Trường đại học sư phạm hà nội 2
Khoa: Ngữ văn
---------***---------
Nguyễn thị ngọc diệp
Dạy học truyện ngắn
Nguyễn Minh châu sau 1975
theo phương pháp đọc - hiểu
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
Thạc sĩ. Bùi Minh Đức
Hà NộI 5/2007
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
LờI CảM ƠN
Trong quá trình triển khai thực hiện đề tài Dạy học truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu sau 1975 theo phương pháp đọc hiểu, tác giả khoá luận
đã thường xuyên nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và chỉ bảo tận
tình của các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy, cô trong tổ
Phương pháp dạy học Ngữ văn và Thạc sĩ Bùi Minh Đức người hướng dẫn
trực tiếp.
Tác giả khóa luận xin được bày tỏ sự biết ơn và gửi lời cảm ơn trân
3
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
Mục lục
Trang
Phần 1. Mở đầu ........................................................................................ 8
1. Lý do chọn đề tài................................................................................... 8
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu .................................................................... 9
3. Mục đích nghiên cứu ............................................................................ 11
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................ 11
5. Giới hạn nghiên cứu ............................................................................. 11
6. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 12
7. Đóng góp của khoá luận ....................................................................... 12
8. Cấu trúc khóa luận ................................................................................ 12
Phần 2. Nội dung .................................................................................... 13
Chương 1: Đọc hiểu và đọc hiểu tác phẩm văn chương....................... 13
1.1.
Đọc hiểu là gì? ................................................................................ 13
1.1.1. Về quan niệm đọc hiểu ............................................................ 13
1.1.2. Đọc hiểu tác phẩm văn chương ................................................... 15
1.2.
Đọc hiểu tác phẩm văn chương và giảng văn ................................. 17
Nguyễn Minh Châu ......................................................................................... 29
2.1.1.1. Tư tưởng nghệ thuật .................................................................. 29
2.1.1.2. Quan niệm nghệ thuật ................................................................ 32
2.1.2 Nhân vật trong sáng tác Nguyễn Minh Châu ................................... 37
2.1.2.1. Các loại nhân vật ........................................................................ 37
2.1.2.2. Thủ pháp xây dựng nhân vật ...................................................... 45
2.1.3. Tình huống ...................................................................................... 49
2.1.3.1. Dạng tình huống tự nhận thức .................................................... 50
2.1.3.2. Dạng tình huống tương phản ...................................................... 52
2.3.3.3. Dạng tình huống thắt nút ............................................................ 54
2.1.4. Giọng điệu ....................................................................................... 56
2.1.4.1. Giọng điệu trữ tình ấm áp........................................................... 56
2.1.4.2. Giọng điệu thâm trầm, triết lý .................................................... 57
2.1.4.3. Sự đan xen giữa nhiều giọng điệu .............................................. 58
2.2. Dạy học truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 ở nhà trường phổ
thông theo phương pháp đọc hiểu ................................................................ 60
2.2.1. Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu ở nhà trường phổ thông ............. 60
2.2.2. Định hướng dạy học truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 ở
nhà trường phổ thông theo phương pháp đọc hiểu ...................................... 61
2.2.2.1. Tạo ấn tượng ban đầu cho người đọc thông qua việc đọc theo
giọng điệu của nhà văn .................................................................................... 61
5
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
2.2.2.2. Xác định tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau
Học sinh
Sgk
Sách giáo khoa
Sgv
Sách giáo viên
Thcs
Trung học cơ sở
Thpt
Trung học phổ thông
Gd & đt
Giáo dục và Đào tạo
Khtn
Khoa học tự nhiên
Khxh & nv
Khoa học Xã hội và Nhân văn
Về vấn đề lý luận này, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan
điểm riêng của mình. Tuy nhiên, những quan điểm đó hiện nay vẫn chưa được
thống nhất cần được tiếp tục nghiên cứu. Việc triển khai đề tài này vừa góp
phần đáp ứng hoàn thiện, bổ sung về mặt lý luận vừa đáp ứng nhu cầu đổi mới
phương pháp dạy học văn ở trường phổ thông.
