khảo sát lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn nguyễn minh châu, nguyễn huy thiệp, nguyễn thị thu huệ - Pdf 22


1
MỤC LỤC

Trang
MỞ ðẦU 6

1. Lý do chọn ñề tài 6

2. Lịch sử vấn ñề 7

3. ðối tượng nghiên cứu và nguồn dẫn liệu 16

4. Nhiệm vụ nghiên cứu 16

5. Phương pháp nghiên cứu 17

6. ðóng góp của ñề tài 18

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ðỀ TÀI 20

1.1. Một số khái niệm của lý thuyết hội thoại liên quan ñến lời ñộc thoại nội tâm 20

1.2. ðộc thoại nội tâm trong truyện ngắn 24

1.3. Tiêu chí nhận diện lời ñộc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ

39

1.4. Tiểu kết chương 1 58

2
thoại nội tâm 97

2.6. Tiểu kết chương 2 108

Chương 3: NGỮ NGHĨA LỜI ðỘC THOẠI NỘI TÂM NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU, NGUYỄN HUY
THIỆP, NGUYỄN THỊ THU HUỆ

110

3.1. Khái niệm ngữ nghĩa của lời 110

3.2. Các nhân tố chi phối ngữ nghĩa lời ñộc thoại nội tâm 113

3.3. Các nhóm ngữ nghĩa của lời ñộc thoại nội tâm 132

3.4. Tiểu kết chương 3 158

Chương 4: VAI TRÒ CỦA LỜI ðỘC THOẠI NỘI TÂM TRONG
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU, NGUYỄN HUY THIỆP,
NGUYỄN THỊ THU HUỆ 160

4.1. Vai trò biểu hiện tâm lý và tính cách nhân vật trong tính ñối thoại của
lời ñộc thoại nội tâm

160

75

Bảng 2.3. Các hành ñộng ngôn ngữ tiêu biểu trong lời ñộc thoại nội tâm 98

Bảng 2.4. So sánh tương quan số lượng giữa hành ñộng hỏi và hành ñộng
khẳng ñịnh trong lời ñộc thoại nội tâm của nhân vật

107

Bảng 3.1. Không gian ñộc thoại 116

Bảng 3.1.a. Các không gian công cộng phổ biến 119

Bảng 3.1.b. Các nội dung ñộc thoại trong không gian gia ñình 121

Bảng 3.1.c. Các không gian gia ñình phổ biến 122

Bảng 3.2. Thời gian ñộc thoại 123

Bảng 3.3. Trạng thái tâm lý chủ thể khi ñộc thoại nội tâm 128

Bảng 3.3.a. Các loại trạng thái tâm lý dương tính 128

Bảng 3.3.b. Các loại trạng thái tâm lý âm tính 130

Bảng 3. 4. Các nhóm ngữ nghĩa của lời ñộc thoại nội tâm 134

Bảng 3.4.a. Các phương diện tìm hiểu về bản thân của chủ thể ñộc thoại 135

Bảng 3.4.b. Các mối quan hệ giữa chủ thể ñộc thoại với những người xung


186

Bảng 4.6. Các từ, cụm từ biểu thị cách diễn ñạt khẳng ñịnh/ phủ ñịnh trong
lời ñộc thoại nội tâm các nhân vật nam của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn
Huy Thiệp 187
5

BẢNG CHÚ THÍCH VIẾT TẮT
TT

Nội dung viết tắt Ký hiệu viết tắt
1 ðộc thoại nội tâm ðTNT
2 Nguyễn Minh Châu NMC
3 Nguyễn Huy Thiệp NHT
4 Nguyễn Thị Thu Huệ NTTH

