1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*** LÊ THỊ TUYẾT
NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ,
NGUYỄN NGỌC TƯ VÀ ĐỖ HOÀNG DIỆU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. ĐOÀN ĐỨC PHƯƠNG
HÀ NỘI - 2010
4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1. Lí do chọn đề tài 6
2. Lịch sử vấn đề 7
3. Đối tƣợng, mục đích, phạm vi nghiên cứu 11
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 11
5. Cấu trúc luận văn 11
CHƢƠNG 1: TRUYỆN NGẮN VÀ MÀU SẮC NỮ QUYỀN TRONG TRUYỆN
NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƢ VÀ ĐỖ HOÀNG DIỆU 12
1.1. Thể loại truyện ngắn 12
1.1.1. Khái niệm, sự hình thành và phát triển của thể loại 12
1.1.2. Đặc trưng của truyện ngắn 14
1.2. Hiện tượng Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu và màu
6
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn học Việt Nam nói chung, văn xuôi Việt Nam nói riêng trong giai đoạn
đổi mới từ 1986 đến nay có nhiều khởi sắc. Một trong những yếu tố làm nên sự
phong phú, đa dạng của văn học giai đoạn này chính là sự xuất hiện ngày càng
nhiều của các cây bút nữ. Bên cạnh những cây bút nữ tên tuổi một thời như Vũ
Thị Thường, Dương Thu Hương là đội ngũ những cây bút trẻ trung hơn, sôi nổi
hơn như Lê Minh Khuê, Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, và
gần đây là một loạt các cây bút trẻ đầy triển vọng như Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ
Hoàng Diệu Với những nỗ lực đáng ghi nhận, họ thực sự đã tạo ra cho mình
những “lối nẻo riêng”.
Trong số những cây bút nữ nổi lên ngay từ những năm 1990 của thế kỉ
XX, Nguyễn Thị Thu Huệ được xem là một gương mặt đáng chú ý, một ngòi bút
có duyên trong lĩnh vực truyện ngắn, chinh phục người đọc bằng ngòi bút tinh tế,
giản dị mà cũng rất từng trải, thâm trầm. Bước sang những năm đầu của thế kỉ
XXI, Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Hoàng Diệu lại là những hiện tượng văn chương
độc đáo. Văn của Nguyễn Ngọc Tư thấm đẫm chất Nam Bộ; trầm, buồn mà da
nay chưa có một công trình khoa học nào đi sâu vào truyện ngắn của họ một cách
cụ thể, có hệ thống. Hầu hết các bài viết chỉ dừng lại dưới dạng giới thiệu, nhận
xét sơ bộ, trình bày cảm xúc về một truyện ngắn hoặc một tập truyện ngắn nào đó
của từng tác giả.
Với Nguyễn Thị Thu Huệ, đáng chú ý là lời giới thiệu tập Truyện ngắn
bốn cây bút nữ của nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng. Ông cho rằng, “chao chát và
dịu dàng, thơ ngây và từng trải, đớn đau và tin tưởng cứ trộn lẫn trong văn
Nguyễn Thị Thu Huệ tạo nên tính đa cực của ngòi bút nữ có duyên trong lĩnh vực
truyện ngắn. Đọc Nguyễn Thị Thu Huệ ta bị cuốn hút vào trong niềm vui và nỗi
buồn bất tận. Đời sống hiện lên trên từng trang sách của chị bề bộn, ngổn ngang,
ấy vậy mà ngẫm kĩ nó đâu vào đấy. Nhà văn nghiêng viết về con người trong khối
8
mâu thuẫn vừa cố dính kết với gia đình như một “hang ổ cuối cùng”, lại vừa bị
nhiều ngoại lực giằng xé, lôi kéo ” [50, 8]. Lời nhận xét ấy đã phần nào khái
quát toàn bộ tinh thần truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, trong đó có nhân vật
của chị.
Liên quan đến truyện ngắn và nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Thị
Thu Huệ có luận văn thạc sĩ khoa học của Nguyễn Thị Hoa với đề tài Nhân vật
nữ trong truyện ngắn YBan, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ. Ở đề tài này,
tác giả của luận văn đã tập trung nghiên cứu hình tượng nhân vật nữ trong truyện
ngắn ba tác giả nữ, trong đó có Nguyễn Thị Thu Huệ, có liên quan đến đề tài của
chúng tôi.
