phía ngời nói, trong đó, ba
nhân tố có khả năng chi phối mạnh nhất là: mục đích và định hớng giao tiếp của
ngời nói, nhu cầu nhận thức của ngời nói, đặc điểm tính cách của ngời nói.
2.6. Tiểu kết chơng 2
Trong truyện ngắn NMC, NHT, NTTH, các nhân vật đã thực hiện 467 lời
ĐTNT, sử dụng nhiều loại hành động ngôn ngữ khác nhau. Các loại hành động
9
ngôn ngữ của lời ĐTNT có những đặc điểm riêng, hoàn toàn phân biệt với lời đối
thoại về khả năng xuất hiện các loại hành động, điều kiện sử dụng hành động cũng
nh các nhân tố chi phối việc lựa chọn hành động ngôn ngữ của nhân vật.
Nhân vật trong truyện ngắn từng tác giả cũng có những điểm khác nhau
trong việc sử dụng hành động ngôn ngữ. Sự khác nhau này thể hiện tập trung ở số l-
ợng, tỷ lệ xuất hiện của một số loại hành động cụ thể.
Chơng 3
Ngữ nghĩa lời độc thoại nội tâm Nhân vật
trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu,
Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ

3.1. Khái niệm ngữ nghĩa của lời
Tiến hành xác định ngữ nghĩa của một lời ĐTNT, chúng tôi xuất phát từ các
thành tố ý nghĩa của từ, từ đó xác định ý nghĩa tự thân (ý nghĩa miêu tả) của câu và
đa ý nghĩa tự thân này về những phạm vi hiện thực nhất định. Ngữ nghĩa lời ĐTNT
chính là những thông tin về sự vật, hiện tợng, con ngời trong đời sống hiện thực đợc
các yếu tố ngôn ngữ trong lời ĐTNT biểu đạt, phản ánh. Tuy nhiên, ngữ nghĩa luôn
10
đặt trong mối quan hệ với ngữ cảnh, với ngời sử dụng (chủ thể độc thoại) để thấy rõ
hơn những ý nghĩa ngữ dụng của lời. Vì thế, bên cạnh việc miêu tả các nhóm ngữ
nghĩa cơ bản, luận án còn chú ý đến các nhân tố chi phối ngữ nghĩa lời ĐTNT.
3.2. Các nhân tố chi phối ngữ nghĩa lời độc thoại nội tâm

Ngữ nghĩa lời ĐTNT đợc chia thành 5 nhóm:
- Suy nghĩ, nhận xét, đánh giá của chủ thể về bản thân
- Suy nghĩ, nhận xét, đánh giá của chủ thể về những ngời xung quanh
- Nhận thức của chủ thể về những sự vật, hiện tợng khách quan
- Phát biểu của chủ thể về những triết lý nhân sinh
11
- Nhận thức của chủ thể về tình yêu, hạnh phúc
3.3.2. Mô tả các nhóm ngữ nghĩa cụ thể trong lời ĐTNT
Các nhóm ngữ nghĩa cụ thể đợc chia thành các nhóm nhỏ để thấy rõ hơn biểu
hiện chi tiết của từng nhóm. Sự so sánh về tơng quan số lợng lời ĐTNT của từng
nhóm sẽ cho thấy xu hớng nhận thức hiện thực của chủ thể độc thoại, đồng thời
cũng chỉ ra một số điểm khác biệt giữa truyện ngắn ba tác giả trong khi phản ánh
đời sống.
3.3.3. Nhận xét
Thứ nhất, khi tiến hành ĐTNT, nhân vật chỉ chú trọng vào một số phạm vi
ngữ nghĩa nhất định. Cụ thể, nhân vật chủ yếu dùng lời độc thoại để tìm hiểu, đánh
giá, nhận thức về những ngời xung quanh, về bản thân mình và về những sự vật,
hiện tợng khách quan. Đây là ba nhóm ngữ nghĩa chiếm số lợng lời xuất hiện rất
lớn: 398/467 lời.
Thứ hai, nhìn một cách tổng thể, những vấn đề của con ngời và cuộc sống của
con ngời luôn là mối quan tâm lớn của nhân vật khi ĐTNT.
Thứ ba, bảng thống kê cũng cho thấy, nhân vật trong truyện ngắn mỗi tác giả
có sự lựa chọn không giống nhau với cùng một nhóm ngữ nghĩa nh nhau.
3.4. Tiểu kết
Ngữ nghĩa là phơng diện quan trọng nhất của lời thoại nói chung và lời
ĐTNT nói riêng. Các nhân tố chi phối ngữ nghĩa cũng nh các nhóm ngữ nghĩa lời
ĐTNT luôn có những điểm riêng biệt, khác với lời đối thoại. Cùng với những đặc
điểm về sử dụng hành động ngôn ngữ, ngữ nghĩa của lời sẽ cung cấp những thông
tin cơ sở cho phép nhận diện vai trò của ĐTNT trong truyện ngắn.
12