6
MỞ ðẦU
1. Lý do chọn ñề tài
1.1. Lời nói là khái niệm có ý nghĩa tiền ñề, là ñối tượng nghiên cứu trung

lại trong thời bình. Trong sự ñổi mới ñó, thể loại truyện ngắn ñã ñạt ñược nhiều
thành quả nhất.
Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn tiên phong của tiến trình ñổi
mới văn học. Truyện ngắn của ông, ngay từ những năm ñầu của thập niên 80 (thế kỷ
20), ñã bộc lộ rõ khát vọng khám phá ñời sống nội tâm con người trong thời ñại
mới, ñặc biệt là người lính trở về sau chiến tranh. Lời ðTNT nhân vật là một
phương tiện ngôn ngữ ñược ông sử dụng rất hiệu quả ñể phản ánh phạm vi hiện
thực này, góp phần tạo nên dấu ấn phong cách ñộc ñáo của tác giả.
So với Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Thị Thu Huệ là
những nhà văn thuộc về thế hệ sau. Trong những năm 90 (thế kỷ 20), ñây là hai tác
giả truyện ngắn nổi tiếng. Ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp rất sắc sảo, thể
hiện nổi bật trong lời thoại nhân vật. Ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
giàu nữ tính, phù hợp với việc tái hiện cuộc sống tâm hồn, tình cảm của các nhân
vật nữ. Khảo sát lời ðTNT nhân vật trong truyện ngắn của họ sẽ cho phép sự
nghiên cứu về dạng lời nói này trở nên toàn diện, ñầy ñủ hơn.
Từ những vấn ñề lý luận và thực tiễn ñặt ra nói trên, chúng tôi lựa chọn
ñề tài: Khảo sát lời ñộc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ.
2. Lịch sử vấn ñề
2.1. Những kết quả nghiên cứu có tính chất tiền ñề về ñộc thoại nội tâm
(monologue intérieur)
Mặc dù ñộc thoại xuất hiện từ khá sớm (gắn liền với sự ra ñời của kịch - một
loại hình nghệ thuật sân khấu) nhưng ðTNT chỉ bắt ñầu ñược chú ý vào những năm
cuối thế kỷ 18 và thực sự ñược tập trung nghiên cứu từ ñầu thế kỷ 20. Những tiểu
thuyết phương Tây hiện ñại như: Ulysse (James Joyce); ði tìm thời gian ñã mất (M.
Proust); Thời gian khổ (Dickens) ñã sử dụng ðTNT với tư cách là một “phương

8
tiện” ñã tới kịp vừa may ñể diễn ñạt căn bệnh mới của thế kỷ trong tiểu thuyết mới
[25, tr.69]. Sự xuất hiện của ðTNT một cách dày ñặc và mới lạ trong tiểu thuyết

là “tất nhiên” thì ñều không ñược thể hiện bằng lời nói [51, tr.18]. Từ ñó, dẫn ñến
một thực tế thường gặp trong ñối thoại là ở những tình huống khá quen thuộc thì
những cái ñược coi là ñã biết sẽ ñược bỏ qua, không ñược người nói và người nghe
ñưa vào trong phát ngôn của mình. ðiều ñặc biệt là tác giả Kasevich cho rằng: quá
trình “ép nén” các phương tiện ngôn ngữ như thế lại càng hiển nhiên hơn trong
trường hợp các ñộc thoại tưởng tượng, hoặc “ñộc thoại cho mình”, tức là khi
không cần phải lo lắng ñể ñạt ñược sự lĩnh hội từ phía người ñối thoại [51, tr.18].
Như vậy, ông ñã khẳng ñịnh: cả lời ñối thoại và lời ñộc thoại ñều có thể có những
ñặc ñiểm hành chức giống nhau ñể tiến hành giao tiếp có hiệu quả. Không chỉ thừa
nhận sự tồn tại của ðTNT, Kasevich còn chỉ ra một trong những quy luật quan
trọng của nó: ðTNT là dạng lời nói không chịu sự chi phối từ một người nghe phân
biệt như ñối thoại. Xem xét ðTNT trong mối quan hệ với người nghe, Kasevich ñã
khẳng ñịnh ðTNT là một dạng lời thoại ñược con người sử dụng ñể giao tiếp.
Vấn ñề thứ hai mà các nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm khi tìm hiểu về
ðTNT trong tiểu thuyết là xác ñịnh ðTNT, phân biệt nó với khái niệm dòng ý thức.
Hai khái niệm này có mối quan hệ gần gũi với nhau, ranh giới giữa chúng trong tiểu
thuyết nhiều khi khó phân biệt. Tác giả Tamara Motilova trong bài ðộc thoại nội
tâm và dòng tâm tư ñã ñồng nhất hai khái niệm và cho rằng:
Nó xuất hiện như diễn từ không biểu ñạt thành lời của các nhân vật hoặc như diễn
từ của tác giả, nhân danh mình mà nói, nhưng có thể coi như ñã mượn từ vựng và
giọng ñiệu của nhân vật; hoặc như ñối thoại bên trong, ở ñó, giọng nói của nhân
vật bị xẻ làm ñôi thành hai giọng phân biệt và ñối nghịch; nó xuất hiện dưới hình
thức một chuỗi kết luận có tổ chức cũng như qua những ý kiến mơ hồ và hỗn loạn
[dẫn theo 25, tr. 69-70].
Theo quan niệm trên, tác giả Motilova ñã chỉ ra những hình thức tồn tại của
ðTNT. Thứ nhất, ñó là dạng ðTNT có sự lai ghép, vay mượn giữa ngôn ngữ nhà
văn và ngôn ngữ nhân vật. Thứ hai, ñó là những lời ñối thoại bên trong của nội tâm
nhân vật. Thứ ba, ñó là những ý kiến mơ hồ và hỗn loạn. Hình thức cuối cùng

