đặc điểm truyện ngắn nguyễn minh châu trước 1975 - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN


VÕ HỒNG NHẬT
MSSV: 6116139

ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN MINH CHÂU TRƯỚC 1975

Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ văn

Cán bộ hướng dẫn: LÊ THỊ NHIÊN

Cần Thơ, năm 2014


ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
ĐỀ TÀI: ĐẶC

ĐIỂM TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN MINH CHÂU TRƯỚC 1975

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu

2.3.2 Sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đất nước
2.3.3 Sẵn sàng là hậu phương vững chắc để phục vụ tiền tuyến

CHƯƠNG III: ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN MINH CHÂU TRƯỚC 1975
3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật
3.1.1 Miêu tả ngoại hình nhân vật
3.1.2 Nghệ thuật thể hiện tính cách nhân vật
3.1.2.1 Hành động nhân vật
3.1.2.2 Ngôn ngữ đối thoại


3.1.2.3 Ngôn ngữ độc thoại
3.2 Không gian và thời gian nghệ thuật
3.2.1 Không gian nghệ thuật
3.2.2 Thời gian nghệ thuật
3.3 Ngôn từ nghệ thuật
3.3.1 Nghệ thuật sử dụng từ ngữ
3.3.2 Nghệ thuật sử dụng cấu trúc ngữ pháp
3.3.3 Nghệ thuật sử dụng các biện pháp tu từ
3.4 Giọng điệu nghệ thuật

KẾT LUẬN


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nền văn học Việt Nam hiện đại đã được điểm nét son bằng chính cuộc đời và tác
phẩm của những nhà văn chân chính, trong đó có nhà văn Nguyễn Minh Châu. Có lúc
sáng tác của ông đã trở thành “một hiện tượng văn học”, thu hút sự quan tâm của dư luận.


2. Lịch sử vấn đề
Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu viết trong thời kì chiến tranh được chọn
trong tập Những vùng trời khác nhau và một số truyện ngắn in trong Tạp chí Văn nghệ
Quân đội. Bước vào con đường viết văn, sáng tác của ông tuy chưa được khẳng định như
các tác giả cùng thời nhưng ông cũng gặt hái được thành công nhất định.
Trong bài viết Đọc Những vùng trời khác nhau của Nguyễn Minh Châu in trong
Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 9, 1970, Nguyễn Kiên nhận xét: “Ngòi bút Nguyễn Minh
Châu chăm chỉ, chừng mực, mộc mạc, chân tình, trang sách nào cũng đều thấp thoáng kỉ
niệm, truyện ngắn gọn nhưng không bó hẹp” [11]. Tuy nhiên chúng ta có thể thấy
Nguyễn Minh Châu có hai cách viết khác nhau khá rõ rệt, xuất phát từ cái thực và kết hợp
cái thực với cái kì diệu trong cuộc sống anh hùng của nhân dân và quân đội. Và nhận
định trên phần nào khẳng định được Những vùng trời khác nhau đã thành công và ghi
dấu ấn trong lòng người đọc.
Nguyễn Thị Minh Thái có cái nhìn khá thực về Ấn tượng về nhân vật nữ của
Nguyễn Minh Châu (Tạp chí Văn học số 3, 1985): “Nhân vật nữ đã làm trung tâm với
tính cách mạnh và rõ. Câu chuyện diễn biến theo lời kể, cách dựng truyện thoải mái, tự
nhiên, bút pháp miêu tả diễn biến tâm lý tinh tế” [20]. Với nhận xét trên, nhân vật nữ
trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu được miêu tả rất chân thực, mang vẻ đẹp của
những anh hùng chống Mỹ cứu nước trong thời kì chiến tranh.


