Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
ĐẶC ĐIỂM LỜI THOẠI NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƢ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
Thái Nguyên- 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
TS. Phạm Văn Hảo, Viện Từ điển học và Bách khoa thư, thày đã có những định
hướng ban đầu, những lời nhận xét và chỉ dẫn quý báu trong suốt quá trình tôi thực
hiện luận văn. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc nhất của tôi tới thầy về
những ý kiến quý báu và thời gian mà thầy đã dành cho tôi.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới tất cả những thầy cô
đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và quan tâm giúp đỡ tôi trong suốt thời gian theo
học chương trình thạc sĩ Ngôn ngữ khóa 2008 - 2010 tại trường Đại học Sư Phạm -
Đại học Thái Nguyên cũng như quá trình bắt tay vào viết và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, những bạn bè
khác đã hết lòng động viên, khuyến khích, giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi có kết quả
cuối cùng ngày hôm nay.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2010
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Chuyên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
Trang
MỞ ĐẦU 4
1. Lí do chọn đề tài 4
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 9
5. Phương pháp nghiên cứu 10
6. Đóng góp mới 10
7. Cấu trúc luận văn 11
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 12
1.1. Ngôn ngữ văn học 12
1.1.1. Xuất xứ 12
1.1.2. Đặc điểm của ngôn ngữ văn học 13
1.1.3. Phân loại 14
1.2. Lí thuyết về hội thoại 16
1.2.2.1. Khái niệm hội thoại 16
1.2.2.2. Vận động hội thoại 17
1.2.2.3. Cấu trúc hội thoại 18
1.3. Khái quát về phương ngữ tiếng Việt 22
1.3.1. Khái niệm phương ngữ 22
1.3.2. Đặc điểm phương ngữ tiếng Việt 23
1.3.2.1. Đặc điểm ngữ âm 24
1.3.2.2. Đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa 26
1.3.2.3. Đặc điểm ngữ pháp 30
1.4. Nhân vật văn học và ngôn ngữ nhân vật 32
1.4.1. Nhân vật văn học 32
1.4.2. Ngôn ngữ nhân vật 35
1.5. Đôi nét về Nguyễn Ngọc Tư 39
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
7
3.2.1. Không gian sông nước Nam Bộ 99
3.2.2. Không gian ruộng đồng Nam Bộ 103
3.2.3. Không gian sinh hoạt gia đình của người Nam Bộ 105
3.3. Lời thoại nhân vật góp phần thể hiện phong cách nhà văn 106
3.3.1. Qua lời thoại nhân vật bộc lộ rõ Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn có khả năng phân
tích, lí giải bản chất con người đương đại 107
3.3.2. Qua lời thoại nhân vật, tác giả gián tiếp lý giải và chỉ ra những nguyên nhân
của vấn đề nảy sinh trong cuộc sống con người 109
3.3.3. Qua lời thoại nhân vật, ta thấy đó là cách nhìn nhận cuộc sống ở phần bản chất
với những biểu hiện sinh động như nó vốn có 110
KẾT LUẬN 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
PHỤ LỤC 119
giá giá trị của tác phẩm văn học ta không thể không xem xét việc nhà văn chọn lựa và sử
dụng chất liệu ấy như thế nào.
Trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta ngạc nhiên trước thế giới nhân vật
đa dạng, đông đảo. Mỗi nhân vật mang một diện mạo, một cá tính riêng. Thế giới nhân
vật đông đúc, phức tạp ấy chính là sự khúc xạ của cuộc sống vào văn học. Một trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
những đặc điểm nổi bật nhất, gây ấn tượng nhất trong việc xây dựng nhân vật là việc
lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ. Lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư xuất hiện với tần số cao, biểu hiện đa dạng và mang những giá trị nhất định mà
người nghiên cứu khó lòng bỏ qua. Đây là một yếu tố quan trọng làm nên màu sắc,
giá trị cho những đứa con tinh thần của nhà văn.