10

11
Hiện nay, ña số các nhà nghiên cứu ở nước ngoài ñều xem ðTNT là một
khái niệm phân biệt với ñộc thoại của kịch và với dòng ý thức, mặc dù giữa chúng
có những mối quan hệ, những ñiểm giống nhau nhất ñịnh. ðây chính là tiền ñề lý
thuyết quan trọng nhất ñể chúng tôi triển khai sự nghiên cứu về lời ðTNT nhân vật
trong tác phẩm văn học.
2.1.2. Những kết quả nghiên cứu về ñộc thoại nội tâm ở trong nước
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu chuyên biệt về ðTNT có số lượng rất
hạn chế. Tuy nhiên, các tác giả như: ðặng Anh ðào, Nguyễn Thái Hoà, Trần ðình
Sử ñều có những sự chú trọng nhất ñịnh ñến ðTNT khi nói về sự ñổi mới thi pháp
truyện và tiểu thuyết hiện ñại.
Tác giả ðặng Anh ðào trong ðổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây
hiện ñại ñã dành hẳn mục VII, phần I với hơn 16 trang ñể nói về ðTNT và dòng
tâm tư, chỉ ra sự khác nhau giữa chúng với ñộc thoại. Không ñi vào phân biệt hai
khái niệm ðTNT và dòng tâm tư (dòng ý thức), nhưng tác giả ðặng Anh ðào ñã
phân tích và nêu lên những ñặc ñiểm quan trọng của ðTNT. Khi phân biệt ñộc thoại
và ðTNT, bà khẳng ñịnh: “ðộc thoại ñược nói ñến ở kịch, ñôi khi trong tiểu thuyết,
trong khi khái niệm ðTNT chỉ dùng trong tiểu thuyết” [25, tr.74]. Giữa hai khái
niệm này có những ñiểm giống nhau: chúng ñều là sự tái hiện những ý nghĩ của
nhân vật, ñều có tính chất hướng nội. ðiểm phân biệt mà tác giả ðặng Anh ðào chỉ
ra ñó là: ñộc thoại gắn liền với hành ñộng hơn, thiên về hành ñộng hơn so với
ðTNT. Còn ðTNT vào dòng tâm tư thì thường có tính chất kìm hãm hành ñộng,
thiên về xu thế miêu tả hơn là tự sự rõ nét hơn. Thế giới bên trong là ñối tượng miêu
tả chủ yếu của ðTNT [25, tr.74].
Chú trọng ñến việc nhận diện ðTNT trong hệ thống ngôn từ của tác phẩm
văn học, tác giả của ðổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện ñại ñã ñưa ra
những luận ñiểm cụ thể. Bà xác ñịnh, ðTNT thuộc phạm vi ngôn từ của nhân vật,
tất nhiên, cũng không thể ñối lập hoàn toàn nó với ngôn từ người kể chuyện, nhất là
trong những trường hợp người kể chuyện ở ngôi thứ nhất hoặc nhường lời cho nhân
vật. “ðiều kiện ñể loại câu nửa trực tiếp này trở thành ðTNT hoặc dòng tâm tư là:

số tình huống ñối thoại nhất ñịnh còn truyện kể tâm tư (psycho-narration) là dòng
chảy triền miên của ý thức, là giọng chủ ñạo của lời kể.

