BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
LĂNG THỊ THU LOAN
ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT KẾT CẤU
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU
SAU 1975
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
LĂNG THỊ THU LOAN
ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT KẾT CẤU
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU
SAU 1975
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. ĐOÀN ĐỨC PHƢƠNG
HÀ NỘI, 2016
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................... 3
3. Mục đích nghiên cứu ............................................................................... 11
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................. 11
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................... 11
6. Phương pháp nghiên cứu......................................................................... 12
7. Đóng góp của luận văn ............................................................................ 13
8. Cấu trúc của luận văn .............................................................................. 13
NỘI DUNG..................................................................................................... 14
Chƣơng 1. KHÁI LUẬN VỀ KẾT CẤU VÀ TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN MINH CHÂU SAU 1975 ............................................................ 14
1.1. Khái luận về kết cấu........................................................................... 14
1.1.1. Khái niệm kết cấu ..................................................................................... 14
1.1.2. Kết cấu truyện ngắn .................................................................................. 15
1.2. Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 ..................................... 17
1.2.1. Quan niệm sáng tác của Nguyễn Minh Châu......................................... 17
1.2.2. Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 ........................... 21
Chƣơng 2. KẾT CẤU VỚI TỔ CHỨC CÁC YẾU TỐ NỘI DUNG ........ 32
2.1. Kết cấu với tổ chức hệ thống hình tƣợng nhân vật......................... 32
2.1.1. Khái niệm nhân vật văn học và cách phân loại nhân vật ...................... 32
2.1.1.1. Khái niệm ............................................................................... 32
2.1.1.2. Phân loại ................................................................................ 34
2.1.2. Kết cấu nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 ..... 35
2.1.2.1. Miêu tả ngoại hình và hành động .......................................... 36
2.1.2.2. Biểu hiện nội tâm ................................................................... 42
2.1.2.3. Sử dụng ngôn ngữ trực tiếp của nhân vật .............................. 46
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau năm 1975, đất nước ta bước ra khỏi chiến tranh và trở về với “quỹ
đạo” của cuộc sống hòa bình, công cuộc đổi mới đất nước diễn ra đòi hỏi phải
có sự gắn liền với công cuộc đổi mới trên mặt trận văn hóa và tư tưởng, trong
đó có văn học. Tại thời điểm đó, với tư cách là một người nghệ sĩ công dân,
nghệ sĩ dấn thân, Nguyễn Minh Châu đã đi từ ý nguyện “canh tân đất nước”
đến ý nguyện “canh tân văn học”. Có lẽ chính quá trình chiêm nghiệm cuộc
sống và thể nghiệm nghệ thuật ở cả hai quãng thời gian trước và sau 1975 đã
trở thành một yếu tố quan trọng để ông nhìn về một “thời xa vắng”, nhưng
không phải tìm vào quá khứ để quay lưng với hiện tại mà là để tự nhìn nhận
lại mình, “tự thay máu” chính mình để nhìn rõ tương lai và quan trọng hơn
hết, để tìm con đường đổi mới văn học, nói như nhà nghiên cứu và phê bình
ương Trí Nhàn thì đây là một “sự dũng cảm rất điềm đạm” [30, tr.23]. Ông
nổi lên với vai trò và vị trí quan trọng mà nhà văn Nguyên Ngọc đã khẳng
định: “Nguyễn Minh Châu thuộc số những nhà văn mở đường tinh anh và tài
năng nhất của văn học ta hiện nay” [26, tr.11]. Những sáng tác tiểu thuyết từ
Miền cháy cho đến Mảnh đất tình yêu đã mang đến một sắc diện mới trong
sáng tác của nhà văn, nhưng có thể khẳng định rằng những sáng tác truyện
ngắn từ Bức tranh cho đến Phiên chợ Giát mới thực sự là những tìm tòi mới,
với những cái nhìn mới về hiện thực và con người.
Dù Nguyễn Minh Châu đã ra đi về miền miên viễn, nhưng sáng tác
truyện ngắn sau 1975 của ông vẫn hiện lên như một thanh nam châm đầy ma
lực, thu hút sự quan tâm nghiên cứu của công chúng bởi những thể nghiệm và
tìm tòi đầy tính sáng tạo trong công cuộc đổi mới nền văn học nước nhà, trên
cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Bên cạnh những phương diện mà
với công việc giảng dạy và học tập trong nhà trường.