Được xem là hiện tượng của văn học đầu thế kỉ XXI, sáng tác của cả
Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Hoàng Diệu đều thu hút sự chú ý của các nhà văn và
đông đảo bạn đọc, trong đó có các ý kiến trái chiều nhau.
Với Nguyễn Ngọc Tư, độc giả đặc biệt chú ý đến tập Cánh đồng bất tận
(2005) - tập truyện làm nên tên tuổi của chị. Vì vậy, có rất nhiều bài viết xoay
quanh tác phẩm này. Trần Hữu Dũng - một độc giả quan tâm và yêu mến tác
phẩm của chị đã lập hẳn một trang web o/NNTu thu
Ngọc Tư cũng như nhân vật trong tác phẩm của chị. Mới đây, Cánh đồng bất tận
cũng đã được mua bản quyền và được chuyển thể thành phim nhựa.
Với Đỗ Hoàng Diệu, độc giả yêu văn đặc biệt quan tâm đến tập truyện
ngắn Bóng đè (2005). Đây cũng là tập truyện ngắn duy nhất của chị được phát
hành cho đến thời điểm này. Sau khi Bóng đè ra đời, đã có hàng chục bài viết đề
cập đến tác phẩm trên các trang báo lớn như An ninh thế giới, Tuổi trẻ, Văn nghệ
trẻ, Hợp Lưu, Talawas,… Nhà văn Nguyên Ngọc và nhà phê bình Phạm Xuân
Nguyên đã có những lời khen ngợi dành cho tác phẩm. Trong bài viết Đỗ Hoàng
Diệu tự mở cho mình một đường riêng (được lấy làm bài giới thiệu tác phẩm),
Phạm Xuân Nguyên đã viết: “Đỗ Hoàng Diệu đã phải đi một con đường vòng
đến với độc giả. Truyện ngắn của cô thường là dài, dài hơn cái lệ thông thường
quy ước của một truyện ngắn gần như chủ yếu, cô viết về phụ nữ và dục tính.
10
Phụ nữ trong quan hệ với dục tính, nhưng quan trọng hơn, phụ nữ và dục tính
trong quan hệ với xã hội và lịch sử ”.
Còn nhà văn Nguyên Ngọc trong bài viết trên báo Tuổi trẻ thì cho rằng,
vấn đề mà Đỗ Hoàng Diệu đặt ra trong tác phẩm của mình lớn hơn rất nhiều vấn
đề số phận đàn bà những người phụ nữ phải gánh chịu cả một “quá khứ phi
phàm”, bị đeo đuổi vì “một thứ tội tổ tông”, những người phụ nữ “quá thông
minh nhưng quá cả tin”, có “tấm thân cong lên hình chữ S, một chữ S cố phản
kháng” song lại luôn nghĩ mình “là nô lệ cả từ nghìn năm nay từ khi chưa sinh
ra đời ”. Ông cũng đưa ra những nhận định ban đầu, về việc rất có thể Đỗ
Hoàng Diệu đang tiếp tục con đường của dòng “văn học tự vấn” đã được khơi
mào từ Nguyễn Huy Thiệp.
Trong bài viết Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Thanh Sơn đã so
sánh tác phẩm của Đỗ Hoàng Diệu với tác phẩm và tác giả Vệ Tuệ. Tác giả đánh
giá cao Vệ Tuệ và cho rằng, các nhân vật trong truyện ngắn của Đỗ Hoàng Diệu
nghèo nàn về cuộc sống tinh thần; thiếu đi tình yêu thương vô bờ bến, vô điều
kiện với tha nhân, những truyện ngắn của Đỗ Hoàng Diệu chỉ vật vã trong sự
Nguyễn Ngọc Tư với các tập: Ngọn đèn không tắt (2000), Biển ngƣời
mênh mông (2003), Giao thừa (2003), Nƣớc chảy mây trôi (2004), Truyện
ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ (2005), Cánh đồng bất tận (2005), Gió lẻ (2008);
Đỗ Hoàng Diệu với tập Bóng đè và các truyện ngắn Tình chuột, Những
sợi tóc màu tang lễ, Cô gái điếm và năm ngƣời đàn ông, Ngày bất tận.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu như: phương pháp thống kê,
phân tích, so sánh, phân tâm học cùng phương pháp tiếp cận thi pháp học
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn được triển khai trong
3 chương:
Chương 1: Truyện ngắn và màu sắc nữ quyền trong truyện ngắn Nguyễn
Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Hoàng Diệu
Chương 2: Nhân vật trong truyện ngắn ba tác giả
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật.