13
Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam cũng ñã ñưa ra những nhận xét, kiến giải
bước ñầu về ðTNT. Bản chất giao tiếp của ðTNT ñược khẳng ñịnh rõ ràng với luận
ñiểm của tác giả ðỗ Hữu Châu trong giáo trình ðại cương ngôn ngữ học, tập 2,
Ngữ dụng học. Nói ñến sự trao lời của vận ñộng hội thoại, ông phân tích cả ở lời ñối
thoại và lời ðTNT. Sự trao lời trong ñối thoại diễn ra giữa Sp1 (vai nói) và Sp2 (vai
nghe) - là hai người khác nhau. Còn ở những trường hợp ñộc thoại, ñộc thoại không
phải ñơn thoại và là ñộc thoại ñời thường không phải trên sân khấu, thì người nói
chỉ là một nhưng sự trao lời vẫn diễn ra nhờ vào sự phân ñôi nhân cách: nhân cách
nghe và nhân cách nói [15, tr.206]. Ví dụ ông dẫn ñể phân tích là ðTNT của nhân
vật Hàn trong truyện ngắn Một truyện xuvơnia (Nam Cao): Hắn tự bảo: “Cuốn tiểu
thuyết của ñời ta bắt ñầu…” Ở thời ñiểm ñộc thoại, Hàn nghe và Hàn nói có sự
khác biệt nhất ñịnh. Với quan ñiểm của tác giả ðỗ Hữu Châu, những nhân tố cơ bản
của quá trình giao tiếp: vai nói, vai nghe ñược xác ñịnh cả trong lời ðTNT.
Một số luận văn, luận án như: Cấu trúc ñộc thoại trong ngôn ngữ kể chuyện
của Nam Cao (Lưu Thị Oanh); Hội thoại trong truyện ngắn Nam Cao (Các hình
thức thoại dẫn) (Mai Thị Hảo Yến); Khảo sát các hình thức dẫn thoại (trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp) (Nguyễn Thị Thanh Huyền), dù nghiên cứu các ñối tượng
thuộc những phạm vi khảo sát khác nhau nhưng ñều có một phần nội dung ñề cập
ñến ðTNT với tư cách là một dạng lời thoại thực sự của nhân vật. Xuất phát từ
quan ñiểm: “ðTNT là dòng suy nghĩ của con người thể hiện những tâm tư, tình
cảm, trạng thái tâm lý thầm kín, không phát ra thành lời”, Lưu Thị Oanh gọi tất cả
những ñoạn văn có sự xuất hiện của suy nghĩ bên trong của nhân vật là những ñoạn
ðTNT. Trong ñó có thể là những phát ngôn thực sự mà nhân vật trực tiếp nói ra,
cũng có thể là những ñoạn văn xen lẫn lời ñộc thoại với lời dẫn chuyện… Luận văn
này xem xét những ñoạn văn ðTNT - một phần trích bất kỳ trong văn bản phản ánh
dòng suy nghĩ chảy âm thầm trong óc con người. Từ ñó, ðTNT ñược phân tích trên

ðTNT. Những kết quả này giúp chúng tôi có ñược cái nhìn khái quát, tổng hợp ñể
từ ñó xác ñịnh hướng nghiên cứu cụ thể của luận án.
2.2. Hướng nghiên cứu ñộc thoại nội tâm của luận án