3
ới tất cả những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài Đặc sắc nghệ thuật
kết cấu truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 cho luận văn của mình. Đây
sẽ là cơ hội để người viết tìm hiểu và khẳng định vai trò cũng như nhiệm vụ
của kết cấu đối với việc tổ chức các yếu tố nội dung và tổ chức nghệ thuật
trần thuật, trong những sáng tác truyện ngắn Nguyễn Minh Châu giai đoạn
sau 1975 trên tinh thần khoa học.
2. Lịch sử vấn đề
Kể từ khi truyện ngắn đầu tay Sau một buổi tập (1960) ra đời, cho đến
tác phẩm cuối cùng Phiên chợ Giát (1989) được Nguyễn Minh Châu hoàn
thành trên giường bệnh, trong suốt quãng thời gian gần 30 năm lao động nghệ
thuật không mệt mỏi đó, tính cho đến nay, sáng tác của ông luôn nhận được
sự quan tâm và chú ý của công chúng cùng với nhiều bài viết, chuyên luận và
những công trình nghiên cứu khoa học.
Cuốn Nguyễn Minh Châu, con người và tác phẩm (Tôn Phương Lan và
Lại Nguyên Ân biên soạn), Nguyễn Minh Châu, tài năng và sáng tạo nghệ
thuật (Mai Hương sưu tầm, biên soạn và giới thiệu), Nguyễn Minh Châu về
tác gia và tác phẩm (Nguyễn Trọng Hoàn giới thiệu và tuyển chọn) là sự tổng
hợp nhiều bài viết của giới nghiên cứu và phê bình trong việc đi sâu tìm hiểu
con người và sáng tác của nhà văn trên cả ba mảng: tiểu thuyết, truyện ngắn
và tiểu luận phê bình. Trong giới hạn của đề tài nghiên cứu, người viết chỉ
điểm qua những ý kiến và bài viết có liên quan đến truyện ngắn của ông.
Trước 1975, với việc xây dựng được không khí huyền diệu và hào
hùng của thời kháng chiến, đặc biệt là hình tượng người anh hùng, truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu đã được dư luận chào đón nồng nhiệt. Có thể kể đến
bài viết của những tác giả như: Nguyễn Kiên với Đọc Những vùng trời khác
nhau của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Thanh Hùng với Cái đẹp và cái hay
đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, tác giả đã đánh giá cao năng lực của nhà
văn trong việc phân tích và thể hiện những biến động tâm lý khá phức tạp của
nhân vật. Bên cạnh đó, tác giả nhận xét: “Đưa nhân vật cũng như người đọc
đối diện với cuộc sống trần thế, những vấn đề trần thế đang là một xu hướng
trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu. Cách nhìn ấy làm cho truyện ngắn
có chiều sâu, lối nhìn đời có chiều sâu (…) Hạng, Bức tranh, Đứa ăn cắp,
Sắm vai, Giao thừa, và cả Mẹ con chị Hằng, mỗi truyện một vẻ, nhấn về một
5
phía, nhưng đều có chung âm điệu phê phán khá gay gắt những thói đời, khi
tác giả thể hiện lại nó một cách khách quan” [25, tr.354-355]. Trần Đình Sử
với bài viết Bến quê - một phong cách trần thuật giàu chất triết lý đã nhận
xét: “Bắt đầu từ truyện ngắn Bức tranh, rồi tập Người đàn bà trên chuyến
tàu tốc hành và nay là tập Bến quê, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu
xuất hiện như là một hiện tượng văn học mới, một phong cách trần thuật mới
(…) hướng ngòi bút của anh vào việc phát hiện các hiện tượng đời sống trong
chiều sâu triết học và lịch sử, thể hiện nhu cầu chiêm nghiệm, tự đối thoại với
chính mình và với ý thức của mình” [25, tr.188-189]. Lại Nguyên Ân với bài
Sáng tác truyện ngắn gần đây của Nguyễn Minh Châu, trên cơ sở nhận xét về
xu hướng triết lý nhận thức của nhà văn, tác giả đã tạm xếp thử các truyện ấy
vào một số dạng chính sau: “Từ loại truyện “tự thú” mà trung tâm thường là
một nhân vật đang “sám hối”, đang tự phân tích, phê phán bản thân về đạo
đức, lối sống, nhà văn đã chuyển sang thể nghiệm loại truyện tuy có dạng thức
“tự nhiên”, khách quan nhưng phê phán gay gắt những lối sống vô ý thức,
vâng theo những chuẩn mực thông tục, không hề lường tới hậu quả, không hề
biết tới thực chất lối sống của mình là gì. Thêm một bước nữa, nhà văn đi tới
loại truyện cũng có dạng khách quan tự nhiên, nhưng không phải để lên án,
phê phán đối tượng cụ thể nào mà chủ yếu để nhận thức những tình thế,
những khía cạnh trái ngược vốn có trong đời sống con người” [25, tr.269].