12
CHƢƠNG 1: TRUYỆN NGẮN VÀ MÀU SẮC NỮ QUYỀN TRONG
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƢ
VÀ ĐỖ HOÀNG DIỆU
1.1. Thể loại truyện ngắn
1.1.1. Khái niệm truyện ngắn, sự hình thành và phát triển của thể loại
D. Gronopxki trong sách Đọc truyện ngắn viết: “Truyện ngắn là một thể
loại muôn hình muôn vẻ, biến đổi không cùng”. Quả đúng như vậy, bởi xung
quanh thuật ngữ này có rất nhiều định nghĩa khác nhau. Nhà thơ Đức J. Gớt xác
định truyện ngắn là “một câu chuyện lạ đang xảy ra có thể làm ta kinh ngạc”. Từ
điển văn học giải thích “truyện ngắn là hình thức tự sự loại nhỏ; truyện ngắn
khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh của cuộc
sống: một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của đời
sống nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội” [46,137]. Trong
Ở Việt Nam, hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau về sự ra đời của thể loại
này. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Truyền kì là hình thức ban đầu của truyện
ngắn Việt Nam xuất hiện vào thế kỉ XV, một số ý kiến lại cho rằng truyện ngắn
hiểu theo nghĩa hiện đại chỉ hình thành từ khi có văn học viết bằng chữ Quốc
ngữ. Để có được lời khẳng định chắc chắn về sự ra đời của thể loại này ở nước ta,
cần có sự nghiên cứu, tìm tòi, đối chiếu, so sánh một cách khoa học. Nhưng
chúng ta không thể phủ nhận rằng, từ những năm 30 của thế kỉ XX, truyện ngắn
Việt Nam thực sự nở rộ với các tên tuổi: Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam
Cao… sau đến là Đỗ Chu, Nguyễn Minh Châu cho đến Nguyễn Huy Thiệp, Võ
Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ… và sự xuất hiện của hàng loạt cây bút trẻ có
triển vọng của thế kỉ XXI như Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu v.v… mang đến
cho thể loại truyện ngắn những hình thức vừa cũ, vừa mới, vừa lạ vừa quen, thể
hiện sự đổi mới rõ rệt trong phong cách thể loại.
1.1.2 Đặc trƣng của thể loại truyện ngắn
14
Nhìn một cách khái quát thì sự khác nhau giữa truyện ngắn và tiểu thuyết
cũng như những đặc trưng của thể loại truyện ngắn tập trung vào một số khía
cạnh như sau:
- Dung lượng tác phẩm.
- Cách xây dựng kết cấu, cốt truyện.
- Cách thể hiện tính cách, số phận nhân vật.
Đặt trong mối tương quan so sánh với tiểu thuyết, chúng ta thấy rằng
truyện ngắn khác với tiểu thuyết về dung lượng. Dung lượng thể hiện qua số
trang, số lượng nhân vật, khuôn khổ của cốt truyện… Theo một số tài liệu thì
phương Tây có những quy định khá cụ thể về chiều dài của tiểu thuyết và truyện
ngắn, trong đó truyện ngắn chỉ nên kéo dài từ 3 đến 30 trang. Trong khi tiểu
thuyết có nhiều tuyến nhân vật với số lượng nhân vật đồ sộ hơn thì số lượng nhân
vật trong truyện ngắn ít hơn. Tiểu thuyết có nhiều sự kiện, biến cố nhưng truyện
ngắn thường chỉ có một sự kiện hoặc một biến cố quan trọng. Trong tiểu thuyết,
Thập niên 90 của thế kỉ XX và những năm đầu của thế kỉ XXI là khoảng
thời gian được mùa của truyện ngắn và cũng là thời gian nở rộ của nhiều tên tuổi
nữ được bạn đọc mến mộ như Y Ban, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Lí Lan,
Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu,… Đội ngũ sáng tác ấy
khiến cho nền văn học của nước ta “đang mang gương mặt nữ - ngày càng trắc ẩn
và khoan dung, ngày càng tinh tế và đằm thắm” (Bùi Việt Thắng).
