Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
MỞ ĐẦU
1. Mục đích, lý do chọn đề tài
1.1. Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) là một trong những nhà văn xuất
sắc của văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX. Ông được coi là người mở đầu cho
trào lưu văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930 - 1945. Nguyễn Công
Hoan còn là một cây bút có sức sáng tạo dồi dào, dẻo dai, một tài năng xuất
sắc. Hơn nửa thế kỉ cầm bút nhà văn để lại một số lượng lớn các tác phẩm ở
nhiều thể loại khác nhau, trong đó nổi bật là truyện ngắn. Nhiều trong số các
truyện ngắn của ông được xếp vào truyện hay, có ý nghĩa tiêu biểu cho nền
văn học dân tộc. Chúng ta có thể sánh ông với những nhà văn viết truyện
ngắn trào phúng nổi tiếng nhất như Guy dơ Mopatxang, Sekhov…. [37,tr.
181]. Sáng tác của Nguyễn Công Hoan có sức hấp dẫn lớn đối với nhiều th ế
h
ệ độc giả, cho tới nay vẫn được tiếp tục khám phá và đào sâu để tìm tiếp
những " vỉa vàng" lấp lánh.
Sekhov (1860 - 1904) là đại biểu xuất sắc cuối cùng của văn học Nga thế
kỷ XIX, là nhà văn, nhà cách tân nghệ thuật mới mẻ trong lĩnh vực truyện
ngắn. Hơn hai mươi năm cầm bút, Sekhov để lại một khối lượng lớn truyện
ngắn có ảnh hưởng sâu rộng trong nền văn học Nga và thế giới. Sự nghiệp
sáng tác của ông vẫn luôn là hiện tượng hấp dẫn, lôi cuốn giới nghiên cứu phê
bình "nghĩ tiếp" và khơi sâu vào những " địa tầng" mới trong thế giới nghệ
thuật của ông.
Trải qua sự thử thách lâu dài của thời gian, truyện ngắn Nguyễn Công
Hoan và truyện ngắn Sekhov vẫn ngày càng thu hút sự quan tâm của bạn đọc
trong nước và ngoài nước. Điều đó chứng tỏ, truyện ngắn của hai nhà văn này
vừa mang những giá trị dân tộc đặc thù vừa đạt được những giá trị chung phổ
Sekhov”, chúng tôi tập trung xem xét những tư liệu có liên quan đến nhân vật,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
thế giới nhân vật trong truyện ngắn của hai nhà văn. Từ những tài liệu thu
thập được chúng tôi có những nhận xét sau:
2.1. Nguyễn Công Hoan và truyện ngắn
Nói đến Nguyễn Công Hoan là nói đến “ một đời văn lực lưỡng”. Ông
không chỉ có những đóng góp to lớn cho sự hình thành và phát triển của trào
lưu văn học hiện thực phê phán 1930 -1945 mà còn có công xây dựng nên
một nền văn xuôi Việt Nam hiện đại. Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
luôn thu hút được sự quan tâm, chú ý của các nhà nghiên cứu, phê bình văn
học trong mấy chục năm qua.
Nguyễn Công Hoan đã gây được sự chú ý của dư luận ngay từ tập truyện
ngắn đầu tiên “Kiếp hồng nhan”, xuất bản năm 1923. Nhưng phải đến những
năm 1929 – 1933 nhà văn mới thực sự khẳng định mình bằng những truyện
ngắn in ở mục Xã hội ba đào ký trong An Nam tạp chí do Tản Đà chủ trương.