1.2. Sau bốn năm triển khai giảng dạy thí điểm, năm học 2006 2007
là năm học đầu tiên SGK Ngữ văn THPT phân ban thí điểm được đưa vào
giảng dạy và học đại trà. Thực tiễn dạy học này ở trường THPT đòi hỏi những
nghiên cứu mới để góp phần vào việc triển khai nâng cao chất lượng dạy học
SGK Ngữ văn.
Bến quê và Chiếc thuyền ngoài xa là hai truyện ngắn của Nguyễn
Minh Châu được viết sau 1975 và lần đầu tiên được đưa vào chương trình Ngữ
văn phổ thông. Nâng cao chất lượng dạy và học tác phẩm Nguyễn Minh Châu
không chỉ cung cấp cho học sinh cách thức chiếm lĩnh tác phẩm theo thể loại
8
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
truyện ngắn mà còn giúp các em khám phá con đường đi vào thế giới nghệ
thuật của nhà văn.
Với đề tài này, tác giả khóa luận muốn góp phần nghiên cứu về phương
pháp đọc hiểu tác phẩm truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975.
1.3. Là một sinh viên năm thứ tư, trong tương lai gần tác giả khóa luận
sẽ trở thành giáo viên Ngữ văn. Năm học đầu tiên bước vào sự nghiệp dạy học
là năm thứ hai SGK Ngữ văn được đưa vào giảng dạy đại trà ở bậc THPT.
Chính vì thế, việc nghiên cứu đề tài này sẽ trang bị cho người nghiên cứu một
2006.
- Thi pháp hiện đại, Đỗ Đức Hiểu, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 2000.
2.2. Những công trình nghiên cứu về đọc hiểu:
Cho đến nay, ở Việt Nam vấn đề đọc hiểu đang đứng trước nhu cầu
cần được xây dựng thành một hệ thống lý thuyết căn bản. ở bậc THCS, điều
này mới chỉ được định hướng một cách khái quát trong chương trình và chủ
yếu thể hiện bằng hệ thống câu hỏi đọc hiểu trong SGK Ngữ văn. Đến bậc
THPT các nhà biên soạn SGK đã cung cấp tri thức về phương pháp đọc hiểu
và cụ thể hơn là các bước đọc hiểu một văn bản văn học (SGK thí điểm Ngữ
văn 11, Ban KHXH & NV, tập 2). Bên cạnh đó có một số công trình nghiên
cứu về phương pháp đọc hiểu trong các sách báo, tạp chí.
Chúng ta có thể liệt kê một số công trình tiêu biểu như sau:
- Ngữ văn 10 (nâng cao), tập 1.
- Ngữ văn 10 (nâng cao), tập 2.
- Ngữ văn 11 thí điểm, Ban KHXH & NV, tập 1, Bộ 2.
- Ngữ văn 11 thí điểm, Ban KHXH & NV, tập 2, Bộ 2.
- Tài liệu bồi dưỡng giáo viên SGK Ngữ văn 12 thí điểm.
- Đọc và tiếp nhận văn chương, Nguyễn Thanh Hùng, NXB Giáo dục,
Hà Nội, 2002.
- Tìm hiểu chương trình và SGK THPT, Đỗ Ngọc Thống, NXB Giáo
dục, Hà Nội, 2006.
Nhưng vấn đề đọc hiểu trên đây mới chỉ là lý thuyết. Các tài liệu trên
đã chưa đưa ra được những mẫu cụ thể, chưa vận dụng lý thuyết đọc hiểu
vào một bài học cụ thể để định hướng giáo viên hiểu sâu sắc vấn đề.
10
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
11
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
- Về nội dung: chỉ nghiên cứu đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu sau 1975.
- Thể nghiệm dạy hai truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu trong SGK
Ngữ văn THCS và THPT.
6. Phương pháp nghiên cứu:
Người thực hiện đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Phương pháp tổng hợp.
- Phương pháp phân tích.
- Phương pháp so sánh.
6.2. Phương pháp thực nghiệm.
7. Đóng góp của khoá luận:
Thực hiện đề tài này, người nghiên cứu mong muốn khoá luận sẽ góp
phần bổ sung, hoàn thiện, cụ thể hoá việc dạy học tác phẩm văn chương theo
phương pháp đọc hiểu cũng như góp phần vào việc nâng cao chất lượng các
giờ dạy học truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975.