Bài viết Hướng đi triển vọng của Nguyễn Minh Châu đăng ở Tuần báo Văn nghệ
số 364, 1970 của Nguyễn Đăng Mạnh và Trần Hữu Tá cho rằng: “Nguyễn Minh Châu
hầu như chỉ xây dựng một loại nhân vật tốt đẹp, cao thượng, anh hùng, cái tiêu cực rất ít
thấy, nhân vật giàu tình cảm và suy tưởng. Đến nay nhân vật thành công của ông đều là
những nhân vật có tuổi, để phản ánh hiện thực ngày nay không chỉ giới hạn thế giới nghệ
thuật của ông trong loại nhân vật đó” [14]. Quả thật vậy, trong nhiều truyện ngắn của
ông, nhân vật được miêu tả với tư cách anh hùng, bất khuất, giàu tình cảm, để lại ấn
tượng sâu đậm trong lòng độc giả, ông ít đề cập đến những nhân vật tiêu cực.

của đại đội, câu chuyện trên vùng đất sỏi), ông tái hiện đời sống khách quan thông qua sự
nhận thức, đánh giá, khái quát, thể hiện mang tính chủ quan của nhà văn, nhà văn phải
tập trung phản ánh đời sống, con người qua các biến cố, các sự kiện xảy ra với nó.
“Nguyễn Minh Châu rất coi trọng yếu tố chi tiết trong tác phẩm, chi tiết có sức
chuyên chở khá nặng tư tưởng của nhà văn và thái độ bình giá của ông trước một hiện
thực bộn bề, phức tạp. Ở một số tác phẩm ngôn ngữ đã đạt sự chuẩn xác, hài hòa” [12]
là ý kiến của Tôn Phương Lan trong bài viết Chiến tranh qua những tác phẩm văn xuôi
được giải (Tạp chí Văn học số 12/94). Ở truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, chi tiết đóng
vai trò quan trọng, nó góp phần tạo dựng không khí và tình huống, khắc họa tính cách,
hành động, tâm lý nhân vật, tạo nên thành công cho truyện ngắn của ông trong thời kì
này.
Nguyễn Minh Châu là hiện tượng văn học khá hiếm hoi bởi vì xung quanh sáng
tác của ông có quá nhiều ý kiến đánh giá khác nhau, thậm chí đối nghịch hoàn toàn. Như
vậy, nghiên cứu về Nguyễn Minh Châu và truyện ngắn của ông là đề tài được rất nhiều
nhà nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên vẫn còn thiếu những công trình khảo sát một cách
chuyên sâu về đặc điểm truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu trước 1975.

3. Mục đích nghiên cứu


Trong một tác phẩm văn học, nội dung và hình thức là hai mặt của của một chỉnh
thể thống nhất. Sự hài hòa giữa nội dung và hình thức sẽ làm nên giá trị của tác phẩm văn
học. Việc nghiên cứu đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trước 1975 nhằm đi tìm
thế giới nội dung và thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu để chỉ ra
sự hài hòa, hợp lý của hình thức nghệ thuật mà tác giả đã tạo dựng nên đối với nội dung
và tư tưởng tương ứng. Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sẽ làm nổi bật một
số phương diện của nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trước
1975. Đây là đề tài tương đối mới nên những công trình nghiên cứu, nhận xét trên cũng
cung cấp nhiều thông tin quý giá để chúng tôi tiếp cận và làm nền tảng để có hướng đi
đúng đắn trong quá trình nghiên cứu đề tài đạt được hiệu quả cao hơn.