Những truyện ngắn này được độc giả yêu thích. Tên tuổi của nhà văn chuyên
viết những “cảnh đi xuống của xã hội” đã nhanh chóng trở nên quen thuộc
với bạn đọc. Tháng 6 – 1935, khi tập truyện ngắn “ Kép Tư Bền” ra đời, sáng
tác của Nguyễn Công Hoan đã được bạn đọc đón nhận nhiệt tình và thu hút
được sự quan tâm đặc biệt của giới phê bình.. Tập Kép Tư Bền đã mở đầu cho
trào lưu văn học tả chân xã hội, đáp ứng nhu cầu bức thiết của xã hội.. Với
Nguyễn Công Hoan, Kép Tư Bền có thể xem là mốc đánh dấu trong đời văn
chương Ông viết: “ việc cuốn Kép Tư Bền được hoan nghênh làm tôi tin rằng
tôi có thể viết nổi tiểu thuyết và tôi có thể theo đuổi được nghề văn"
[35, tr.118].
Tập truyện với nghệ thuật độc đáo mới lạ, đã thu hút được đông đảo bạn
tác giả kết luận “Nhà văn ở đây vô tình lại có cái đau đớn, khổ sở lầm than
của hạng người cùng đinh nghèo khổ và cái giả trá xấu xa bất lương của bọn
quyền quý trưởng giả, nhà văn đã nhận thấy rằng: “cái xã hội hiện thời đầy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
rẫy sự ô trọc, giả dối lại xây lên trên mọi sự bất bình, là một xã hội cần phải
đạp đổ”” [17, tr.40].
Về thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, Vũ Ngọc
Phan đã nhận định : “Ông miêu tả đủ hạng người trong xã hội, nhưng ít khi
ông tả những ý nghĩ của họ nhất là những điều u uất của họ thì không bao giờ
ông đả động, bao giờ cũng đặt họ vào một khuôn riêng, đó là khuôn lễ giáo
hay phong tục mà họ đã " ra trò" với những bộ mặt phường tuồng của họ”
[64, tr.1078]
Trên đây là những ý kiến đánh giá và phê bình về thế giới nhân vật được
miêu tả, khắc hoạ trong truyện ngắn Nguyễn công Hoan trước năm 1945. Sau
năm 1945 các nhà nghiên cứu đi vào khai thác sâu hơn về thế giới nhân vật
trong truyện ngắn của ông và đi đến những ý kiến thống nhất về nghệ thuật
mô tả nhân vật, xây dựng tính cách nhân vật, chân dung nhân vật trong truyện
ngắn Nguyễn Công Hoan.
Nhóm tác giả trong cuốn Sơ khảo lịch sử văn học Việt Nam có nhận xét
về nghệ thuật khắc hoạ nhân vật như sau: " ông có sở trường về cách mô tả tư
cách hèn hạ, đê tiện hết chỗ nói của bọn quan lại sâu mọt, bọn nha lại, bọn
hãnh tiến giầu có, sang trọng và khinh người" [ 9, tr.101].
Nói về cách xây dựng nhân vật của Nguyễn Công Hoan qua thủ pháp
nghệ thuật trào phúng, Trương Chính lại cho rằng: "cách vẽ phóng đai, cách
vẽ biếm hoạ của nghệ thuật gây cười... cách tập trung tất cả những cái xấu về
hình thức cũng như về tư tưởng vào nhân vật phản diện không phải là cách
sáng tạo điển hình. Cách đó sẽ làm cho nhân vật kỳ dị, méo mó, không thật.