Có thể nói, Nguyễn Ngọc Tư là một trong những nhà văn được nhiều người
nghiên cứu chú ý và có được nhiều bài viết về sáng tác của chị. Các bài viết thường
chú trọng nhiều đến cách hiểu một số tác phẩm hoặc khía cạnh nào đó trong các
truyện ngắn. Theo khảo sát của chúng tôi, những công trình nghiên cứu về truyện
ngắn của Nguyễn Ngọc Tư dưới góc độ ngôn ngữ không nhiều, về lời thoại nhân vật
thì hầu như chưa có. Do vậy, chúng tôi đã chọn đề tài Đặc điểm lời thoại nhân vật
trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư để nghiên cứu với hi vọng qua việc tìm này sẽ
có thêm cơ sở cũng như kinh nghiệm thực tế để đi vào khám phá thế giới nhân vật,
chiều sâu tư tưởng trong sáng tác của chị, từ đó thấy được những đóng góp cũng như
vị trí của Nguyễn Ngọc Tư trong dòng văn học đương đại.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1. Việc nghiên cứu về lời thoại với nhân vật trong tác phẩm văn học
Để thể hiện tính cách nhân vật, nhà văn không chỉ miêu tả ngoại hình, biểu
hiện nội tâm mà còn thể hiện qua lời thoại của nhân vật. Lời thoại của nhân vật là lời
ăn tiếng nói của nhân vật, là một căn cứ biểu đạt tính cách và phẩm chất của mỗi
người. Do đó trong thể hiện hình tượng nghệ thuật của mình các nhà văn hết sức coi
trọng việc thể hiện tính cách nhân vật thông qua lời thoại của nhân vật.
Vì vậy giáo sư Hà Minh Đức đã nhấn mạnh “phương tiện quan trọng nhất của
phẩm văn xuôi tự sự như sau: "Lời đối thoại giữa các nhân vật là một thành phần
chủ yếu trong kết cấu của tác phẩm tự sự. Chức năng chủ yếu của đối thoại thực sự,
đối thoại không chỉ mang tính chất miêu tả hoặc chuyển dẫn, trình bày sự kiện mà
còn bộc lộ tính cách, tâm lí của nhân vật và các quan điểm tư tưởng" [26, 194]
Ngoài ra còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu về lời thoại nhân vật, như
Bùi Minh Toán - Từ trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt. NXB Giáo dục, 2003 (Viết
chung với Đỗ Hữu Châu); Nguyễn Thị Thanh Nga - Những từ ngữ mang sắc thái
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
khẩu ngữ. Luận án tiến sĩ. Đại học sư phạm Hà Nội; Lương Thị Hiền - Bước đầu
khảo sát chức năng cá thể hóa đặc điểm nhân vật trong hội thoại văn học. Khóa luận
tốt nghiệp Đại học sư phạm Hà Nội, 2003
Như vậy việc nghiên cứu về lời thoại nhân vật được nhiều tác giả đề cập
nhưng các ý kiến mới đề cập đến những khía cạnh khác nhau của lời thoại nhân vật
trong tác phẩm tự sự nói chung hoặc lời thoại nhân vật trong truyện ngắn của một tác
giả cụ thể nói riêng nhưng chưa đề cập lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư.
2.2. Việc nghiên cứu về tác giả và truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Gần chục năm trở lại đây, Nguyễn Ngọc Tư trở thành cái tên quen thuộc
thường được nhắc tới trong giới nghiên cứu, phê bình và độc giả yêu văn chương. Từ
những sáng tác đầu tay xuất hiện trên báo năm 1996 như: truyện ngắn Đổi thay cho
đến khi Nguyễn Ngọc Tư đạt giải nhất "Sáng tác văn học tuổi 20" lần thứ hai của
Hội Nhà văn thành phồ Hồ Chí Minh với tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt và liên
tiếp các tập truyện: Nước chảy mây trôi, Ông Ngoại, Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư,
Giao thừa, Cánh đồng bất tận đã gây tiếng vang lớn. Những đứa con tinh thần của
chị không cầu kì, khác lạ nhưng đã gây ra những phản ứng khác nhau từ phía người
đọc. Ngôn ngữ văn học mang tính đa nghĩa, trình độ cảm nhận của người đọc khác
nhau nên có nhiều phản ứng khác nhau thậm chí trái ngược nhau là điều dễ hiểu.