Nguyễn Thị Thu Huệ là một trong những cây bút nổi lên ngay từ đầu
những năm 90 của thế kỉ XX. Những năm 90, độc giả yêu văn chương đã thực sự
sửng sốt và ngỡ ngàng khi xuất hiện một truyện ngắn mà tác giả của nó chưa có
tên tuổi: Hậu thiên đƣờng. Cái nhìn của một nhà văn trẻ - một cô gái trẻ thật táo
bạo, thật mới nhưng cũng thật buồn, mang đậm hơi thở cuộc sống, hết sức chân
thực và có sức hút lạ kì. Hậu thiên đƣờng ấy đã in dấu trong trái tim của bao
người khiến họ phải suy ngẫm, phải nhìn lại cuộc sống, những người xung quanh
và nhìn lại chính mình. Tác phẩm ấy như "tiếp sức" cho Nguyễn Thị Thu Huệ
viết một loạt những truyện ngắn có tiếng vang khác: Cõi mê, Biển ấm, Phù thuỷ,
Xin hãy tin em, Của để dành Và cho đến thời điểm này, trên văn đàn Việt Nam
16
hiện đại, cái tên Nguyễn Thị Thu Huệ đã không còn lạ, thậm chí chị đã tạo được
một phong cách riêng độc đáo, không lẫn với bất cứ nhà văn nào. Truyện ngắn
của chị gợi lên biết bao trăn trở trong mỗi người về con người và cuộc đời này.
Văn của chị bắt nguồn từ cuộc sống. Qua những câu chuyện mà chị viết,
người đọc có cảm giác đã gặp ở đâu đó trong cuộc đời này. Bởi vậy, những
truyện ngắn ấy thường được chuyển thể thành phim truyền hình và đạt được
những giải cao trong các kỳ liên hoan như Nƣớc mắt đàn ông, Của để dành, Xin
hãy tin em
Từ khi bước vào nghiệp văn chương, nữ nhà văn này đã có một “vốn
liếng” kha khá khiến nhiều bậc đàn anh phải kính nể: Giải B giải thưởng Văn học
Hội Văn nghệ Hà Nội 1986 (truyện Một khoảng đời chờ đợi); Giải B Tác phẩm
tuổi xanh báo Tiền Phong năm 1990 với tác phẩm Những đêm thắp sáng; Giải
những khó khăn là bởi vì có niềm tin. Và văn chương, với chị, là người bạn
chung thuỷ có thể chia sẻ với chị nhiều điều. Hạnh phúc nhất là khi chị viết ra
một tác phẩm và nó đến được với người đọc, rồi được chấp nhận. Nguyễn Thị
Thu Huệ cũng đã từng tâm sự rằng, vì luôn yêu thương, cảm thông cho số phận
những người phụ nữ Việt Nam nên dường như người đọc phát hiện ra rằng, chị
không ưa đàn ông Việt Nam, bằng chứng là các nhân vật nam trong truyện ngắn
của chị. Nhưng như thế không có nghĩa là chị hạ bệ họ, vì thực ra, có rất nhiều
người đàn ông đáng giá trong cuộc đời này, chỉ có điều họ chưa đi vào truyện của
chị mà thôi.
Xuất hiện kịp thời khi quan niệm nghệ thuật về con người trong văn
chương đã thay đổi từ sau đổi mới, Nguyễn Thị Thu Huệ có dịp đi vào những vấn
đề rất đỗi dung dị, bình thường nhưng không hề tầm thường, là vấn đề gia đình
và những mâu thuẫn, xung đột xoay quanh tình yêu, những bi kịch tình yêu, bi
kịch xã hội, những cái tưởng chừng vụn vặt nhưng lại có tác động ghê gớm tới
hạnh phúc gia đình…., khác với một số đề tài của các nhà văn đương thời khác
như Võ Thị Hảo, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp… đi vào dư âm của cuộc
chiến tranh, bi kịch của người lính trở về sau chiến tranh, hay là thăm dò vào lĩnh
vực tâm linh còn đầy bí ẩn của con người… Đây cũng là điểm mới của chị so với
18
những nhà văn đó, đặt trong sự đổi mới của văn học Việt Nam nói chung. Truyện
ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ cũng đã đụng chạm đến những vấn đề cấm kị của
văn học, tình yêu đã chớm mang màu sắc nhục thể nhưng đằm thắm, kín đáo, nhẹ
nhàng. Đây lại là điểm mà các nhà văn trẻ sau này như Nguyễn Ngọc Tư, và đặc
biệt là Đỗ Hoàng Diệu khai thác một cách mạnh bạo, công khai hơn.