15
Các công trình nghiên cứu về ðTNT ở trong nước và ngoài nước ñều tiến
hành trên tư liệu là các tiểu thuyết và truyện ngắn. ðiều này cho thấy, dù ðTNT tồn
tại tự nhiên trong ñời sống con người nhưng nó chỉ thể hiện trực quan, xác thực
trong tác phẩm văn học. Sự ảnh hưởng, chi phối của ngôn ngữ và ý thức nhà văn
ñến ðTNT nói riêng và ngôn ngữ tác phẩm nói chung là không thể phủ nhận, song
về cơ bản, khi ñề cập ñến ðTNT, các nhà nghiên cứu ñều xem nó là phạm trù thuộc
về ngôn ngữ nói năng của nhân vật, có sự ñộc lập nhất ñịnh với ngôn ngữ nhà văn
hoặc ngôn ngữ người kể chuyện. Từ ñó, ðTNT ñã ñược xem xét như một dạng lời
nói trực tiếp, ñược nhân vật sử dụng ñể thể hiện các mối quan hệ giao tiếp của nó
với các nhân vật khác.
Mối quan hệ giữa ðTNT với dòng ý thức là một vấn ñề phức tạp làm nảy
sinh nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí ñối lập nhau. ða số các nhà nghiên cứu xác
ñịnh, ðTNT và dòng ý thức có những ñiểm giống nhau nhưng vẫn là hai khái niệm
phân biệt, có những ñặc ñiểm khác nhau về cấu trúc, tổ chức ngôn ngữ, nội dung…
ðTNT ñược tổ chức dưới dạng một lời thoại, gắn với một ý thức giao tiếp, mục
ñích giao tiếp rõ ràng, cụ thể của nhân vật còn dòng ý thức là sự tuôn chảy miên
man, vô ñịnh những suy nghĩ bên trong, khi nhân vật gần như rơi vào trạng thái vô
thức.
ðặc biệt, những ý kiến, nhận xét của một số nhà nghiên cứu trong nước như
ðặng Anh ðào, Nguyễn Thái Hoà, ðỗ Hữu Châu ñã xem xét ðTNT trên các
phương diện như hành ñộng ngôn ngữ, vai nói, vai nghe… cho phép khẳng ñịnh:
ðTNT cũng là một dạng lời thoại, một hình thức sử dụng ngôn ngữ ñể giao tiếp của
con người. Bởi vậy, hoàn toàn có thể nghiên cứu nó dưới ánh sáng của lý thuyết hội
thoại, từ góc ñộ ngữ dụng học. Luận án tiến sỹ của Mai Thị Hảo Yến ñã chỉ ra khá
nhiều loại hành ñộng ngôn ngữ ñược sử dụng trong lời ðTNT nhân vật và việc nhận

ðề tài giới hạn phạm vi khảo sát ở truyện ngắn Việt Nam ñương ñại, giai
ñoạn những năm 80 - 90 của thế kỷ 20. Chúng tôi triển khai ñề tài trên nguồn dẫn
liệu là truyện ngắn NMC, NHT, NTTH, chú trọng ñến lời thoại nhân vật trong hoạt
ñộng giao tiếp, mà cụ thể là lời ðTNT, ñược nhân vật thực hiện trong những tình
huống và ngữ cảnh khác nhau của ñời sống. Trong truyện ngắn ba tác giả, chúng tôi

17
ñã thống kê ñược 467 ngữ cảnh có chứa lời ðTNT của nhân vật. Dựa trên số lượng
này, chúng tôi ñi vào miêu tả ñặc ñiểm ý nghĩa, sự hành chức cũng như vai trò của
lời ðTNT nhân vật trong truyện ngắn.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là:
- Nhận diện, xác ñịnh lời ðTNT nhân vật trong truyện ngắn của NMC, NHT,
NTTH.
- Thống kê, miêu tả các hành ñộng ngôn ngữ trong lời ðTNT nhân vật và các
nhân tố chi phối việc lựa chọn hành ñộng ngôn ngữ khi nhân vật ðTNT.
- Miêu tả các nhóm ngữ nghĩa của lời ðTNT và chỉ ra các nhân tố chi phối
ngữ nghĩa của lời.
- Khái quát những ñặc ñiểm nổi bật của lời ðTNT trong truyện ngắn NMC,
NHT, NTTH, cũng như chỉ ra vai trò của chúng ñối với lý thuyết hội thoại nói
chung, vai trò quan trọng của lời ðTNT ñối với việc thể hiện những phương diện cơ
bản của tác phẩm văn học như: nhân vật, phong cách ngôn ngữ của nhà văn, nội
dung tác phẩm và thi pháp truyện.
5. Phương pháp nghiên cứu
ðể thực hiện ñề tài này, luận án sử dụng phối hợp một số phương pháp
nghiên cứu sau ñây:
5.1. Phương pháp thống kê - phân loại - miêu tả
Luận án thống kê số lượng lời ðTNT trong truyện ngắn từng tác giả. Trên
nguồn tư liệu này, chúng tôi tiến hành phân loại lời ðTNT dựa trên những cơ sở,
tiêu chí cụ thể: tần số xuất hiện của lời, các loại hành ñộng ngôn ngữ, các nhóm ngữ