8. Cấu trúc của khoá luận:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Khoá luận gồm 3 chương:
- Chương 1: Đọc hiểu và đọc hiểu tác phẩm văn chương.
- Chương 2: Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 và dạy
học truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 ở nhà trường phổ thông theo
phương pháp đọc hiểu.
hiểu nghĩa. Đọc đòi hỏi chiều sâu mọi nội dung tư tưởng, tình cảm, cái đẹp
của văn bản và có thể sử dụng văn bản vào đời sống cá nhân và xã hội. Biết
đọc là biết giao tiếp với đời sống văn hoá - xã hội rộng lớn, vượt ta ngoài tầm
hiểu biết trực tiếp của mỗi người và biết hưởng thụ các giá trị văn hoá kết tinh
trong văn bản.
13
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng: những người đọc đạt hiệu quả cao luôn
có chiến lược đọc riêng. Điều này cũng có nghĩa: phải xác định mục đích rõ
ràng trước khi đọc, duy trì và kiểm soát mục đích đó trong suốt quá trình đọc
cho phù hợp với mỗi mục đích và nhiệm vụ của bài đọc. Đọc gắn liền với
hiểu. Hiểu vừa là nguyên nhân vừa là mục đích của việc đọc.
Hiểu là một khái niệm có nội hàm rất rộng. Theo M. Bakhtin, trong
sách Con người trong thế giới ngôn từ, hiểu trong đọc hiểu bao gồm
nhiều hành động gắn với nhau: 1. Cảm thụ (tiếp nhận) kí hiệu vật chất (màu
sắc, con chữ); 2. Nhận ra kí hiệu quen hay lạ, hiểu ý nghĩa của nó được lặp
lại trong ngôn ngữ. 3. Hiểu ý nghĩa của nó trong ngữ cảnh. 4. Đối thoại với ý
nghĩa đó (tán thành, phản đối), trong nhận thức bao gồm cả sự đánh giá về
chiều sâu và chiều rộng. Bản chất tâm lý của sự hiểu là biến cái của nguời
khác thành cái vừa của mình vừa của người khác. Hiểu bao giờ cũng là tự
hiểu, nghĩa là biến cái được hiểu thành kiến thức, quan điểm, niềm tin của
mình. Theo M. Bakhtin, hiểu khác nhận thức và giải thích ở chỗ hiểu không
một chiều mà mang tính đối thoại. Tôi nhận ra một điều khi tôi giải thích cho
anh điều đó, mời anh tham gia vào cuộc đối thoại về điều đó với tôi. Hiểu
việc lĩnh hội tri thức thông tin hay là một kênh lĩnh thông tin, nắm thông tin
bằng đọc. Bao gồm:
- Đọc hiểu văn bản báo chí.
- Đọc hiểu văn bản lịch sử.
- Đọc hiểu văn bản tác phẩm văn chương.
Trong các kĩ năng đọc hiểu văn bản nói chung, đọc hiểu văn bản
văn học có một vị trí đặc biệt, bởi văn bản văn học là sản phẩm sáng tạo độc
đáo của con người, có sức sống lâu bền hơn các văn bản khác và không thể
thay thế trong đời sống tinh thần của con người, có tác động toàn diện đến
nhân cách. Vì vậy chương trình và SGK Ngữ văn dành cho nó một vị trí trung
tâm.
Đọc hiểu tác phẩm văn chương được hiểu là đọc thẩm mĩ, không chỉ
bằng nhận thức lý trí mà còn bằng con đường cảm xúc, tình cảm.
Với chương trình và SGK Ngữ văn, dạy văn thực chất là dạy phương
pháp đọc hiểu tác phẩm văn chương.
1.1.2. Đọc hiểu tác phẩm văn chương:
15
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
Cũng như quan niệm về đọc hiểu nói chung, có rất nhiều ý kiến xung
quanh quan niệm đọc hiểu tác phẩm văn chương. GS. TS. Nguyễn Thanh
Hùng cho rằng: Đọc hiểu văn chương là đọc cái chủ quan của người viết
bằng cách đồng hóa tâm hồn, tình cảm, suy nghĩ của mình vào trang sách.