đoạn giao thời 1900 - 1930 nhận xét về ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan, cho rằng: "Đọc ông, độc giả phân biệt rõ đâu là ngôn
ngữ của tác giả đâu là ngôn ngữ nhân vật và mỗi nhân vật đều có ngôn ngữ
của riêng mình. Với Nguyễn Công Hoan, có thể nói truyện ngắn hiện đại và
ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại đã hình thành" [13, tr.386]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
Nguyễn Đức Đàn trong Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán Việt
Nam đã nhận xét như sau: “Với số lượng khá lớn như vậy… Nguyễn Công
Hoan đã hợp thành một bức tranh rộng lớn khá đầy đủ về xã hội cũ. Hầu hết
trong xã hội thực dân phong kiến đều có mặt: nông dân, công nhân, tiểu tư
sản, trí thức làm các nghề tự do như thầy thuốc, nhà báo, nhà văn, nhà giáo,
các nghệ sĩ, tư sản, các nhà buôn, nha thầu khoán, địa chủ, quan lại, cường
hào,nghị viên, công chức, học sinh đứa ở, phu xe, kẻ cắp, anh hát xẩm, chị
bán hàng rong, binh lính, bồi bếp…từ các giai cấp bị bóc lột, các giai cấp
thống trị và các tầng lớp trung gian cho đến những người ở dưới đáy của một
xã hội hết sức phức tạp”. “Quả thật, Nguyễn Công Hoan là một nhà văn có
tài xây dựng nhân vật phản diện (...) việc xây dựng nhân vật phản diện cho
phép nhà văn được tô đậm khuếch ®¹i những nét tiêu biểu” [14, tr.351]
Nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan nhiều nhất phải kể đến Lê Thị Đức
Hạnh, với những công trình nghiên cứu sâu sắc, cụ thể, bà đã chỉ ra được
những đặc điểm nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan. Khi nhận
xét về cách miêu tả nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, bà
viết: “Cách miêu tả nhân vật trong sự đối lập giữa hai sự vật bản chất khác
nhau, giữa bản chất với hiện tượng, nội dung với hình thức..." [28, tr.58]
Nhận xét về chân dung nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan,
tác giả Hoàng Anh trong Văn tập 39 khẳng định: "Những chân dung Nguyễn
Công Hoan vẽ nên là những ký hoạ hoặc biếm hoạ linh hoạt, không chỉ đặc tả
đó là phẩm chất cao quý của nhà văn, nhờ đó mà Sekhov đã sáng tạo ra được
những hình thức viết mới, hoàn toàn mới” [20, tr.330] hoặc “đây là một viên
ngọc, một ngôn từ tuyệt diệu. Cả Tuôcghênhep và Gônsarôp, cả tôi không ai
viết được như ông ta” [58, tr.41]. Nhận xét này có ý nghĩa định hướng và cổ
vũ A.sêkhov vững tin sáng tạo.
G.N. Pospelôp với chuyên luận “Dẫn luận nghiên cứu văn học”, khi xây
dựng lý thuyết về cốt truyện cũng đánh giá quan trọng về những cách tân
nghệ thuật trong truyện ngắn của nhà văn: “ Cơ sở của truyện không phải là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
các sự kiện đột biến, mà là những cơn thăng trầm trong cảm xúc của nhân
vật, thường là độc lập với bất cứ sự kiện nào, sự cảm thụ và lý giải các hiện
tượng và sự thực ngày càng mới, những sự bừng sáng của trí tuệ, các bước
chuyển hoá từ quan niệm hư ảo đến cái nhìn tỉnh táo, sâu sắc có tính phê
phán đối với thế giới, hoặc là ngược lại, ngày càng phụ thuộc vào sức ỳ của
cái tầm thường”[63, tr.42]
M.Gorki là người rất say mê Sekhov. Ông đã nhận xét: “Sự tầm thường
ti tiện là kẻ thù của anh, suốt đời anh đã đấu tranh với nó, bắt nó hiện nguyên
hình nghiêm khắc qua ngòi bút của anh, anh biết moi móc ra vết mốc meo hôi
hám của nó ở ngay chỗ mà mới nhìn tưởng như mọi vật đều sắp đặt khéo léo