Bước sang những năm đầu của thế kỉ XXI, văn đàn Việt Nam đã thực sự
trở nên sôi động bởi sự xuất hiện của hàng loạt cây bút mới với những phong
cách viết khác nhau.
Tự ví văn mình như trái sầu riêng, “có người ăn khen ngon, có người bưng
mũi quay đi vì chê nó nặng mùi”, Nguyễn Ngọc Tư đã sớm định hình một phong
Ngọc Tư viết với một giọng điệu đôn hậu, dân dã, mộc mạc, chân thành. Chẳng
bao giờ lên gân lên cốt với ai, chẳng bao giờ tự cho mình là cao siêu, khác
thường, cái dân dã mộc mạc cứ tự nhiên tuôn chảy từ vốn sống của nhà văn, từ sự
gắn bó với những người nông dân chân lấm tay bùn, với những người nghệ sĩ
nghèo nhưng lòng yêu nghề lúc nào cũng chảy tràn tự trong huyết quản. Nguyễn
Ngọc Tư là nhà văn của miệt vườn Nam Bộ, như nhà văn Nguyên Ngọc đã đánh
giá: “Mấy năm nay chúng ta đều rất thích Nguyễn Ngọc Tư. Cô ấy như một cái
cây tự nhiên mọc lên giữa rừng tràm hay rừng đước Nam Bộ vậy, tươi tắn lạ
thường, đem đến cho văn học một luồng gió mát rợi, tinh tế mà chân chất, chân
chất mà tinh tế, đặc biệt “Nam Bộ” một cách như không, chẳng cần chút cố gắng
nào như các tác giả Nam Bộ đi trước…”.
Xuất hiện gần như cùng thời điểm với Nguyễn Ngọc Tư thế nhưng văn của
Đỗ Hoàng Diệu lại mang một phong cách hoàn toàn khác lạ. Xuất hiện trên văn
đàn Việt với tác phẩm Bóng đè cực kì gây choáng, Đỗ Hoàng Diệu đã làm xôn
xao giới văn nghệ nước nhà, khiến nhiều người phải giật mình. Từng được giải
thưởng Tác phẩm tuổi xanh với truyện ngắn Ông lão hàng xóm do báo Tiền
phong tổ chức năm 1990, nhưng cái tên Đỗ Hoàng Diệu bỗng đột ngột trở thành
hiện tượng là vào những năm đầu của thế kỉ XXI và thật sự được chú ý trong đời
sống văn học. Nhiều người thích, nhưng cũng nhiều người chê, nhưng tất cả đều
phải công nhận văn của chị là hơi thở mới trong văn chương đương đại. Những
20
thông điệp ráo riết, có phần quyết liệt được chị chuyển đến người đọc dưới cái vỏ
rất sex.