tạo của nhà văn. Đinh Trí Dũng với bài viết Nguyễn Minh Châu và sự trăn trở
của một ngòi bút đầy trách nhiệm đã khẳng định: “Nguyễn Minh Châu như
một người lính hành quân không mệt mỏi, luôn trăn trở đào sâu vào những
tầng vỉa mới của đời sống, phát hiện những kiểu người mới, những giá trị
mới. Và giọng văn của Nguyễn Minh Châu cũng có những biến đổi: ân tình,
sâu sắc, nhiều lúc “đầy trắc ẩn” [25, tr.360]. Nguyễn Trung Hiếu với Trở lại
Chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu” đã nhận xét: “Một trong
7
những cái lạ của Nguyễn Minh Châu là Người đàn bà trên chuyến tàu tốc
hành. Lạ về nhân vật, lạ về kết cấu và lạ về cả lô gích của chuyện. Nó gây
cảm giác nửa tin nửa ngờ, nhưng nó quả có một sức hấp dẫn bàng hoàng”
[25, tr.185]. Lê Quang Hưng với bài viết Một hình tượng nông dân điển hình
trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu (về nhân vật lão Khúng trong Khách ở
quê ra và Phiên chợ Giát) đã nhận xét: “Nhân vật lão Khúng là sự trộn lẫn
những sắc màu thẩm mĩ đối lập một cách độc đáo để tạo nên “con người”
này: bản năng và lý trí, hoang sơ và lọc lõi, chấp nhận và đấu tranh, đơn
giản mà cũng lắm quanh co giằng xé” [25, tr.212],…
Di sản văn học của Nguyễn Minh Châu vẫn không ngừng nhận được sự
quan tâm, hưởng ứng của dư luận trong và ngoài nước với nhiều bài viết được
đăng trên các báo và tạp chí, ngay cả khi đất nước đã bước sang thiên niên kỉ
mới. N.I.Niculin với bài Nguyễn Minh Châu và sáng tác của anh đã khẳng
định những đóng góp của nhà văn trong việc mở ra cho văn học những cái
mới trên phương diện đề tài và hình tượng nhân vật. Dương Thị Thanh Hiên
với Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu đã phân tích các hình ảnh biểu tượng tạo
nên chất trữ tình, triết lý cho tác phẩm. Lê Quý Kì với bài viết Nguyễn Minh
Châu viết về chiến tranh và sau chiến tranh, qua phân tích hai truyện ngắn
Cỏ lau và Mùa trái cóc ở miền Nam, tác giả đã khẳng định đóng góp của nhà
văn trong xây dựng nhân vật với những đặc trưng cơ bản của thời đại và sự
ăn Long và Trịnh Thu Tuyết:
tác giả đã khẳng định vị trí và tài năng của nhà văn trong đổi mới ý thức nghệ
thuật, đổi mới thế giới nhân vật, đổi mới kết cấu và nghệ thuật trần thuật khi
đặt vấn đề nghiên cứu sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu trong sự
vận động của văn xuôi đương đại. Tuy chưa phải là hai công trình nghiên cứu
chuyên biệt về truyện ngắn, nhưng các tác giả cũng đã dành phần lớn dung
lượng trong phân tích tác phẩm truyện ngắn để góp phần minh họa cho phần lý
thuyết thêm thuyết phục.
Sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu còn được đề cập khá
nhiều trong các công trình luận án, luận văn, khóa luận cũng như trong công
9
tác giảng dạy tại các trường phổ thông và chuyên nghiệp trên cả nước. Có thể
kể đến các luận án như: Mạch lạc và hệ thống sự kiện trong một số truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu (Trần Thị Thu Hiền - ĐHSP Hà Nội), Nghệ thuật tự
sự trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu (Lê Thị Hoa - ĐHSP
Hà Nội), Hàm ngôn trong một số truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu (Lương
ăn Hà - ĐHSP Hà Nội),… Những luận văn như: Những đóng góp của Nguyễn
Minh Châu trong quá trình đổi mới của văn học Việt Nam hiện đại (Trần Thị
Thái - ĐHKHXH&N Hà Nội), Lời văn nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu (Nguyễn Thị
ân - ĐHSP Hà Nội 2), Thế giới nghệ thuật truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu (Nguyễn Thị Phương Thảo - ĐHKHXH&N
Hà Nội),
tranh đời sống, những cốt truyện không có mở đầu hay kết thúc, vắng bóng
những thắt mở nút hồi hộp, chỉ là sự tái hiện những dòng đời đang tự nhiên
trôi chảy” [35, tr.153]. Đối với loại cốt truyện đời tư được xây dựng dựa trên
tình huống bi kịch, tác giả khẳng định: “Cốt truyện trong các truyện ngắn này
không dừng lại ở một thời điểm cắt ngang mà thường trải dài theo lịch sử của
cả số phận, một cuộc đời với những xung đột tâm lý chồng chéo. Câu chuyện
mở ra trên nền của “tình huống xung đột cố hữu”, hầu như không có cao
trào, thắt mở nút theo kiểu cốt truyện truyền thống” [35, tr.156].
Trên cơ sở khảo sát những tài liệu hiện có trong tay, chúng tôi nhận
thấy trong những giới hạn nhất định, do tính chất về đối tượng, mục đích và
phạm vi nghiên cứu khác nhau nên sự quan tâm của các tác giả mới chỉ dừng
lại ở những bài viết nhỏ, hoặc đề cập đến một vài phương diện thuộc kết cấu.
Song chưa có công trình nào thật chi tiết nghiên cứu về nghệ thuật kết cấu
một cách hệ thống, khi đi sâu vào phân tích vai trò, nhiệm vụ của kết cấu đối
với việc tổ chức các yếu tố nội dung và tổ chức nghệ thuật trần thuật. Trân trọng
và kế thừa nghiên cứu của các tác giả đi trước, luận văn của chúng tôi đi sâu tìm
hiểu về Đặc sắc nghệ thuật kết cấu truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975.
11
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu Đặc sắc nghệ thuật kết cấu truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu sau 1975, người viết nhằm mục đích tìm hiểu những nét đặc sắc về
nghệ thuật kết cấu trong sáng tác truyện ngắn của nhà văn để thấy được
những nét đặc trưng riêng, đồng thời hiểu rõ hơn phong cách truyện ngắn của
ông. Qua đó tiếp tục khẳng định bút pháp sáng tạo độc đáo và giàu màu sắc
thẩm mĩ trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, cũng như vị trí và đóng góp
của ông đối với nền văn xuôi iệt Nam hiện đại.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu khái luận về kết cấu, bao gồm: khái niệm kết cấu và vai trò
vật, cốt truyện, điểm nhìn trần thuật và tình huống truyện làm nên những nét
đặc sắc về nghệ thuật kết cấu truyện ngắn Nguyễn Minh Châu giai đoạn sau
1975, từ đó rút ra những kết luận khái quát về vai trò và ý nghĩa của nó đối
với việc biểu hiện các giá trị nội dung và tư tưởng của nhà văn.
- Phương pháp hệ thống: sử dụng với mục đích nhằm tạo ra một cái
nhìn hệ thống và logic trong việc hệ thống hóa những yếu tố đặc sắc nhất về
nghệ thuật kết cấu truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975, giúp xác định vị
trí truyện ngắn của nhà văn trong tiến trình vận động của văn xuôi
iệt Nam
hiện đại.