dừng lại ở việc chỉ ra ngữ nghĩa từng lời ðTNT riêng lẻ, rời rạc mà sẽ quy nghĩa ñó
về những phạm vi hiện thực khái quát hơn.
5.4. Phương pháp phân tích - tổng hợp
Cùng với các phương pháp trên, ñề tài sử dụng ñồng thời phương pháp phân
tích lý giải các biểu hiện của những hành ñộng nói cụ thể trong lời ðTNT nhân vật,
giải thích vì sao nhân vật lại thường sử dụng các nhóm hành ñộng ñiển hình, vai trò

19
của việc sử dụng chúng trong mối quan hệ với chủ ñích sáng tạo của nhà văn. Qua
ñó, ñề tài ñi ñến khái quát, tổng hợp một số ñặc tính nổi bật của lời ðTNT trong
truyện ngắn NMC, NHT, NTTH, chỉ ra những ñóng góp trong việc sử dụng phương
tiện ngôn ngữ - lời ðTNT - của ba nhà văn ñối với truyện ngắn Việt Nam những
năm 80 - 90 (thế kỷ 20).
6. ðóng góp của ñề tài
Tiến hành thực hiện ñề tài Khảo sát lời ñộc thoại nội tâm nhân vật trong
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ, chúng
tôi xác ñịnh những ñóng góp của luận án trên một số phương diện sau ñây:
Thứ nhất, luận án chủ yếu ñi sâu tìm hiểu lời ðTNT dưới ánh sáng của lý
thuyết hội thoại và ngữ dụng học, nghiên cứu nó với tư cách là một dạng lời thoại
ñược con người sử dụng ñể giao tiếp. Do ñó, lời ðTNT sẽ ñược xem xét trên những
phương diện quan trọng nhất của lời nói: việc sử dụng hành ñộng ngôn ngữ và ngữ
nghĩa. Những nhận xét, ñánh giá về hai phương diện này sẽ cho thấy những quy luật
hành chức ñặc thù của lời ðTNT.
Thứ hai, từ những kết quả nghiên cứu ñạt ñược, luận án sẽ khẳng ñịnh thêm
một số vấn ñề của lý thuyết hội thoại: vai trò của nhân tố người nghe, sự chi phối
của những nhân tố ngoài ngôn ngữ ñến việc sử dụng ngôn ngữ, bản chất hành ñộng
của lời nói… ðồng thời, mối quan hệ gắn bó giữa ngôn ngữ học và những khoa học
liên ngành như văn hoá học, thi pháp học, lý luận văn học, xã hội học, tâm lý học
cũng ñược thể hiện sáng rõ hơn.
Thứ ba, những phương diện quan trọng của tác phẩm văn học như: nhân vật,

1.1. Một số khái niệm của lý thuyết hội thoại liên quan ñến lời ñộc thoại
nội tâm
ðTNT là một dạng thức tổ chức ngôn ngữ thành lời nói của con người ñể
thực hiện sự giao tiếp. Do vậy, ðTNT vẫn có mối quan hệ chặt chẽ với những khái
niệm cơ bản của lý thuyết hội thoại. Việc phân tích các khái niệm: cuộc thoại, lượt
lời, ngữ cảnh giao tiếp, vai nói và vai nghe sẽ tạo nên tiền ñề lý luận làm sáng rõ
những ñặc ñiểm hành chức của lời ðTNT.