và có vẻ choáng lộn nữa” [59, tr.36]. Đồng thời ông cũng khẳng định tinh
thần nhân đạo trong tác phẩm Sekhov: “Mỗi một truyện của Sekhov đưa ra, là
nhấn sâu thêm vào cái điểm dũng cảm và yêu thương cuộc đời, nó là một
điểm rất quý và rất cần cho chúng ta”… “ Mỗi một truyện ngắn là một cái
thảm kịch nhỏ, nó cảm người một cách sâu sắc” [78, tr.258]
M.Gorki đã có những nhận xét chân thành và sâu sắc về tính hiện thực
trong sáng tác của Sêkhov: "Tất cả những con người ấy, kẻ xấu cũng như
người tốt, đều sống trong câu chuyện của Sekhov đúng như họ sống trong
nhân vật của Sekhov, Hoàng Xuân Nhị nhận xét: “lần đầu tiên trong văn học
Nga và thế giới chúng ta thấy toàn bộ sáng tác của nhà văn tập trung vào
biểu hiện những con người nhìn bề ngoài mà nói rất tầm thường, biểu hiện
cảnh sống buồn chán, nghẹt thở, đau thương của họ”[ 65, tr.79]
Dịch giả Đỗ Khánh Hoan cho rằng: Thế giới nhân vật Sekhov "là một
nhân loại nho nhỏ", qua đó ông nhấn mạnh tính phức tạp của những "mảnh
đời" những "mảng sống" của đủ mọi hạng người trong xã hội. Nhà nghiên
cứu Phan Hồng Giang đã đưa ra những nhận định để khái quát số lượng nhân
vật đông đảo, nhân vật trong truyện ngắn của Sekhov "đó là những cảnh
tượng đông đúc huyên náo thật đáng kinh ngạc, hàng nghìn con người, chải
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
chuốt và bê tha… nói tóm lại chúng ta sẽ gặp được cả một thế giới trên cái
đường phố tưởng tượng kia một thế giới thu nhỏ dường như thật hơn, cô đọng
hơn, vừa xấu xa hơn mà cũng vừa cao cả hơn" [20, tr.12]
Năm 2004 ở Việt Nam đã có một cuộc hội thảo kh oa học kỉ niện 100
năm ngày mất Sekhov. Chúng tôi chú ý đến một số ý kiến về nhân vật trong
truyện ngắn Sekhov.
Đi sâu tìm tòi những cái mới trong truyện ngắn Sekhov, Nguyễn Hải Hà
đã chú trọng khám phá “Sekhov không trực tiếp miêu tả nhân vật như
F.Dostoievski, L.Tonxtoi nhưng ông vẫn quan tâm đến thể hiện tâm lý theo
cách riêng của mình, qua hành động, đối thoại, cảm nhận thiên nhiên và qua
chân dung nữa". Đồng thời chú ý đến bút pháp nghệ thuật trong miêu tả chân
dung của Sekhov, ông viết: "Ông rất chú trọng đến chân dung nhân vật, nắm
bắt tâm lý của nó". [22, tr.6]. Bên cạnh đó, Nguyễn Hải Hà trong bài Cái mới
trong truyện ngắn Sekhov, đã chỉ ra thói tật nô lệ của những nhân vật trong
truyện ngắn của Sekhov: “Có thể nói thói nô lệ ngấn sâu và đầu độc người
lớn, trẻ em, đàn ông, đàn bà, trí thức, viên chức, quan nhân, thương gia, sinh
sánh truyện ngắn của Se khov với truyện ngắn của Nam Cao nhà nghiên cứu
đã chỉ ra những tương đồng loại hình trong sáng tác của hai nhà văn thể hiện
ở kiểu truyện “không cốt truyện”, ở nghệ thuật trần thuật (người kể chuyện,
ngôi kể, điểm nhìn…), ở nghệ thuật xây dựng tâm lí nhân vật. Từ những so
sánh nêu trên nhà nghiên cứu đã hướng tới kết luận về một “chủ nghĩa hiện
thực kiểu mới” mà người mở đầu trong văn học Nga giao thời thế kỉ XIX- XX là
Sekhov, trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945, là nhà văn Nam Cao.
Tóm lại: Từ những ý kiến trên chúng tôi nhận thấy:
- Về vị trí, vai trò của hai nhà văn viết truyện ngắn Sêkhov và Nguyễn
Công Hoan, hầu hết các ý kiến đều nhất trí khẳng định tài năng cùng những
đóng góp của họ cho văn học nước nhà và văn học thế giới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
- Các ý kiến đó đều thống nhất khẳng định thế giới nhân vật phong phú,
đa dạng, độc đáo trong truyện ngắn của hai nhà văn.
- Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu chưa tập trung phân tích thế giới nhân
vật của hai nhà văn, nhất là đặt nó trong hệ thống tiếp cận thi pháp học. Hơn
nữa, chưa có công trình chuyên biệt nào nghiên cứu và so sánh thế giới nhân
vật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan và Sekhov.
- Mặc dù vậy, những ý kiến chúng tôi thu thập trên đều là những gợi
mở, định hướng tốt cho chúng tôi khi lựa chọn và thực hiện đề tài.
3. Phạm vi nghiên cứu
3.1. Thực hiện đề tài, chúng tôi lựa chọn những truyện ngắn tiêu biểu
trong tập Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan, Nhà xuất bản Văn học,
Hà Nội 2005 và những truyện ngắn trong Truyện ngắn Sekhov, NXB Văn
học 1978, tập I, II, để khảo sát và trích dẫn. Số lượng tác phẩm ở hai tập
truyện ngắn của hai nhà văn rất nhiều, nhưng chúng tôi chỉ chọn ở mỗi nhà
văn 30 tác ph
4.3. Phương pháp so sánh: giúp cho chúng tôi chỉ ra những nét tương
đồng và khác biệt của hai nhà văn, ở hai quốc gia khác nhau trong những điều
kiện lịch sử (dựa trên phông văn hoá khác nhau, lịch đại, lịch sử khác nhau).
Sử dụng phương pháp loại hình nhằm so sánh truyện ngắn Nguyễn Công
Hoan và Sekhov trên một cấp độ và bình diện cụ thể, để từ đó chỉ ra những
nét tương đồng mang tính phổ quát và cả những nét khác biệt mang tính
đặc thù.
4.4. Phương pháp phân tích tổng h ợp: giúp chúng tôi đi vào phân tích
nhân vật cụ thể nhằm thuyết minh cho những luận điểm, từ đó quy nạp, tổng
hợp lại vấn đề.
5. Những đóng góp mới của luận văn
So sánh thế giới nhân vật trong truyện ngắn của hai nhà văn có “cơ địa
sáng tác” khác nhau này, chúng tôi muốn hướng tới những tương đồng về
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
loại hình nhân vật trong truyện ngắn của hai ông, đồng thời chỉ ra những điểm
độc đáo trong phương thức xây dựng thế giới nhân vật của từng nhà văn, qua
đó xác định những đóng góp của hai nhà văn đối với chủ nghĩa hiện thực trong
văn học Việt Nam, văn học Nga nói riêng và văn học thế giới nói chung.
Thực hiện được điều này, luận văn bước đầu đóng góp thêm vào việc tìm
kiếm những cách thức tiếp cận mới sáng tác của Nguyễn Công Hoan, nhằm
phát hiện những giá trị về nội dung, tư tưởng nghệ thuật đang còn tiềm ẩn
trong thế giới nghệ thuật của nhà văn. Điều này bổ sung thêm một cách “đọc
hiểu” hiện tượng văn học được coi là có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình
văn học thế kỉ XX ở Việt Nam.
CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
em, Nguyễn Công Hoan phải đến ở với bác ruột - một Phó bảng, làm Tri
huyện. Những năm tháng sống ở nhà bác, Nguyễn Công Hoan chứng kiến rất
nhiều chuyện xung quanh mối quan hệ quan - dân. Chuyện nhà quan, chuyện
làm quan đã để lại những ấn tượng sâu sắc, làm thành ý thức khám phá thời
cuộc ở Nguyễn Công Hoan.
Năm 1926, Nguyễn Công Hoan tốt nghiệp trường sư phạm, bắt đầu cuộc
sống tự lập của một ông giáo tiểu học. Cuộc đời dạy học của ông không mấy
suôn sẻ. Vốn tinh tường, sắc sảo, trung thực, khảng khái, Nguyễn Công Hoan
không được cấp trên vừa ý. Ông bị chuyển chỗ dạy nhiều nơi. Thị xã Hải
Dương, Thị xã Lao Cai, Thị xã Nam Định, Trà cổ… là những nơi Nguyễn
Công Hoan bị điều đến và dạy học. Mỗi nơi, ông và gia đình không ở quá
được 2 năm. Vất vả, long đong, nhưng bù lại, ông có điều kiện đi nhiều nơi,
biết và khám phá được nhiều điều.