- Phương pháp loại hình: dùng trong việc phân loại và xác định đặc
điểm của nhân vật, cốt truyện, điểm nhìn trần thuật và tình huống truyện,
được đặt trong tương quan với vai trò, nhiệm vụ của kết cấu.
- Phương pháp lịch sử - xã hội: dùng để làm rõ những ảnh hưởng của
hoàn cảnh xã hội đối với sự đổi mới ý thức nghệ thuật, cũng như cái nhìn mới
về con người và cuộc sống chi phối đến đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu giai đoạn sau 1975.
Song song với việc vận dụng phối hợp các phương pháp trên, người
viết còn vận dụng thao tác thống kê; phương pháp so sánh, đối chiếu ở một
chừng mực nhất định và vận dụng lý thuyết về các khoa học liên ngành: Lý
luận văn học, Thi pháp học, Tự sự học,…
13
7. Đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về nghệ thuật
kết cấu truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975. Kết quả nghiên cứu của
luận văn sẽ góp phần khẳng định vị trí và đóng góp của Nguyễn Minh Châu
thống tính cách, tổ chức thời gian và không gian nghệ thuật của tác phẩm;
nghệ thuật tổ chức những liên kết cụ thể của các thành phần cốt truyện, nghệ
thuật trình bày, bố trí các yếu tố ngoài cốt truyện,… sao cho toàn bộ tác
phẩm thực sự trở thành một chỉnh thể nghệ thuật” [20, tr.156-157].
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân cho rằng: kết cấu là
“sự sắp xếp, phân bố các thành phần hình thức nghệ thuật; tức là sự cấu tạo
tác phẩm, tùy theo nội dung và thể tài. Kết cấu gắn kết các yếu tố của hình
thức và phối thuộc chúng với tư tưởng. Các quy luật của kết cấu - là kết quả
của nhận thức thẩm mỹ, phản ánh những liên hệ bề sâu của thực tại. Kết cấu
15
có tính nội dung độc lập; các phương thức và thủ pháp kết cấu sẽ cải biến và
đào sâu hàm nghĩa của cái được mô tả” [1, tr.167].
Trong cuốn Lí luận văn học, Đoàn Đức Phương cho rằng: “Kết cấu là
sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong bố cục của tác phẩm, là sự tổ chức,
sắp xếp các yếu tố, các chất liệu tạo thành nội dung của tác phẩm trên cơ sở
đời sống khách quan và theo một chiều hướng tư tưởng nhất định” [17, tr.179].
Như vậy, những quan niệm trên nhìn chung là tương đồng và có sự
nhấn mạnh riêng.
ề cơ bản, chúng ta có thể hiểu: kết cấu là sự sắp xếp, tổ
chức các yếu tố bên trong và bên ngoài tác phẩm sao cho tác phẩm trở thành
một chỉnh thể nghệ thuật thống nhất và sinh động, qua đó bộc lộ quá trình
nhận thức và góp phần khẳng định tài năng cũng như phong cách nhà văn.
1.1.2. Kết cấu truyện ngắn
Truyện ngắn là một thể tài tự sự và được giới nghiên cứu quan niệm
như sau:
Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
gian, không gian nghệ thuật; tổ chức điểm nhìn trần thuật; sắp xếp các yếu tố
ngoài cốt truyện,… qua đó bộc lộ chủ đề của tác phẩm và tư tưởng của nhà
văn. Bên cạnh việc tổ chức và sắp xếp các thành tố trên, kết cấu còn làm
nhiệm vụ vừa tạo ra mối liên hệ nội tại giữa chúng để tạo nên một chỉnh thể
nghệ thuật nhất định, vừa tạo nên một chất keo kết dính chúng với hiện thực
đời sống được nhà văn phản ánh trong tác phẩm và đặt trong bối cảnh văn học
của thời đại.