Nguyễn Ngọc Tư là một trong số ít nhà văn Việt Nam hiện đại được nhiều
người chú ý. Chỉ trong khoảng gần mười năm mà số lượng bài viết, công trình
nỗi băn khoăn từ phía độc giả. Trên báo Tuổi trẻ (ngày 30/ 11/ 2005), bác sĩ Đỗ
Hồng Ngọc nói rằng "cảm thấy tiếc nuối, hụt hẫng, cảm thấy như mình vừa mất đi
một niềm tin chẳng hạn". Không ít người còn gán cho nhà văn có "vấn đề" về mặt tư
tưởng xã hội. Tuy vậy, Nguyễn Ngọc Tư vẫn nhận được rất nhiều sự ngưỡng mộ,
khâm phục và cả sự khích lệ, động viên.
Ngoài những bài viết, phê bình, nghiên cứu trên, chúng tôi còn thấy một số
lượng rất lớn các công trình nghiên cứu khoa học, các đề tài, luận văn khác lấy tác
giả, tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư làm đối tượng nghiên cứu của mình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
Tuy nhiên, qua khảo sát chúng tôi thấy chưa có công trình nào nghiên cứu
đầy đủ, hệ thống về lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư. Vì vậy,
chúng tôi đã chọn đề tài Đặc điểm lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư để nghiên cứu với mong muốn góp thêm một tiếng nói vào việc tìm hiểu nghệ
thuật sử dụng ngôn ngữ tài hoa, đắc địa cũng những giá trị văn chương đích thực
trong các sáng tác của nhà văn này.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu đặc điểm lời thoại nhân vật được thể hiện
trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Chúng tôi tiếp cận đối tượng từ góc độ ngôn ngữ được
sử dụng trong lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư.
Phạm vi tư liệu: Chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu trong phạm vi các tập
truyện ngắn:
1. Cách đồng bất tận, Nxb Trẻ, 2008.
2. Ngọn đèn không tắt, Nxb Trẻ, 2008.
3. Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2008
Với số lượng 26 truyện ngắn được nghiên cứu.
4. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Tư. Trên cơ sở đó thấy rõ được vai trò của việc sử dụng kiểu lời này và làm nổi bật
tài năng nghệ thuật, phong cách riêng biệt đặc sắc của tác giả.
6. Đóng góp mới
6.1. Về lí luận
Giải quyết đề tài trên luận văn sẽ góp phần bổ sung cho lí luận về mói quan hệ
giữa nhân vật và lời thoại nhân vật, đặc điểm ngôn ngữ trong lời thoại nhân vật và
việc xây dựng hình tượng nhân vật văn học. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
6.2. Về thực tiễn
Chúng tôi mong rằng, luận văn sẽ chỉ ra được những biểu hiện và đặc điểm
lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư để chứng minh "sự lạ" ở nhà
văn này tại vùng đất Nam Bộ. Đồng thời làm cơ sở tham khảo cho việc dạy ngôn ngữ
và học văn học Việt Nam các vùng miền ở các cấp.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo và Phụ lục, luận văn có
các chương sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Cách thể hiện lời thoại và đặc điểm lời thoại nhân vật trong truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư
Chương 3: Giá trị của lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư.
tiêu biểu. Ngôn ngữ văn học trở thành ngôn ngữ thống nhất – ngôn ngữ toàn dân với
việc lấy chất liệu từ trong đời sống các phương ngữ và đồng hóa các phương ngữ đó.
Điều này cũng đồng nghĩa với việc ngôn ngữ văn học trở thành công cụ thiết yếu của
nền văn minh và phục vụ cho mọi nhu cầu của xã hội và quốc gia.
Theo nghĩa hẹp, ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ mang tính nghệ thuật được dùng
trong văn học, vì vậy văn học được gọi là loại hình nghệ thuật ngôn từ.