-

Người mẹ xóm nhà thờ

-

Mảnh trăng

-

Sau một buổi tập

-

Gốc sắn

-

Đôi đũa trúc

-

Trên vùng đất sỏi

-

Những hạt thóc lép

-

1.1 Truyện ngắn – khái niệm và đặc điểm
1.1.1 Khái niệm truyện ngắn
Khái niệm truyện ngắn là một vấn đề mà nhiều nhà nghiên cứu còn thắc mắc và chưa
thống nhất với nhau. Vì vậy, trong phạm vi đề tài nghiên cứu này chúng tôi xin đưa ra
một số nhận định và ý kiến của một số nhà văn, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về
khái niệm truyện ngắn.
Trong bài viết Nhìn lại truyện ngắn hiện đại, nhà văn Anh H.E. Bates cho rằng:
“Truyện ngắn rất khó định nghĩa vì truyện ngắn có thể là bất cứ thứ gì mà tác giả quyết
định, từ tĩnh tại, không cốt truyện, từ bài thơ ở dạng văn xuôi, được vẽ chứ không phải
được viết, từ ánh sáng phát ra tia rực rỡ của cảm xúc không thể nắm bắt được đến một
câu chuyện chặt chẽ trong đó cảm xúc, hành động, phản hành động đều được đo đạc, cố
định, gắn chặt, đánh bóng và hoàn thiện như một ngôi nhà được xây kĩ, sơn ba lớp bóng
nhoáng và bền” [23, tr. 11]. Ở đây nhà văn cho rằng chưa có một định nghĩa cụ thể, đầy
đủ cho thể loại truyện ngắn mà còn lý giải ở nhiều khía cạnh khác nhau chưa định hình rõ
về thể loại.
Nhà văn Nga K. Pauxtopxki cũng có một định nghĩa về truyện ngắn, gắn với định
nghĩa của Goethe: “Thật chất truyện ngắn là gì? Tôi nghĩ rằng truyện ngắn là một truyện
viết ngắn gọn, trong đó cái không bình thường hiện ra như một cái bình thường và cái gì
bình thường hiện ra như một cái không bình thường” [17, tr. 105]. Như thế các tác giả và


nhà nghiên cứu đều thừa nhận yếu tố bất thường, kỳ lạ gây ngạc nhiên và hấp dẫn đối với
người đọc là đặc trưng chủ yếu của truyện ngắn hiện đại.
Theo nhà văn Mĩ U.Xaryoan: “Truyện ngắn là một thể tài văn học sinh ra một cách
tự nhiên, từ những câu chuyện hằng ngày, những câu đùa, những lời trêu chọc của người
này, người nọ, người kia. Nó hết sức dẻo dai để thích hợp với những biến động trong cảm
hứng, cũng tức là tải được mọi sắc thái tài năng của người kể chuyện” [18, tr. 104]. Như
thế, nhà văn cho rằng truyện ngắn hình thành từ những bình dị của đời thường mà ta có
thể cảm nhận và khéo léo pha một chút sáng tạo thì có thể tạo ra phong cách sáng tác
riêng cho một tác giả.

Truyện ngắn thường chỉ tập trung vào một tình huống, một chủ đề nhất định do đó,
truyện ngắn thường hết sức hạn chế về nhân vật, thời gian và không gian trong truyện
ngắn cũng không trải dài như tiểu thuyết. Đôi khi truyện ngắn chỉ là một khoảnh khắc
của cuộc sống, nó tái hiện đời sống khách quan thông qua sự nhận thức, đánh giá, khái
quát, thể hiện mang tính chủ quan của nhà văn, nhà văn phải tập trung phản ánh đời sống,
con người qua các biến cố, các sự kiện xảy ra với nó. Truyện có ngắn nhưng không thể
ngắn hơn cái mức người ta có thể hiểu ý đồ của tác giả. Về nội dung, truyện ngắn có thể
kể về cả một cuộc đời, một sự kiện hay một khoảnh khắc trong cuộc sống nhân vật.
Trong tập truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài miêu tả về cuộc đời của người phụ
nữ Tây Bắc nghèo khổ với niềm cảm thông sâu sắc nhân vật Mị, một cô dâu gạt nợ đang
chết dần chết mòn, bị đày đọa về thể xác lẫn tinh thần giữa địa ngục nhà thống lý Pá Tra,
nhưng người phụ nữ ấy vẫn có sức sống tiềm tàng, mãnh liệt. Hay cuộc đời của Chí Phèo
từ khi sinh ra đã bị bỏ rơi ở cái lò gạch cũ, được người ta nhặt về nuôi, lớn lên đi ở cho