Năm 17 tuổi, truyện ngắn đầu tay “Quyết chí phiêu lưu” (1920) của
Nguyễn Công Hoan ra đời. Năm 20 tuổi, tập truyện ngắn “Kiếp hồng nhan”
ra mắt độc giả. Cũng như “Quyết chí phiêu lưu”, tập “Kiếp hồng nhan”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
không được độc giả đón đợi nhiều. Năm 1935, truyện ngắn “Kép tư bền” ra
đời, gây một tiếng vang lớn trên văn đàn, khẳng định tài năng nghệ thuật, mở
ra một giai đoạn mới, sung sức trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan. Có thể
coi, sự nghiệp văn học của Nguyễn Công Hoan được bắt đầu từ những năm
20 và thực sự được khẳng định ở những năm 30 của thế kỷ XX, với thể loại
truyện ngắn. Giai đoạn sáng tác truyện ngắn thành công nhất của Nguyễn
Công Hoan được tính từ 1920 đến 1945. Đây là thời kỳ mà tình hình chính trị,
xã hội Việt Nam rất phức tạp, rối ren với tính chất thực dân nửa phong kiến.
Nhà nước phong kiến già nua, lỗi thời, phản động, chế độ thực dân tàn bạo
hiện hữu và cùng với nó là sự đàn áp khốc liệt phong trào đấu tranh của nhân
biến đổi khi ồn ào, dữ dội, lúc bình lặng, tinh vi. Không một câu chuyện nào
ngoài đời, không một cảnh tượng nào bất chợt xuất hiện…, lại không được
ông lưu giữ. Một gánh tuồng với những đào kép son phấn lòe loẹt diễu qua
phố lúc chiều muộn, một mẩu tin trên báo đọc hàng ngày, có thể thoáng qua,
vô nghĩa đối với người khác, nhưng với ông lại có giá trị và ông không bỏ
qua. Với lòng yêu nước, với cái nhìn sắc sảo, tỉnh táo, Nguyễn Công Hoan
quan niệm cuộc đời là một sân khấu hài kịch. Ông từng tự bạch: “Tôi là một
người bi quan, hoài nghi, nên khinh thế ngạo vật, hay đùa và hay chế nhạo.
Sống dưới chế dộ thống trị của thực dân, tôi thấy cái gì cũng là giả dối, lừa
bịp, đáng khôi hài. Thế mà thằng làm trò khôi hài là thằng thực dân, lại làm
ra mặt nghiêm chỉnh. Thật là buồn cười. Cho nên tôi hay chế giễu, mỉa mai để
khôi hài tác giả việc khôi hài. Tôi coi thường tất cả. Tất cả đối với tôi chỉ là
trò cười. Vì vậy tôi hay pha trò cười” [35, tr.367].
Cái nhìn thời cuộc, xã hội thuộc địa thực dân phong kiến này của
Nguyễn Công Hoan gặp gỡ cái nhìn của Vũ Trọng Phụng. Vũ Trọng Phụng
cũng nhìn thấy sự quay cuồng, hỗn loạn, điên đảo của “xã hội chó đểu”. Ông
cũng phanh phui thực chất sự vô luân lý, vô nghĩa lý của xã hội, khi bố con
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
trở thành kẻ thù, vợ chồng hóa ra anh em, nghèo đói trở thành triệu phú, mạt
hạng trở thành vĩ nhân. Có thể nói, cả Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng
Phụng đều nhìn đời là một trò diễn sân khấu đầy bi hài. Bằng cách của riêng
mình, mỗi ông đã giải phẫu những sinh thể quái dị ấy, “xé toạc mọi trạng thái
đang bị che giấu”. Không chỉ nhìn đời bằng con mắt lạnh lùng, kết hợp khôi
hài để chế giễu những trò diễn sân khấu, Nguyễn Công Hoan còn nhìn đời
bằng con mắt trắc ẩn, đầy cảm thông, đau xót. Là một người nhân hậu, sống ở
thời kỳ đất nước bị đô hộ, dân chúng lầm than, đói nghèo, loạn lạc. Ông luôn
khuyên, dạy các con: “Con người sống phải biết căm thù bọn bóc lột và yêu
có thể tóm tắt bằng một câu, nêu lên một ý” [35, tr.307].