Nói văn học là nghệ thuật ngôn từ thực chất là: văn học là nghệ thuật sử dụng
lời văn, bài văn (nói, viết) vào mục đích nghệ thuật [37,184]. Như vậy ngôn ngữ của
tác phẩm văn học chính là ngôn ngữ của đời sống, ngôn ngữ toàn dân đã được nâng
lên đến trình độ nghệ thuật. Nói khác là ngôn ngữ toàn dân đã được trau dồi, mài
giũa, tinh luyện, kết tinh. Nói như Maiacôpxki:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
“Phải phí tổn ngàn cân quặng chữ
Mới thu về một chữ mà thôi
Những chữ ấy là cho rung động
Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài”
Hay như Nhữ Bá Sĩ từng nghiền ngẫm, trăn trở không hiểu được tại sao mà
người xưa dụng công dồn hết tâm sức khó nhọc “Ba năm mới nghĩ được một chữ,
mười năm mới nghĩ được một bài” mà vẫn không tự thỏa lòng được. Hay như
Nguyễn Đình Thi “dòng nào trang nào cũng làm đi, làm lại, xóa, kéo moóc, thêm
bớt chi chit như mắc cửi trên giấy "
Nói đến điều này để thấy, trong tác phẩm văn chương, ngôn ngữ là một trong
những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng nhà văn. Mỗi
nhà văn lớn bao giờ cũng là những tấm gương sáng về mặt hiểu biết ngôn ngữ nhân
dân, cần cù lao động để trau dồi ngôn ngữ trong quá trình sáng tác. Như vậy có thể
nói: lấy ngôn ngôn từ làm chất kiệu, văn học có thể phản ánh bất kì phương diện nào
của đời sống hiện thực, có khả năng thực hiện chức năng nhận thức, biểu hiện tư
tưởng một cách trực tiếp và toàn vẹn nhất. Nhờ những khả năng to lớn như vậy, văn
học đã trở thành "bách khoa toàn thư” về cuộc sống, trở thành một phương tiện giao
được biểu hiện một cách tập trung với yêu cầu cao nhất trong ngôn ngữ của tác phẩm
trữ tình. Có thể thấy trong các thể loại của văn chương thì từ ngữ trong tác phẩm trữ
tình được sử dụng kiệm nhất. Nói như Pautốpxki: “Những chữ xơ xác nhất mà chúng
ta đã nói đến cạn cùng, đã mất sạch tính chất hình tượng đối với chúng ta, những
chữ ấy trong thơ ca lại sang lấp lánh, lại kêu giòn và tỏa hương”. Nhưng đặc trưng
chủ yếu, mang tính loại biệt rõ nét của ngôn ngữ tác phẩm trữ tình chính là nhịp điệu
trong tác phẩm. Không có nhịp điệu thì không thành thơ ca, kể cả những bài thơ vẫn
được gọi là “thơ văn xuôi” bởi thơ ca là tiếng nói của tình cảm, của trái tim.
Ngôn ngữ của tác phẩm kịch là ngôn ngữ các nhân vật được tổ chức thông
qua hệ thống đối thoại. Trong tác phẩm kịch không có ngôn ngữ tác giả cũng như
thái độ tác giả được biểu hiện ngầm sau hệ thống đối thoại của ngôn ngữ nhân vật.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
M. Gorki đã chỉ rõ: “Trong kịch, tác giả không thể mách bảo điều gì cho người xem
hết. Các nhân vật kịch hình thành là do những lời lẽ của họ, và tuyệt đối chỉ do
những lời lẽ ấy mà thôi, nghĩa là tác giả xây dựng nhân vật bằng ngôn ngữ hội thoại
chứ không phải bằng ngôn ngữ miêu tả…Cần phải làm sao cho ngôn ngữ của mỗi
nhân vật đều có tính đặc thù rõ rệt, có sức biểu hiện đến mức tối đa” [3,206].
Ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự là sự tồn tại song cùng của ngôn ngữ nhân vật
và ngôn ngữ người kể chuyện. Ngôn ngữ người kể chuyện giữ một vị trí hết sức quan
trọng trong tác phẩm: vừa đóng vai trò tổ chức và chỉ đạo đối với ngôn ngữ toàn tác
phẩm, vừa là phương tiện để bộc lộ chủ đề và tư tưởng tác phẩm, để khắc họa đặc
điểm của tính cách, để dẫn dắt quá trình phát triển của cốt truyện.
b. Căn cứ vào cấu tạo
Dựa vào cấu tạo, người ta chia ngôn ngữ văn học làm 3 loại:
Ngôn ngữ người kể chuyện là ngôn ngữ của người đóng vai trò kể chuyện.