21
1.1.1. Cuộc thoại, lượt lời
1.1.1.1. Cuộc thoại
Cuộc thoại là khái niệm cơ bản của lý thuyết hội thoại vì nó bao gồm tất cả
các nhân tố của quá trình giao tiếp như: người nói, người nghe, lời thoại, ngữ
cảnh… Theo tác giả ðỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán thì “cho ñến nay việc ñịnh
ranh giới cuộc thoại chưa có gì là thực dứt khoát với những tiêu chí ñủ tin cậy. Tuy
nhiên, các cuộc thoại là có thật và yêu cầu nghiên cứu buộc người nghiên cứu phải
quyết ñịnh một sự phân chia nào ñó ít nhiều võ ñoán” [17, tr.299]. Hai tác giả này
ñã ñưa ra những tiêu chuẩn cần và ñủ ñể có một cuộc thoại:
“ðể có một và chỉ một cuộc thoại, ñiều kiện cần và ñủ là có một nhóm nhân vật có
thể thay ñổi nhưng không ñứt quãng trong một khung thời gian – không gian có thể
thay ñổi nhưng không ñứt quãng nói về một vấn ñề có thể thay ñổi nhưng không
ñứt quãng”[17, tr.298]
Từ ñiển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học ñịnh nghĩa cuộc thoại như sau:
“ðơn vị hội thoại lớn nhất, bao trùm nhất ñược xác ñịnh theo các tiêu chí về:
- Nhân vật hội thoại.
- Thời gian và ñịa ñiểm hội thoại.
- Chủ ñề hội thoại.
- Các dấu hiệu ñịnh ranh giới như: mở ñầu, kết thúc” [117, tr.64-65].
ðối với các cuộc ðTNT, các tiêu chí như: nhân vật, thời gian, ñịa ñiểm và
chủ ñề luôn ñược xác ñịnh một cách rõ ràng, cụ thể. Nhưng là dạng giao tiếp chỉ có

của người vợ trong truyện ngắn Trẻ con không ñược ăn thịt chó của Nam Cao rất
tiêu biểu cho cách thức này: “Sao lại có sự long trọng ấy? (…) À, thôi phải… có lẽ
hôm nay là giỗ của ông nào, bà nào ñây, (…) Hăm nhăm tháng chín…không, mà
không phải… Giỗ chạp gì hôm nay?” [I, tr.142]. Cách thứ hai là chủ thể ñộc thoại
tự phân thân thành hai con người hoàn toàn khác nhau, sử dụng những cặp ñại từ
nhân xưng tương ứng ñể ñối ñáp: “… Bây giờ anh nói với tôi một ñiều gì ñi, khuyên
tôi một nhời ñi!” “Không.” “Tôi có phải cút khỏi ñây không?” “Không. Anh cứ
ñến ñây. Tôi cắt cho anh kỹ lắm, anh biết ñấy!” [III, tr.109]. Mỗi lời trao hoặc lời
ñáp trong những cuộc ñối thoại nội tâm như vậy ñều ñược chúng tôi xem xét với tư
cách như một lượt lời ðTNT thông thường.