Đọc hiểu không phải chỉ là tái tạo âm thanh từ chữ viết mà còn là quá trình
nhuần thấm tín hiệu nghệ thuật chứa mã văn hoá đồng thời với việc huy động
để lý giải, đọc để đánh giá và đọc sáng tạo, phát hiện. Học sinh sẽ học cách
trích câu hay trích chi tiết, trích ý, học cách thuyết minh, thuật lại nội dung
văn bản đã học. Hệ thống văn bản được lựa chọn nhằm thực hiện việc đào tạo
năng lực đọc hiểu, qua đó vừa cung cấp tri thức văn học (lịch sử văn học, lý
luận văn học), văn hoá dân tộc, vừa giáo dục tư tưởng, tình cảm, vừa rèn luyện
kĩ năng đọc mà học sinh có thể mang theo suốt đời sau khi tốt nghiệp THPT
để có thể đọc hiểu nhiều loại văn bản thông dụng trong đời sống.
1.2. Đọc hiểu tác phẩm văn chương và giảng văn:
Phương pháp dạy học sinh đọc hiểu tác phẩm văn chương khác với
công việc giảng văn lâu nay giáo viên thường làm. Có thể nêu lên một vài
điểm khác biệt:
Giảng văn
Đọc hiểu tác phẩm văn chương
- Dạy học nghiêng về công việc của - Chú trọng vai trò của HS trong giờ học.
thầy, thầy là người giảng dạy, truyền Cả GV và HS đều đóng vai trò chủ thể
đạt kiến thức, ít chú ý đến vai trò của trước tác phẩm, thầy là người tổ chức,
HS trong quá trình khám phá tác điều khiển quá trình chiếm lĩnh tác phẩm
phẩm.
của HS. Còn HS là chủ thể đọc, chủ
động khám phá, lĩnh hội tri thức dưới sự
hướng dẫn của GV.
- Trong giảng văn, GV là người phát - Phương pháp đọc hiểu biến HS trở
hiện ra cái hay, cái đẹp của tác phẩm thành người tự khám phá, phát hiện ra
và sau đó truyền đạt lại cho HS. HS là cái hay, cái đẹp của tác phẩm dựa trên
người nghe giảng, ghi chép, lĩnh hội vốn hiểu biết của bản thân qua việc tìm
lời giảng của thầy cô một cách thụ hiểu những câu hỏi hướng dẫn trong
luôn bám sát vào câu chữ, các biện pháp
nghệ thuật để chỉ ra nội dung tư tưởng
của văn bản.
- Chính vì thế, HS không nhất thiết - HS là người tự khám phá tác phẩm nên
phải đọc văn bản mà vẫn hiểu nội buộc HS phải tự đọc văn bản tác phẩm,
dung tác phẩm qua lời giảng của thầy thậm chí phải đọc hết cả các mục trong
cô.
bài học mới hiểu được nội dung văn bản
tác phẩm. Như vậy, sẽ phát huy được
tính tích cực, tự giác tự học của HS.
- HS chỉ biết phân tích, lĩnh hội tác - ở đây là đọc hiểu tác phẩm theo thể
phẩm đã học và không có khả năng tự loại nên HS được trang bị phương pháp
hiểu các tác phẩm tương tự.
18
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
đọc hiểu các tác phẩm cùng loại để tự
lĩnh hội khám phá. Vì thế HS có thể tự
mình đọc hiểu các tác phẩm không
được học trong chương trình dựa trên
đặc trưng thể loại và phương pháp tiếp
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
chương. Nó có những nguyên tắc chung mà người đọc học sinh phải nắm
được để dựa vào đó mà tiến hành đọc hiểu bất cứ văn bản văn học nào trong
chương trình.
1.3.1. Dựa vào ngữ cảnh hẹp, bám sát văn bản, coi văn bản là yếu tố
quan trọng nhất (không phải là duy nhất) để tìm hiểu tác phẩm.
Nguyên tắc này dựa trên cơ sở khoa học ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất
của văn học (Gorki). Ngôn ngữ tạo nên văn bản, cho nên phải dựa vào văn
bản để tìm hiểu tác phẩm, phải bám sát văn bản thì mới tiếp cận đúng ý đồ tư
tưởng - nghệ thuật của tác giả. Do đó phải đọc thật kĩ văn bản, chú ý đến từng
hình thức ngôn ngữ, từng đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất của văn bản để khám phá,
phát hiện tác phẩm.