Từ những sự có thật trong cuộc sống, tìm cho nó được hình thức Nguyễn
Công Hoan còn rất chú ý tới kỹ thuật viết để sao cho thích hợp với ngòi bút
trào phúng của mình, đồng thời làm cho truyện nổi rõ tư tưởng, chủ đề. Quan
niệm của Nguyễn Công Hoan về một truyện hay là “dễ hiểu. Người đọc phải
nhận ra được, phải hiểu tác giả định nói cái gì?” [35, tr.132]. Theo Nguyễn
Công Hoan để người đọc hiểu được truyện, nhận thấy được từ truyện những
cái đang có rất nhiều ở ngoài đời, điều căn bản mà nhà văn phải làm là biết sử
dụng chi tiết, phải biết “bớt cái thừa, thêm cái thiếu, nhấn mạnh cái cần ở
trong sự việc có thật” [35, tr.315]. Nguyễn Công Hoan sử dụng chi tiết với tư
cách là một trong những phương tiện hữu hiệu nhất để p hản ánh cuộc sống
với tất cả sự rộng lớn bên trong.
Tóm lại, thời đại, hoàn cảnh xã hội cụ thể, điều kiện gia đình, đã tác
động mạnh mẽ đến quá trình hình thành, phát triển tài năng của Nguyễn Công
Hoan. Hiện thực cuộc sống của một trí thức yêu nước đã trở thành nguồn
nguyên liệu quý giá để Nguyễn Công Hoan kiến tạo nên hệ thống hình tượng
trong sáng tác của mình. Những quan niệm về cuộc đời, về con người đã giúp
nhà văn tìm hiểu, khám phá hiện thực, phản ánh hiện thực một cách sống
động trong tác phẩm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
21
1.1.2. Hệ thống nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Mỗi tác phẩm nghệ thuật hàm chứa một thế giới nghệ thuật do nhà văn
sáng tạo ra và nó mang tính chỉnh thể. Đó là toàn bộ những yếu tố hợp thành,
cấu tạo nên tác phẩm nghệ thuật. Giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ, tạo nên
giá trị thẩm mỹ, tư tưởng và nội dung cho tác phẩm. Đối tượng phản ánh của
thế giới nghệ thuật là hiện thực khách quan. Qua thế giới nghệ thuật, nhà văn
bộc lộ quan niệm về thế giới, con người và cách cắt nghĩa về thế giới đó, con
đích phản ánh. Với tiêu chí này, chúng tôi tiến hành khảo sát hệ thống nhân
vật trong truyện ngắn. Chúng tôi tiếp tục xem xét, các nhà văn đã cắt nghĩa
những vấn đề thời đại như thế nào qua hệ thống nhân vật đó.
Đề tài và những vấn đề xã hội mà Nguyễn Công Hoan đề cập trong
truyện ngắn rất đa dạng, phong phú. Xuyên suốt các tác phẩm là bức tranh đời
sống, hiện thực xã hội Việt Nam những năm đầu XX phức tạp, đảo điên. Bức
tranh đó được hiện ra với hai mảng mầu đối lập. Một bên là những quan lại,
cường hào, tư sản ăn trên, ngồi trốc. Một bên là những số phận nghèo hèn,
lầm than, khổ nhục.