nhà Bá Kiến, bị đẩy vào tù do âm mưu thâm độc của Bá Kiến, sau khi được ra tù trở về
làng Vũ Đại với cái vẻ lưu manh bất cần đời, gặp Thị Nở sau đó bị từ chối, cự tuyệt
quyền làm người đến cái chết giải thoát. Tóm lại, truyện ngắn có nội dung phản ánh
những giá trị cuộc sống khá hiện thực, thể hiện được cách nhìn của nhà văn về khía cạnh
con người, đời sống khá đầy đủ.
Nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới thì mỗi nhân vật của truyện ngắn là
một mảnh nhỏ của thế giới ấy. Có nghĩa truyện ngắn thường không nhắm tới việc khắc
họa những tính cách đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh. Nhân vật của
truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc
trạng thái tồn tại của con người. Vì thế nhân vật là một phương tiện rất quan trọng của
truyện ngắn. Ở các truyện ngắn đặc sắc, bao giờ các tác giả cũng xây dựng những nhân
vật điển hình như AQ ( AQ chính truyện - Lỗ Tấn), Chí Phèo (Chí Phèo - Nam Cao),
tướng Thuấn (Tướng về hưu - Nguyễn Huy Thiệp), Lãm và Nguyệt (Mảnh trăng cuối
rừng - Nguyễn Minh Châu). Nhân vật còn thể hiện rất rõ phong cách của nhà văn, thông
qua nhân vật Huấn Cao (Chữ người tử tù) với cái tài viết chữ đẹp, con chữ ở đây không

người nông dân, nông thôn Việt Nam trước 1945 thì Vũ Trọng Phụng lại đi vào cái xã hội
nửa phong kiến thời Pháp thuộc. Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng,
nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng. Bút
pháp trần thuật của truyện ngắn thường là chấm phá. Nếu như cốt truyện thuộc về nội
dung thì kết cấu thuộc về hình thức, kết cấu có vai trò quan trọng trong việc thực hiện
thống nhất chặt chẽ giữa chủ đề tư tưởng với tính cách nhân vật, tình huống truyện. Tùy
vào sáng tác của nhà văn mà có thể có các kiểu kết cấu theo trình tự thời gian, kết cấu
theo tuyến nhân vật, kết cấu tâm lý…
Yếu tố quan trọng bậc nhất trong truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng
lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết. Ở
truyện ngắn, chi tiết đóng vai trò quan trọng, nó góp phần tạo dựng không khí và tình
huống, khắc họa tính cách, hành động, tâm lý nhân vật. Nhiều nhà văn đã ra sức tìm một
khoảnh khắc đích đáng cho truyện ngắn của mình. Nó có giá trị như một điểm xoáy trong


đó nhân vật có thể khơi mở, bộc lộ trọn vẹn tính cách. Truyện ngắn Lặng lẽ Sapa của
Nguyễn Thành Long, Kịch câm của Phan Thị Vàng Anh, Sang sông của Nguyễn Huy
Thiệp, Những vùng trời khác nhau của Nguyễn Minh Châu… là những truyện ngắn có
chứa đựng những khoảnh khắc như vậy.
Có thể thấy, truyện ngắn có những đặc trưng về hình thức, chủ đề, kết cấu, cốt
truyện, ngôn ngữ, thủ pháp nghệ thuật. Truyện ngắn thường miêu tả lát cắt của cuộc
sống, một giai đoạn, một khoảnh khắc đầy ý nghĩa khám phá trong cuộc đời nhân vật.
Truyện ngắn chỉ tập trung xung quanh một chủ đề, không gian và thời gian nhất định với
những chi tiết được chọn lọc, cô đúc tạo nên tính hàm súc của ngôn ngữ, tính biểu tượng
của các nhân vật nhằm biểu hiện những vấn đề xã hội có tầm khái quát rộng lớn.

1.1.3 Đặc điểm truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1954-1975
Văn học giai đoạn 1954 – 1975, một trong những giai đoạn rực rỡ của nền văn học
Việt Nam. Đây là giai đoạn lịch sử ác liệt nhất cũng là giai đoạn văn học gặt hái được
nhiều hoa thơm quả ngọt. Hiện thực chiến tranh trong hơn 30 năm, xã hội biến động dồn

các nhà văn đã thể hiện được một cách thành công sự sàng lọc con người trong cuộc sống
xây dựng và chiến đấu. Bút pháp xây dựng nhân vật ở thời kì này cũng có bước phát triển
đáng chú ý. Nhà văn chú trọng hơn trong việc đi sâu vào khai thác nội tâm, đời sống tinh
thần của nhân vật. Giọng điệu anh hùng, ngợi ca xen lẫn giọng điệu trữ tình, sâu lắng và
đầy sáng tạo với chất liệu ngôn từ giản dị, xây dựng nhân vật qua các chuỗi thời gian,
không gian nghệ thuật một cách uyển chuyển và nghệ thuật khắc họa tâm lý nhân vật sâu
sắc.