Điều này tưởng như đơn giản, tất yếu ai cũng biết, nhưng trong thực tế,
không phải không có người chỉ dựa vào những yếu tố ngoài văn bản để hiểu
văn bản của tác phẩm, dẫn đến những cách hiểu khiên cưỡng, áp đặt. Ví như
bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, có người chỉ căn cứ vào tấm bưu
ảnh Hoàng Cúc gửi cho nhà thơ để hiểu đây chỉ là một bài thơ về mối tình
dang dở không thành của hai con người riêng lẻ, như vậy thì ý nghĩa bài thơ
đã bị thu hẹp lại và liệu bài thơ còn có giá trị gì nữa.
Bám sát văn bản ở đây cần được hiểu theo tinh thần lao động nghệ
thuật và nghiên cứu khoa học một cách nghiêm túc trước một tác phẩm cụ thể.
Không chỉ đọc kĩ văn bản, bám sát từng câu, chữ, thậm chí đến cả từng dấu
câu và cả những khoảng trống trên văn bản (như những dấu lặng trong bản
nhạc), mà còn phải chú ý khám phá, phát hiện những dấu hiệu ngôn ngữ đặc
biệt, những cách nói độc đáo, những chi tiết quan trọng hàm chứa ý nghĩa
trong văn bản. Tất cả những điều này sẽ giúp chúng ta phương hướng cảm
nhận văn bản để hiểu đúng nội dung tư tưởng tác phẩm.
1.3.2. Ngoài ngữ cảnh hẹp, còn phải dựa vào ngữ cảnh rộng để tìm
cảm và lý trí trong tính chỉnh thể, toàn vẹn của nó để nhận ra diện mạo, âm
hưởng tinh thần chung với những nét đặc sắc về nghệ thuật. Bước tổng hợp sơ
thuỷ này trông cậy rất nhiều vào trực giác. Arnauđôp đã đánh giá rất cao vai
trò của trực giác: Trực giác cần thiết trong bất kì một thứ nghệ thuật nào,
trong bất kì một cảm thụ sáng tạo nào trước hiện thực, nếu cảm thụ này đang
hướng sự chú ý vào một điều gì mới mẻ, đặc biệt và chưa từng thấy trong các
sự vật xung quanh hay trong tâm hồn chúng ta [1; Tr.91].
21
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
Nắm bắt chính xác tổng thể tác phẩm là một bước làm quan trọng, là
một thử thách lớn đối với người phân tích. Làm thế nào để có được cảm nhận
chung, ấn tượng chung về tác phẩm một cách đúng đắn và sâu sắc? ở đây,
không nên quá chú ý vào những chi tiết cụ thể mà sao nhãng cái nhìn bao quát
có tính chất toàn diện và hệ thống. Điều này có liên quan tới bản chất của tác
phẩm văn học. Mỗi tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật tạo ra một
xã hội riêng, một thế giới riêng có tính hệ thống, theo quy luật riêng của nó.
Phân tích trực tiếp tác phẩm, ở bước đầu tiên là phải nắm bắt được chính xác
cái tinh thần chung của tác phẩm. Quy luật tự nhiên của tiếp nhận tác phẩm
văn học bao giờ cũng phải cảm thụ tác phẩm trên tổng thể, trong tính chỉnh
thể của nó. Nó không cho phép người phân tích, đối chiếu những chi tiết vụn
vặt của tác phẩm với hiện thực đời sống. Không cảm nhận tác phẩm trên tổng
thể, trên chỉnh thể của nó rất dễ rơi vào tình trạng suy diễn tuỳ tiện.
Trong bước tổng hợp ban đầu cũng cần phải chú ý tới đặc điểm thể loại
của tác giả. Thơ thì chú ý đến sự bộc lộ tình cảm, cảm xúc của nhà thơ qua
dung, nghệ thuật qua các chi tiết cụ thể. Việc khảo sát các kí hiệu, các phương
diện, các yếu tố nghệ thuật không phải vì bản thân các kí hiệu mà sâu xa hơn
là để tìm lời thông báo, khám phá nội dung và tư tưởng của tác phẩm. Nói
cách khác, giải mã, khám phá nghệ thuật là để tìm ra tính nội dung của hình
thức nghệ thuật ấy.