23
Khái niệm về cuộc thoại và lượt lời của lý thuyết hội thoại là cơ sở quan
trọng ñể chúng tôi có ñược sự nhận diện chính xác ñơn vị tính cho ñối tượng nghiên
cứu: một lượt lời ðTNT ñược gọi là một lời ðTNT và một cuộc ñộc thoại có thể có
nhiều lời ðTNT (như ở hai ví dụ nêu trên).
1.1.2. Ngữ cảnh giao tiếp, vai nói và vai nghe
1.1.2.1. Ngữ cảnh giao tiếp
Khái niệm ngữ cảnh giao tiếp có rất nhiều cách hiểu khác nhau.
Tác giả ðỗ Hữu Châu cho rằng: “Ngữ cảnh là những nhân tố có mặt trong
một cuộc giao tiếp nhưng nằm ngoài diễn ngôn” [15, tr.15]. Theo cách hiểu này,
ngữ cảnh sẽ bao gồm những nhân tố chi phối ñến diễn ngôn trong cuộc giao tiếp cả
về hình thức và nội dung. Do ñó, ngữ cảnh sẽ là một tổng thể nhiều hợp phần khác
nhau về nhân vật giao tiếp và hiện thực ngoài diễn ngôn, tức là tất cả những yếu tố
như vai nói, vai nghe, không gian, thời gian, mối quan hệ và hiểu biết hiện thực của
vai nói, vai nghe… ðây là cách hiểu khá rộng về ngữ cảnh.
Trong giáo trình Từ vựng học tiếng Việt, tác giả Nguyễn Thiện Giáp chỉ ra sự
phân biệt giữa ngữ cảnh và hoàn cảnh nói năng. “Ngữ cảnh là những từ bao quanh
hay ñi kèm theo một từ, tạo cho nó tính xác ñịnh về nghĩa. Hoàn cảnh nói năng là
cái tình huống, cái bối cảnh phi ngôn ngữ mà từ xuất hiện: ai nói, nói bao giờ, nói

toàn phân biệt với ñối thoại. Khi nhân vật ñưa ra một lời thoại hướng tới chính bản
thân mình ñể trò chuyện, nó ñồng thời ñóng cả vai nói và vai nghe. Do ñó, về bản
chất, hiệu lực tác ñộng của lời ðTNT sẽ hướng vào chính vai nói, thay ñổi nhận
thức, tình cảm… của vai nói. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nội dung, hiệu
lực hành ñộng ngôn ngữ của lời ðTNT hướng ñến một ñối tượng hoàn toàn phân
biệt với vai nói. Chẳng hạn, khi nhân vật Mại trong truyện ngắn cùng tên của NTTH
thầm nói: “Chị xin lỗi cả hai em. Chị chỉ là người ñứng ngoài và ñừng phải nghĩ gì
về chị hết.” thì hành ñộng xin lỗi này rõ ràng không phải hướng vào vai nghe của
lời ðTNT (Mại) mà hướng vào ñối tượng khác (hai em). Nhưng trên thực tế, hai em
không chịu tác ñộng hiệu lực của hành ñộng, vì họ không phải là người tiếp nhận
lời. Với những trường hợp như vậy, hiệu lực của lời cũng chỉ thể hiện hiệu quả tác

25
ñộng của nó ở chính vai nói: Mại sẽ cảm thấy ñỡ ân hận hơn và có trách nhiệm phải
làm những việc cần thiết ñể sửa lỗi.
1.2. ðộc thoại nội tâm trong truyện ngắn
1.2.1. Các khái niệm: ñộc thoại, ñộc thoại nội tâm và dòng ý thức
1.2.1.1. Khái niệm ñộc thoại (monologue)
ðộc thoại là khái niệm trước hết ñược sử dụng trong kịch - một loại hình
nghệ thuật sân khấu. Có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, ñộc thoại gọi là monologos, và
ñược ñịnh nghĩa một cách ñơn giản: lời nói của một người ñơn ñộc (khi chỉ có một
mình).
Trong Từ ñiển sân khấu, tác giả Patrice Paris (1980) ñã ñưa ra khái niệm về
ñộc thoại sân khấu (cụ thể là kịch). Ông cho rằng: “ðộc thoại là những lời nói của
một nhân vật không trực tiếp hướng ñến người ñối thoại ñể nhận ñược câu trả lời”
[129, tr.260]. Với cách hiểu này, ñộc thoại ñược xác ñịnh tương ñối rõ ràng trên hai
mặt: hình thức và mục ñích. Về hình thức, nó là lời do nhân vật nói ra, về mục ñích,
nó không hướng ñến người ñối thoại và không chờ ñợi câu trả lời từ người ñó. Việc
xác ñịnh ñộc thoại như vậy ñã ngầm ñặt ñộc thoại trong mối tương quan với ñối
thoại. Vì vậy, ngay sau phần ñịnh nghĩa, Patrice Paris chỉ rõ: “Lời ñộc thoại phân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status