1.2 Tác giả và tác phẩm
1.2.1 Tác giả Nguyễn Minh Châu
1.2.1.1 Cuộc đời


Nguyễn Minh Châu sinh ngày 23 tháng 10 năm 1930 trong một gia đình nông dân
khá giả ở làng Thơi thuộc huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Là con út trong một gia đình
có sáu anh chị em, Nguyễn Minh Châu được tạo điều kiện học hành khá chu đáo. Ông
học ở quê rồi vào Huế, học tiếp đến năm 1945 khi Nhật đảo chính Pháp thì ông trở về quê
thi đỗ bằng Thành Chung. Những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Minh
Châu tiếp tục học trung học trong vùng kháng chiến. Đầu năm 1950, khi đang là học sinh
chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng ở Nghệ An, Nguyễn Minh Châu tình nguyện
vào quân đội. Sau một khoá đào tạo ngắn của trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, Nguyễn
Minh Châu về sư đoàn 320 làm cán bộ trung đội. Trong những năm từ 1950 đến 1954,
Nguyễn Minh Châu cùng đơn vị chiến đấu và hoạt động ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Sau
1954, Nguyễn Minh Châu tiếp tục phục vụ trong quân đội làm cán bộ tuyên huấn tiểu
đoàn. Từ 1956 đến 1958, Nguyễn Minh Châu là trợ lý văn hóa trung đoàn 64 thuộc sư
đoàn 320. Năm 1961, ông theo học trường Văn hóa Lạng Sơn. Năm 1962, Nguyễn Minh
Châu về công tác tại phòng Văn nghệ Quân đội, sau chuyển sang Tạp chí Văn nghệ Quân
đội. Ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam năm 1972. Nguyễn Minh Châu qua đời
ngày 23 tháng 1 năm 1989 tại Hà Nội, thọ 59 tuổi.
Sự xuất thân từ một vùng nông thôn nghèo xứ Nghệ và việc gia nhập quân đội có

Ngay sau năm 1975, Nguyễn Minh Châu đã sớm nhận ra những hạn chế của nền
văn học thời chiến tranh. Ông đã thầm lặng nhưng dũng cảm và kiên định tìm kiếm con
đường đổi mới sáng tác của chính mình. Hai cuốn tiểu thuyết xuất bản năm 1977: Miền
cháy, Lửa từ những ngôi nhà đã đem lại một sắc diện mới trong sáng tác của nhà văn.
Những truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu ra mắt bạn đọc ở nửa đầu những năm 1980
thực sự là những tìm tòi mới, với cái nhìn mới về hiện thực và con người, khiến Nguyễn
Minh Châu trở thành một trong những người mở đường tinh anh và tài năng nhất của
công cuộc đổi mới văn học. Nhiều tác phẩm ra đời như truyện dài Người đàn bà trên
chuyến tàu tốc hành (1983), truyện ngắn Bến quê (1985), truyện ngắn Cỏ lau (1989) và
một số tiểu thuyết Những người đi từ trong rừng ra (1982), Mảnh đất tình yêu (1987).
Khi công cuộc đổi mới đất nước được chính thức phát động, Nguyễn Minh Châu nhiệt