4.4. Vai trò khắc hoạ phong cách ngôn ngữ tác giả của lời độc thoại nội
tâm
Vai trò khắc hoạ phong cách ngôn ngữ tác giả của lời ĐTNT thể hiện rõ rệt
trên một số phơng diện: số lợng và ngữ nghĩa lời ĐTNT góp phần thể hiện giọng
13
điệu nghệ thuật của tác giả; việc sử dụng hành động ngôn ngữ của lời tạo ra tốc độ
trần thuật trong ngôn ngữ kể chuyện.
4.5. Vai trò thể hiện sự đổi mới thi pháp truyện ngắn của lời độc thoại nội
tâm
Sự hiện diện và tổ chức lời ĐTNT nhân vật trong truyện ngắn có những ý
nghĩa nhất định đối với thi pháp truyện:
- Lời ĐTNT góp phần liên kết hệ thống sự kiện trong truyện ngắn.
- Lời ĐTNT có khả năng thay đổi thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn
- Lời ĐTNT thể hiện sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con ngời của tác
giả
- Lời ĐTNT tạo nên tính đa thanh, phức điệu cho ngôn ngữ truyện ngắn
4.6. Tiểu kết chơng 4
Từ những kết quả miêu tả, phân tích về hành động ngôn ngữ, ngữ nghĩa của
lời, trong chơng 4, luận án đã chỉ ra vai trò đặc trng của lời ĐTNT đối với những
phơng diện cơ bản nhất của tác phẩm nghệ thuật: nhân vật, nội dung tác phẩm,
phong cách ngôn ngữ tác giả và thi pháp của truyện.
Kết luận
ĐTNT là dạng lời nói đợc con ngời sử dụng nhiều trong hoạt động giao tiếp,
nhng lý thuyết hội thoại và ngữ dụng học cha thực sự chú trọng đến sự hành chức
của nó. Luận án này đã đi sâu nghiên cứu ĐTNT nh một đối tợng chuyên biệt, ứng
dụng những tiền đề lý luận của lý thuyết hội thoại và ngữ dụng học để nhìn nhận
những đặc điểm hành chức của ĐTNT. Việc khảo sát và nghiên cứu 467 lời ĐTNT
nhân vật trong truyện ngắn NMC, NHT, NTTH trên những phơng diện cơ bản của
lời thoại sẽ xác định những tính chất phổ quát và đặc thù của ĐTNT trong quan hệ
so sánh với lời đối thoại, đồng thời cũng cho phép nhận diện vai trò đặc trng của

động ngôn ngữ và ngữ nghĩa cho phép khẳng định, trong truyện ngắn NMC, NHT,
NTTH, ĐTNT đợc tổ chức với những đặc điểm, chức năng tiêu biểu của lời thoại
trong giao tiếp.
Tính đối thoại của lời ĐTNT cho phép khẳng định, ĐTNT chính là hình thức
đối thoại ngầm của nhân vật với ngữ cảnh và với chính bản thân chủ thể độc thoại.
Giữa lời ĐTNT với ngữ cảnh luôn có mối tơng tác chặt chẽ. Là hình thức giao tiếp
hớng nội nhng ĐTNT không phải là dạng lời nói đơn phơng, biệt lập hoàn toàn với
đời sống hiện thực quanh nó. Đây là đặc tính nổi bật của lời ĐTNT, khiến cho dạng
lời nói này, khi đợc sử dụng trong tác phẩm văn học, thờng tạo nên khả năng vận
động rất linh hoạt cho hệ thống sự kiện và thể hiện tâm lý nhân vật có chiều sâu.
Lập luận trong lời ĐTNT có những đặc điểm riêng, khác với lời đối thoại.
Với những đặc thù trong thể hiện kết luận, luận cứ, trong cách thức tổ chức, lập
luận trở nên ngắn gọn về hình thức, rõ ràng, minh xác về nội dung, phù hợp với
mục đích định hớng nhận thức và hành động của nhân vật trong từng tình huống
15
giao tiếp cụ thể. Cùng với nội dung lập luận, việc tổ chức lập luận trong ĐTNT giúp
ngời đọc nhận diện chính xác bản chất và tính cách nhân vật.
Trong lời ĐTNT, nhân vật nam và nhân vật nữ có những xu hớng lựa chọn,
xử lý lời nói rất khác nhau, bộc lộ màu sắc giới tính đặc trng cho mỗi giới. Lời
ĐTNT các nhân vật nam thờng ngắn gọn, dứt khoát, giàu tính lý trí, hớng tới mục
đích hành động, còn lời ĐTNT các nhân vật nữ thiên về sự nhẹ nhàng, uyển
chuyển, hay dùng các từ, cụm từ biểu thị khả năng, cách diễn đạt dài, phức tạp
phù hợp với nhu cầu giãi bày tình cảm, phân tích chi tiết về hiện thực của ngời nói.
Từ sự phân biệt về sắc thái giới tính, ngời ta thấy đợc sự phân biệt giữa nhân vật
nam và nhân vật nữ trong cách ứng xử với hiện thực một phơng diện nội dung
của tác phẩm văn học.
Với ba đặc điểm hành chức nói trên, lời ĐTNT cho thấy, nó là một phơng
tiện ngôn ngữ có khả năng bộc lộ chính xác, chân thực tâm lý, tính cách nhân vật
và đóng một vai trò quan trọng trong việc tổ chức các phơng diện nội tại của tác
phẩm văn học.

theo xu hớng này.

17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status