Trước đây, Đỗ Hoàng Diệu đã viết rất nhiều theo kiểu Tự lực văn đoàn
nhưng không in. Sau này do tác động của cuộc sống, sự thay đổi của chính bản
thân nên chị viết khác đi nhiều, được nhận xét là sexy hơn. Tình chuột là truyện
ngắn đầu tiên của chị giai đoạn này. Những tác phẩm kiểu ấy, theo chị, khó mà
được chấp nhận. Nhưng thực ra, như chị chia sẻ, sex chỉ là cái vỏ, không phải
mục tiêu, nó chỉ là phương tiện để chị chuyển tải một thông điệp khác. Chỉ bởi vì
Đã có không ít các bài viết trên các phương tiện thông tin đại chúng nói về
Bóng đè. Khen cũng nhiều mà chê cũng nhiều. Nó thực sự gây sốc cho một số
độc giả vốn quen với những nếp nghĩ truyền thống, coi đề tài tình dục như một
điều cấm kị. Nhưng, như nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đã cho rằng, văn
chương Việt Nam hiện đại “người” hơn bởi nó đã chạm vào phần sau của cuộc
sống và phần sâu của con người. Vẫn còn đó những phần người bị bỏ ngỏ, còn
nhiều sự thật của cuộc sống và con người chờ văn chương tiếp tục khai phá, thám
hiểm. Và truyện ngắn của Đỗ Hoàng Diệu đi vào một sự thật đó. Quả thật, với
cách viết mới lạ, táo bạo, có phần khiêu khích, đụng chạm đến những vấn đề từ
lâu được xem là cấm kị, là thế mạnh của nam giới, “Đỗ Hoàng Diệu đã phải đi
một con đường vòng đến với độc giả” (Phạm Xuân Nguyên). Chị đã thám hiểm
và khai phá nhiều vùng từng bị che lấp trong văn học, đập vào mắt người đọc bởi
bề nổi của câu chữ nhưng lại đụng đến những vấn đề của cả một thời đại, đầy sức
ám ảnh. Và với cách viết như vậy, “chị đã tự mở cho mình một con đường riêng
vào văn chương” [41].
Văn học đương đại Việt nam đã có một Vi Thuỳ Linh với Linh, với Khát;
nay lại xuất hiện một Đỗ Hoàng Diệu với Bóng đè. Không thể phủ nhận rằng, với
Bóng đè, không khí văn học của nước nhà trở nên sôi động hơn, nhiều “đất diễn”
hơn. Đó thực sự là một điều đáng mừng. Và càng đáng mừng hơn nữa khi bản
thân người cầm bút tuy góc cạnh, bạo liệt nhưng vẫn rất “người”: “Phàm là
người viết văn, phải đau nỗi đau của thân phận mình tạo dựng, để khi đến tay
22
độc giả, người đọc lại đau nỗi đau của nhân vật. Vô hình trung, một vòng quay
linh cảm được tạo lập. Tạo lập nhờ bản năng của nhà văn” [7, 2].
1.2.2. Vấn đề nữ quyền và màu sắc nữ quyền trong truyện ngắn ba tác giả
1.2.2.1. Vấn đề nữ quyền và văn học nữ quyền
1. Trong cái nhìn lịch sử, vai trò của nữ giới, mặc nhiên bị coi là vai trò lệ
thuộc và bị chi phối bởi nam quyền.
Và cuộc chiến đấu để giành lại vị thế đã mất của nữ giới - vốn âm ỉ rất lâu
văn học cũng như các hoạt động tinh thần khác.
Trong dân gian, người đàn ông Việt bao giờ cũng giữ tư cách là kẻ chinh
phục. Khi thì tế nhị, nhẹ nhàng: “Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng - Tre non đủ
lá đan sàng hay chưa?”, nhưng lúc thì sỗ sàng, táo tợn: “ Gặp em anh nắm cổ
tay. Anh hỏi câu này có lấy anh không?”, và cuối cùng là tuyệt đối về quyền lực:
“Đàn ông năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ lấy một chồng”. Văn học dân
gian - dù ít bị áp chế bởi tính quy phạm nhất, là tiếng nói hồn nhiên, trong trẻo
của người dân lao động cũng đã thừa nhận vai trò của kẻ mạnh - đàn ông, so với
đàn bà. Tư tưởng ấy ăn sâu trong đời sống lao động, xã hội, và không có cớ gì để
không xuất hiện một cách ngạo nghễ trong đời sống văn học trung đại - nền văn
học ảnh hưởng mạnh mẽ của Nho giáo Trung Hoa.