Người ấy phải biết chuyện, chứng kiến hay trải qua để kể lại và họ không nhất thiết
là chính tác giả mặc dù tác giả là người viết ra lời kể… Mỗi lời kể có một nhịp kể,
một giọng điệu và cái nhìn riêng. Có thể có rất nhiều cách kể khác nhau, gây hiệu
quả thẩm mĩ khác nhau.
không chỉ nêu quan điểm của mình mà còn chỉ ra một số đặc điểm về hội thoại như
sau: " Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó
cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác" [5, 201]. Theo đó hội
thoại có một số đặc điểm sau:
- Thoại trường của hội thoại hay thời gian, không gian ở đó diễn ra cuộc thoại.
- Số lượng người tham gia hội thoại: Khi hội thoại chỉ gồm có 2 người, ta có
song thoại. Khi hội thoại có 3 người, ta có tam thoại. Khi có nhiều người tham gia
hội thoại, ta có đa thoại. Tuy nhiên trong các cuộc hội thoại thì song thoại vẫn được
đánh giá là quan trọng nhất.
- Cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại.
- Tính có đích hay không có đích trong hội thoại.
- Tính có hình thức hay không có hình thức.
- Ngữ vực trong hội thoại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
21
Tóm lại: Mặc dù chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về lí thuyết hội
thoại và mỗi tác giả có thể nhấn mạnh ở khía cạnh này hay khía cạnh khác nhưng tựu
chung lại chúng tôi nhận thấy các tác giả đều cho rằng: Hội thoại là hoạt động giao
tiếp thường xuyên và phổ biến trong xã hội.
1.2.2. Vận động hội thoại
Bất cứ cuộc thoại nào cũng có 3 vận động chủ yếu là: vận động trao lời, vận
động trao đáp và vận động tương tác.
a. Vận động trao lời
Một chuỗi các đơn vị ngôn ngữ được nhân vật hội thoại nói ra, kể từ lúc bắt
đầu cho đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình là một
lượt lời. Trao lời là vận động mà SP1 (vai nói) nói lượt lời của mình ra và hướng lượt
lời của mình về phía SP2 (vai nghe) nhằm làm cho SP2 nhận ra được rằng lượt lời
được nói ra đó dành cho SP2.
Trong lời trao, sự có mặt của SP1 là điều tất yếu. Sự có mặt thể hiện ở từ
xưng hô ngôi thứ nhất, ở tình cảm, thái độ, hiểu biết, quan điểm của SP1 trong nội
Sau đây chúng tôi sẽ trình bày quan điểm cấu trúc hội thoại của trường phái lí
thuyết hội thoại ở Thụy Sĩ và ở Pháp bởi vì theo chúng tôi quan điểm của họ là rõ
ràng, dễ hiểu và cấu trúc hội thoại của họ đưa ra khá toàn diện.
a. Các đơn vị hội thoại
Hai nhà ngôn ngữ họa Eddy và Roulet (Thụy Sĩ) và Catherine Kerbrat Orecchioni
(Pháp) có nhiều quan điểm giống nhau về các đơn vị tổ chức hội thoại. Họ cho rằng,
các đơn vị cấu trúc của hội thoại được xét từ lớn đến nhỏ là:
- Cuộc thoại (cuộc tương tác - conversation, interection).
- Đoạn thoại (Séquence).
- Cặp trao đáp (cặp thoại échage)
- Tham thoại (intervention).
- Hành vi ngôn ngữ.