Khảo sát 30 truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, chúng tôi có kết quả sau:
TT Tên tác phẩm
Nhân vật
Ghi
chú
Nhân vật là những
dị tật của Xã hội
Nhân vật là những
nạn nhân bi thảm
của xã hội
1 Răng con chó nhà tư sản X
2 Oẳn tà roằn X
3 Hai thằng khốn nạn X
4 Người ngựa ngựa người X
5 Gói đồ nữ trang X
6 Thằng ăn cắp X
7 Báo hiếu trả nghĩa cha X
8 Báo hiếu trả nghĩa mẹ X
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
một gồm những nhân vật thuộc lớp quan lại, địa chủ, cường hào, ác bá, tư sản
mới lên. Tuyến này chiếm tỷ lệ tương đối nhiều (19/30) trong truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan. Có thể nói, đây là những nhân vật quen thuộc và là
những nhân vật xấu trong xã hội thuộc địa, phong kiến. Đó là bọn nhà giầu,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
24
cậy quyền cậy thế mà ức hiếp người nghèo. Đó là bọn quan lại, địa chủ, tư
sản, tiểu tư sản với những nét nhơ bẩn cả về vật chất lẫn tinh thần. Loại người
này xuất hiện nhiều trong xã hội nhốn nháo, nửa Tây, nửa Ta, nửa Tầu.
Chúng là sản phẩm tấ t yếu của xã hội đó. Nguyễn Công Hoan đã đưa chúng
vào tác phẩm, tạo điều kiện cho chúng diễn đủ trò. Điều mà Nguyễn Công
Hoan nhìn thấy và muốn chỉ cho mọi người thấy là ở chỗ: xã hội đầy rẫy sự
bất công, lừa bịp, xấu xa, trơ trẽn, bẩn thỉu, nhưng, kẻ thống trị lại cố tìm mọi
cách để che đậy. Đưa chúng vào tác phẩm, Nguyễn Công Hoan phanh phui
những mâu thuẫn đó, phơi bầy những xấu xa, tàn bạo đó. Loại nhân vật này
xuất hiện dưới hai dạng thức. Một là bọn quan lại phong kiến, vô trách nhiệm,
“ăn bẩn”, bọn tư sản hãnh tiến ác độc. Đó là quan huyện, xuất hiện lúc là
Quan, lúc là Huyện Hinh, lúc là Tổng đốc Lê Thăng …; Đó là các cụ chánh
bá, lý trưởng…. Những điển hình này mang tính khái quát về lũ sâu mọt
(nhân danh nhà nước, đại diện nhà nước) chuyên đục kho ét, áp bức dân lành
với đủ mánh khóe, thủ đoạn. Đó là các ông chủ hãng xe hơi, ông chủ báo, nhà
tư sản… vô nhân tính, keo bẩn, độc ác. Hai là hệ thống nhân vật bị đồng tiền
chi phối mà trở nên mất nhân cách, vô liêm sỉ, mất lương tâm. Loại này xuất
hiện tương đối nhiều (10/19) truyện. Cuộc sống xã hội Việt Nam buổi giao
thời hiện ra với bao điều kệch cỡm, xa hoa, lố lăng, nhảm nhí. Thói đạo đức
giả, đểu cáng được phơi bầy trong một loạt các truyện như: “Mất cái ví”,
“Xuất giá tòng phu”…. Hình ảnh ông Tham bày trò mất ví để đuổi khéo cậu
ruột ra khỏi nhà khiến người đọc bật ra tiếng cười khinh miệt. Tiếp nhận hình
nhân vật - đồ vật. Nhân vật hóa đồ vật là một thủ pháp các nhà trào phúng
thường sử dụng và khai thác triệt để khả năng phản ánh hiện thực của chúng.
Nói về cuộc sống khốn khổ của người dân bằng chính họ chưa đủ, Nguyễn
Công Hoan còn sử dụng đồ vật như nhân vật để làm tăng cái nghèo, cái bấp
bênh, cái khốn cùng của kiếp người (“Chiếc quan tài”).