Nhưng điều đáng lưu tâm ở đây là do tính chất về mặt thể loại nên
những tư tưởng mà nhà văn muốn thể hiện có thể dễ dàng được gói gọn lại
trong một khuôn khổ rộng lớn của tiểu thuyết, nhưng lại khó có thể chứa vừa
trong khuôn khổ của truyện ngắn. Chính điều này đã đặt ra yêu cầu người
nghệ sĩ trong sáng tác truyện ngắn cần phải có một lối kết cấu khác, một cấu
17
trúc bố cục khác so với tiểu thuyết. Nguyễn Minh Châu đã khẳng định: “Nếu
tiểu thuyết là một đoạn của dòng đời thì truyện ngắn là một cái mặt cắt của
dòng đời. Vì thế, mà cũng như kịch ngắn, truyện ngắn đòi hỏi ở người viết
một công việc tổ chức, cấu trúc truyện hết sức nghiêm ngặt” [9, tr.283-284].
Truyện ngắn là một tác phẩm nghệ thuật được nhà văn lấy chất liệu từ hiện
thực đời sống rồi đem “chưng cất” và gói gọn lại trong một dung lượng nhỏ.
Công việc này đòi hỏi sự tinh tế cao, thể hiện cái tài của người nghệ sĩ. Bởi
truyện ngắn nhỏ bé nhưng lại có sức chứa nội tại rất lớn, thậm chí trở thành
một bức tranh bao quát toàn bộ đời sống. Sức chứa ấy có mối liên quan mật
thiết với việc nhà văn vận dụng những nguyên tắc kết cấu để tổ chức xây
dựng tác phẩm nghệ thuật, mà nói như Bùi
iệt Thắng thì “viết truyện ngắn
là “chơi” kết cấu” [56, tr.73]. Chính vì vậy, để đạt được sự “tiết kiệm nghệ
mỗi hoàn cảnh, mỗi con người” [9, tr.24].
- Về mối quan hệ giữa văn học với hiện thực và con người:
Nguyễn Minh Châu cho rằng điều cần thiết đối với một tác phẩm văn
học là phải đảm bảo được tính chân thật khi phản ánh đời sống. Chính vì vậy,
vào năm 1971, ông đã nhìn lại những hạn chế trong sáng tác văn học giai
đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mĩ và nhận ra rằng: “Hình như cuộc
chiến đấu anh hùng sôi nổi hiện nay đang được văn xuôi và thơ ca đôi khi
tráng lên một lớp men “trữ tình” hơi dày, cho nên ngắm nó thấy mỏng mảnh,
bé bỏng và óng chuốt quá khiến người ta phải ngờ vực” [9, tr.17]. Ông đã tự
“cởi trói thói quen sáng tác”, thoát ra khỏi những “khuôn khổ có s n”, tìm
đến “một khoảng đất rộng rãi” để khám phá đời sống trong tất cả tính đa sự
của nó. Nguyễn Minh Châu đã đi đến quan niệm ngày càng mở rộng và toàn
vẹn hơn về hiện thực. Đó là một hiện thực không hề tô vẽ với cả những vẻ
đẹp và những “khuyết tật” - một hiện thực không như những gì ta mơ tưởng.
Ông viết: “Các nhà văn đang cố nắm bắt không những cái thực mà cả cái hư
ảo của đời sống, không những nắm bắt hiện thực mà còn muốn nắm bắt cái
bóng của hiện thực và cái đó mới là cái hiện thực đích thực” [9, tr.329].
19
Nguyễn Minh Châu quan niệm: “Cuộc đời và văn học đều có chung
một tiêu điểm là con người” [9, tr.36-37]. Khi nhìn nhận lại văn học giai đoạn
chiến tranh, ông nhận ra rằng nhân vật chỉ là phương tiện để xâu chuỗi các
biến cố lịch sử nên nó thường bị mờ nhạt. Từ đó, ông nghiệm ra rằng: “Phải
viết về con người. Tất nhiên con người không tách rời sự kiện chiến tranh (…)
Rồi trước sau con người cũng đã leo lên trên các sự kiện để đòi quyền sống”
[9, tr.38-39]. ới ông, thế giới bên trong tâm hồn con người chính là cái hiện
thực phong phú và bí ẩn nhất. Trong thời chiến, ông say mê đi tìm “hạt ngọc
ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người”. Trong thời bình, ông đã tiếp cận
con người trong tính hiện thực toàn vẹn và nhận thấy: “Hình như họ luôn