Trong 5 đơn vị của hội thoại thì 3 đơn vị (cuộc thoại, đoạn thoại và cặp trao
đáp) có tính chất lưỡng thoại, có nghĩa là chúng có hình thành do vận động trao đáp
của các nhân vật hội thoại. 2 đơn vị là tham thoại và hành vi ngôn ngữ có tính chất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
23
đơn thoại (do 1 người nói ra). Theo trường phái lí thuyết hội thoại ở Thụy Sĩ và Pháp
thì các đơn vị hội thoại được trình bày như sau:
Cuộc thoại (conversation, cuộc tương tác: interation). Nói tới hội thoại, người
ta sẽ nhắc ngay tới "cuộc thoại". Có thể hiểu đó là một lần trao đổi, nói chuyện giữa
những cá nhân, ít nhất là hai người trong một hoàn cảnh xã hội nào đó. Theo C.K.
Orecchioni, "để có một và chỉ một cuộc thoại điều kiện cần và đủ là có một nhóm
nhân vật có thể thay đổi nhưng không đứt quãng, trong một khoảng thời gian và
không gian có thể thay đổi nhưng không đứt quãng" [5, 313].
Các tiêu chí để xác định cuộc thoại
- Nhân vật hội thoại: Một cuộc thoại được xác định bằng sự đương diện liên
tục của người hội thoại hay một cuộc thoại được xây dựng bở sự gặp gỡ và chia tay
của 2 người cùng hội thoại. Khi số lượng hay tính chất của người hội thoại thay đổi
thì xuất hiện cuộc thoại mới. Tuy nhiên, tiêu chí này có vẻ quá cứng nhắc vì người
đoạn thoại cũng không rành mạch gì hơn. Khi người ta muốn phân định ranh giới
giữa chúng phải dựa vào trực cảm võ đoán.
Cặp trao đáp (cặp thoại éxchange): "Về nguyên tắc cặp trao đáp là đơn vị lưỡng
thoại tối thiểu, với chúng cuộc trao đổi tức cuộc hội thoại chính thức được tiến
hành" [5, 315]. Căn cứ vào số lượng các tham thoại để phân loại, ta có các kiểu loại:
- Cặp thoại một tham thoại: "Một trong hai tham thoại cấu trúc nên nó được
thực hiện bằng những hành vi kèm lời hoặc vật lí" [5, 321].
- Cặp thoại hai tham thoại: gồm tham thoại dẫn và tham thoại hồi đáp.
- Cặp thoại ba tham thoại (cặp thoại 3): đây là cặp thoại mà trong đó tham thoại
thứ 3 có thể là một kiểu "tiếng vọng", có thể là tham thoại tán đồng, đánh giá, chúc
mừng Các tham thoại trong cặp thoại có thể liên kết với nhau theo 3 kiểu: liên kết
lồng, liên kết chéo, liên kết phẳng.
Căn cứ vào tính chất của các cặp thoại để phân loại, ta có cặp thoại tích cực và
cặp thoại tiêu cực.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
25
Cặp thoại tích cực là cặp thoại mà tham thoại hồi đáp "thỏa mãn được đích của
tham thoại dẫn nhập (nói đúng hơn là thỏa mãn được đích của hành vi tham thoại dẫn
nhập)[5,328].
Cặp thoại tiêu cực thì ngược lại là "tham thoại hồi đáp đi ngược lại với đích
của tham thoại dẫn nhập"[5, 328].
Tham thoại: tham thoại là đơn vị đơn thoại và "là phần đóng góp của từng nhân vật
hội thoại vào một cặp thoại nhất định" [5, 316].
Hành vi ngôn ngữ: hành vi ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất của "ngữ pháp hội thoại".
Trên đây là những nét cơ bản trong quan niệm về cấu trúc hội thoại của trường
phái lí thuyết hội thoại ở Thụy Sĩ và ở Pháp. Khác với trường phái này, trường phái
phân tích hội thoại ở Mĩ không chia nhỏ đơn vị hội thoại thành các tham thoại và hành
vi ngôn ngữ mà dừng lại ở các đơn vị lượt lời. Họ cho rằng đây là "đơn vị cơ sở, đơn vị
tổ chức nên các đơn vị khác lớn hơn của hội thoại" [5, 291].
Trong một cuộc thoại, đoạn thoại có thể có nhiều lượt lời. Theo Đỗ Hữu Châu