Nho giáo được du nhập vào xã hội Việt Nam khá sớm và trong nhiều thời
kì nó trở thành Quốc giáo. Cho đến tận đầu thế kỉ XX, đời sống, xã hội, văn hoá,
tư tưởng Việt Nam vẫn còn chịu ảnh hưởng mạnh bởi tư tưởng này. Là một đất
nước có hàng ngàn năm Bắc thuộc với nền văn hoá Nho giáo ảnh hưởng mạnh
mẽ từ Trung Hoa, vai trò áp chế của đàn ông so với đàn bà ở nước ta cũng đặc
biệt được chú trọng. Từ “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” cho
đến tư tưởng “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, chúng ta thấy một cái nhìn khá
nhất quán về tư tưởng trọng nam khinh nữ trong xã hội Việt Nam. Và, dù xã hội
bây giờ đã có nhiều bước phát triển mạnh mẽ với sự hội nhập quốc tế, ảnh hưởng
những tư tưởng tiến bộ nhưng tư tưởng trọng nam khinh nữ này vẫn còn tồn tại ở
nhiều vùng, miền, thậm chí là vẫn tồn tại ở những gia đình có học vấn cao. Điều
24
này làm cho cấu trúc dân số bị lệch trầm trọng, tỉ lệ sinh nam cao hơn nữ, dẫn
đến hậu quả xấu cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Một trong những vấn đề đáng
lên án chính là quan niệm nghiệt ngã của Nho giáo đối với người phụ nữ, chỉ ra
sự bất công đối với người phụ nữ, nhất là cách nhìn mang tính điển chế hoá đối
với người quả phụ (không khuyến khích họ tái giá) và đề cao mẫu người phụ nữ
thủ tiết và tuẫn tiết. Mẫu người này xuất hiện trong truyện về liệt nữ khá phổ biến
một nhà thơ nữ như Hồ Xuân Hương đề cập đến vấn đề quyền sống của người
phụ nữ xét về đời sống bản năng có ý nghĩa bênh vực nữ quyền thật sự. Bởi vì so
với nam giới, người phụ nữ chịu nhiều bất công, thiệt thòi nhất trong đời sống
bản năng” [51]. Mặc dù giàu tinh thần phản kháng và nổi loạn, nhưng, những
khúc tự tình của nữ sĩ họ Hồ vẫn chủ yếu là tiếng than thân trách phận. Cơ chế xã
hội, tư tưởng nam quyền không cho bà và những người phụ nữ nói chung hiện
thực hoá mong muốn của mình. Đó là lí do khiến bà phải ao ước: “Ví đây đổi
phận làm trai được - Thì sự anh hùng bá bấy nhiêu?” - “ẩn trong đó một trạng
thái tâm lí không chỉ riêng Hồ Xuân Hương mà là của nữ giới: muốn nên sự
nghiệp, phải đổi phận. Song mong ước kia, một mặt cho thấy sự đổi phận ấy
dường như là bất khả trong thực tế, mặt khác, gián tiếp xác nhận vị thế ưu thắng
của đàn ông” [13].
Tiếng nói bênh vực nữ quyền trong văn học giai đoạn này còn thể hiện
trong sáng tác của một số nhà nho là nam giới với “ba kiểu nhân vật phụ nữ đều
là do các nhà văn - nhà nho sáng tác - đã tạo nên những cơn sốt văn học cho giai
đoạn này là: người chinh phụ (vợ lính), người cung nữ và người kĩ nữ” [51].
Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều, và đặc biệt là Nguyễn Du đã lên tiếng đấu tranh
mạnh mẽ cho nữ quyền, thay mặt người phụ nữ đòi hỏi một tình yêu tự do, chủ
động, một tình yêu đôi lứa có màu sắc nhục thể. Các tác giả - nam giới đã viết về
cuộc đời họ với sự cảm thông, thương yêu, trân trọng đặc biệt. Được nhìn từ quan
điểm “hồng nhan bạc phận”, các tác giả đã “sử dụng mệnh đề này để nói lên sự bất
công, vô lí của xã hội nam quyền đối với những người phụ nữ có nhan sắc, kì thực
là sự lên án xã hội nam quyền đã biến người phụ nữ nhan sắc thành đồ chơi” [51].
Như vậy, trong bối cảnh Nho giáo giai đoạn này thì các nhà nho, là những người đàn
26
ông, vẫn có thể tiếp cận chủ nghĩa nữ quyền theo cách riêng của họ, nêu lên những
vấn đề mà thực tế cuộc sống và tầm nhìn của họ cho phép. (So với một số nhà nho
của thế kỉ XX thì những tác giả này có tư tưởng tiến bộ hơn nhiều).
2. “Phải bước sang xã hội hiện đại, khi trình độ dân trí được nâng cao,