thành và đầy tâm huyết với công cuộc đổi mới nền văn học nước nhà, vừa bằng những
phát biểu trực tiếp, mạnh mẽ, vừa bằng những sáng tác đã đạt đến độ sâu sắc của tư tưởng
và sự kết tinh nghệ thuật cao.
Không chỉ trong sáng tác, ông còn để lại đấu ấn cá nhân qua những trang tiểu luận,
phê bình hết sức sâu sắc suốt quãng thời gian dài, sau này được tập hợp lại trong cuốn
Trang giấy trước đèn. Các bài tiểu luận của ông đã đề cập đến nhiều phương diện trong
quá trình văn học: Tác dụng của văn học, mối quan hệ giữa văn học và đời sống chiến
tranh cách mạng, mối quan hệ giữa nhà văn – nhân vật – độc giả, vai trò và trách nhiệm
của người cầm bút, chân dung nhà văn, kinh nghiệm sáng tác… Những bài viết của ông
cũng đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên một không khí sôi nổi trong đời sống văn
học những năm cuối thế kỉ XX, đồng thời giúp người đọc hiểu thêm về con người và
sáng tác của ông, một trong những nhà văn đi đầu công cuộc đổi mới văn học.
Nhưng số mệnh nghiệt ngã với căn bệnh hiểm nghèo ung thư máu đã khiến hành
trình sáng tạo của Nguyễn Minh Châu phải đột ngột dừng lại khi vừa đạt tới độ chín của
tài năng. Ngày 23 tháng 1 năm 1989 Nguyễn Minh Châu trút hơi thở cuối cùng tại viện
quân y 108 Hà Nội, sau gần một năm chống chọi với bạo bệnh, để lại nhiều dự định sáng
tác còn đang ấp ủ. Tác phẩm cuối cùng - truyện vừa Phiên Chợ Giát - được hoàn thành

Việt, An, Thoa… trong Buổi tập cuối năm, Gốc sắn, Trên vùng đất sỏi, Đôi đũa trúc…
Theo hướng tiếp cận hiện thực mới mẻ này, sáng tác của Nguyễn Minh Châu đã góp
phần phát hiện ra những quy luật vận động sâu kín của đời sống nhân sinh thế sự và đạt
tới một chiều sâu nhân bản mới.

CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN MINH CHÂU TRƯỚC 1975
2.1 Hiện thực chiến tranh trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trước 1975
Giai đoạn văn học 1945-1975 ra đời trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh, một giai
đoạn lịch sử có nhiều khó khăn, gian khổ, tàn khốc với nhiều mất mát, hy sinh và cũng có


không ít chiến công vĩ đại. Và chính hoàn cảnh lịch sử đó đã tạo ra một nền văn học cách
mạng đạt được rất nhiều thành tựu to lớn, đóng góp lớn vào công cuộc kháng chiến giải
phóng đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hiện thực trong văn chương lúc bấy giờ là
những trận đánh, những sự kiện, những vấn đề lớn lao của dân tộc và đất nước, hình
tượng cơ bản con người tập thể gắn với mối quan hệ cộng đồng, giai cấp. Nguyễn Minh
Châu đã phản ánh hiện thực của cuộc kháng chiến chống Mỹ một cách sinh động thông
qua sự kết hợp giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn.

2.1.1 Những khó khăn gian khổ trong chiến tranh
Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 là một bước ngoặc vĩ đại trong lịch sử dân
tộc ta, mở đầu cho kỉ nguyên độc lập, tự do của dân tộc. Chưa được bao lâu thì Pháp quay
trở lại đánh chiếm miền Bắc, đất nước phải chìm trong máu lửa của chiến tranh. Đánh
Pháp xong thì giặc Mỹ lại tràn tới, ba mươi năm, dân tộc ta liên tiếp tiến hành hai cuộc
kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ để bảo vệ độc lập tự do và thống nhất nước nhà.
Với cuộc kháng chiến chống Mỹ, thực tế “ra ngõ gặp anh hùng” đã mang lại cho nhà văn
nguồn tư liệu dồi dào, nguồn cảm hứng bất tận trong sáng tác. Viết về tội ác của bọn đế
quốc Mỹ và bè lũ tay sai, nhưng hơn tất cả, nhà văn muốn tập trung ca ngợi chủ nghĩa anh
hùng, ca ngợi những con người đã chiến đấu vì tổ quốc, vượt qua thực tại đau thương,