Khi phân tích các phương diện, các yếu tố, chi tiết nghệ thuật cần phải
tôn trọng tính chỉnh thể của tác phẩm. Những chi tiết nghệ thuật dẫu là quan
trọng, là những sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm cũng chỉ có ý nghĩa
khi nằm trong một chỉnh thể, trong một hệ thống nhất định. ở đây người phân
tích tác phẩm cần phải có quan điểm hệ thống. Thiếu cái nhìn hệ thống thì dễ
rơi vào tình trạng suy diễn võ đoán, thiếu căn cứ xác đáng, gán ghép cho
những yếu tố, chi tiết nghệ thuật ý nghĩa mà thực ra nó không hề có.
Bước thứ ba là bước tổng hợp trên cơ sở đã phân tích các chi tiết của
tác phẩm. Đây không phải là tổng hợp bằng trực cảm như bước thứ nhất mà là
tổng hợp trên cơ sở của sự phân tích kĩ lưỡng, có căn cứ nhằm trả lại cho tác
phẩm tính chỉnh thể sinh động của nó. Một sự tổng hợp cao độ có tính khái
quát để đưa ra những tổng kết, nhận định, đánh giá sẽ nâng cao giá trị của sự
23
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
phân tích, hoàn thành mục đích của sự phân tích: nhận định, đánh giá đúng
đắn và sâu sắc về tác phẩm hay một hiện tượng văn học.
Như vậy, tiến trình phân tích tác phẩm văn chương thường phải đi qua
ba bước: Tổng hợp Phân tích Tổng hợp. Tuy nhiên không nên quan niệm
ba bước ấy hoàn toàn độc lập hay đối lập với nhau. Cần phải vận dụng ba bước
cho ta điều gì bổ ích cho cuộc sống bản thân, khơi dậy trong ta những tình
cảm, cảm xúc, ý nghĩ, hành động gì để ta có thể sống tốt đẹp và có ích hơn.
Văn học là nhân học, Gorki đã nói như vậy, cho nên cái đích cuối cùng của
việc đọc văn là phải gắn với cuộc sống của bản thân mình (và xung quanh
mình) mà thể nghiệm ý nghĩa của văn bản (nhập thân vào cảnh, vào người,
vào các tình huống của văn bản tác phẩm, vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng
để cảm nhận); mặt khác, lại tiếp nhận những cảnh, những người đó thành tài
sản tinh thần riêng của mình, lấy văn bản tác phẩm mà soi sáng bản thân, tự
vận động vươn lên theo lý tưởng của tác phẩm. Đây chính là quá trình đồng
hóa tác phẩm văn chương trong lòng người đọc.
1.3.5. Những điều cần tránh trong việc đọc hiểu văn bản:
Có thể thấy hai loại lỗi phổ biến sau đây: lỗi về đọc (hiểu theo nghĩa
thông thường) và đọc hiểu (hiểu theo nghĩa đọc để tiếp cận văn bản).
- Đọc: đọc vội vàng, qua loa văn bản, cắt xén, không đọc hết văn bản
dẫn đến chỗ không nắm được toàn thể, khái quát sai lệch nội dung tư tưởng
văn bản. Không đọc Tiểu dẫn, Chú thích, hoặc không đọc hết Tiểu dẫn và Chú
thích nên chưa đủ điều kiện để hiểu đúng và nhất là hiểu sâu văn bản.
- Đọc hiểu: xu hướng chung thường thấy là trả lời một cách máy móc
các câu hỏi trong phần đọc hiểu của SGK mà ít có sự suy nghĩ, cảm nhận
sâu sắc để trả lời một cách sáng tạo bằng những kiến giải, phát hiện riêng của
mình về văn bản tác phẩm. Ngược lại, là suy diễn tuỳ tiện chủ quan, gán ghép
suy nghĩ của mình cho văn bản từ một chi tiết nhỏ, có khi rất phụ, mà không
chú ý đến mạch lạc, liên kết toàn thể của tác phẩm, dẫn đến những cách hiểu
không đúng.
Nguyên nhân của các lỗi trên là do chúng ta chưa có ý thức đúng dắn
về việc học văn (học văn còn hời hợt, chuẩn bị bài chiếu lệ, đối phó), chưa có
thói quen học văn theo lối nghiên cứu và nhất là chưa có thói quen tự học môn
25