bọn giặc trong khi chưa chuẩn bị gì cả: “Cuộc chiến đấu diễn ra ở từng ngã ba, khu nhà,
góc phố giữa lúc giấc ngủ của nhân dân đang ngon lành nhất” [4, tr. 564], chúng ta
không biết khi nào giặc tới, không biết trước được bọn chúng sẽ vận dụng lối tác chiến gì
nhưng những người lính của ta vẫn quyết tâm sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc. Trong Câu
chuyện trên trận địa, trước những khó khăn mà những pháo thủ phải đương đầu với kẻ
thù, họ đều vượt qua, biết bao nhiêu đợt chiến đấu quyết liệt với từng tốp máy bay từ biển
xô vào định đập vỡ cái đài quan sát, những pháo thủ phải chịu “cát bám thành từng lớp


dày trên mũ, trên lông mày và trên quân phục đã ướt đẫm của các chiến sĩ” [4, tr. 761].
Tiếng máy bay của Mỹ cũng giống như lời đe dọa của tên cầm đầu nước Mỹ, mỗi lúc
máy bay kéo đến một đông nhưng đều bị các pháo thủ tiêu diệt.
Những khó khăn gian khổ không chỉ có trong những lúc đối mặt với kẻ thù mà
những lúc hành quân, lúc luyện tập, người lính cũng gặp phải những khó khăn ấy. Những
ngày kháng chiến vô cùng thiếu thốn và gian khổ, những người lính như Bính “phải chia
nhau cùng các chiến sĩ từng hạt ngô rang vấy máu của các đồng chí đã hy sinh, ăn cầm
hơi để leo đá tai mèo truy kích địch” [4, tr. 602]. Không chỉ Sơn mà những pháo thủ
(Những vùng trời khác nhau) bị bom đạn, bùn đất và gió Lào làm gương mặt sắt lại, gò
má sạm nắng, những lúc ngồi trên mâm pháo với đủ thứ “doanh cụ” nào là chồng lát
giường, vải bạt, nồi niêu, gà chó và hàng trăm thứ tạp nhạp, những cuộc hành quân từ
vùng này sang vùng khác, con đường xuyên qua Trường Sơn trong những ngày mưa dầm
và giá rét, đôi khi vượt qua cơn gió Lào gay gắt hay những trận mưa rừng càng tạo thêm
nhiều khó khăn gian khổ cho những người lính. Đồng chí Bẩm với công việc âm thầm và
đầy nguy hiểm: “Anh len lỏi vào tận các vùng Cầu Hai, Lập An để gây dựng phong trào,
chuẩn bị cơ sở cho bộ đội về. Những trận phục kích những đoàn tàu sơn đen chở binh
lính Âu Phi chật nít từ Huế vào Đà Nẵng và từ Đã Nẵng vào Hội An bắt đầu từ những
công việc kiên nhẫn và lặng lẽ” [4, tr. 766], việc chuẩn bị một trận đánh có khi mất một
vài tháng hay hơn, có đồng chí bị hy sinh, nhưng diễn biến trận đánh chỉ trông chớp mắt.
Đó là những khó khăn, gian khổ nhưng với ý chí quyết tâm của mình thì những người
lính có thể vượt qua một cách dễ dàng và tin tưởng vào một tương lai tươi sáng phía

chuối. Gà gáy bố nó vừa đặt chân ra đến vại nước thì nó xông ập vào chộp lấy” chúng
đánh đập tra tấn chiến sĩ của ta đến “da cứ thâm sì, quần áo chỉ còn một dúm giẻ bê bết
máu khô đen. Một con mắt trái cứ nhắm cứng lại” [4, tr. 537], chúng tra tấn hơn một
tháng rồi uy hiếp người thân nhưng không khai thác được gì. Hay mẹ Thận bị thằng
phòng Nhì dọ dẫm rồi bắt bà lên bốt, đánh đập và giết bà cụ ngay trước ngõ, bên gốc cây
mai. Bọn chúng tra tấn những người chiến sĩ của ta rất dã man, bọn chúng đâm mười que


Trích đoạn Giọng điệu nghệ thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status