ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
--------------
ĐOÀN THỊ MỸ DUNG
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ - VĂN HÓA
ĐỊA DANH THÀNH PHỐ TAM KỲ (QUẢNG NAM)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ HỌC
ĐÀ NẴNG - 2016
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
--------------
ĐOÀN THỊ MỸ DUNG
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ - VĂN HÓA
ĐỊA DANH THÀNH PHỐ TAM KỲ (QUẢNG NAM)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.02.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Trần Văn Sáng
ĐÀ NẴNG – 2016
Sau Công nguyên
Trước Công nguyên
Tiếng Việt phổ thông
MỤC LỤC
MỤC LỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Kết quả thu thập địa danh thành phố Tam Kỳ.................................38
Bảng 2.1. Mô hình cấu trúc phức thể địa danh thành phố Tam Kỳ.................47
Bảng 2.2. Thống kê cấu tại thành tố chung của địa danh thành phố Tam Kỳ.......49
Bảng 2.3.Thống kê tần số xuất hiện của các địa danh thành phố Tam Kỳ đi
kèm với các loại thành tố chung......................................................................50
MỤC LỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1. Vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học...................................20
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài nghiên cứu địa danh
Địa danh là một hiện tượng xã hội, nhằm để phân biệt các thực thể địa
lý mà trong sinh hoạt, sản xuất con người đã tạo nên. Địa danh có quan hệ
mật thiết với cuộc sống thường nhật của chúng ta, có liên hệ rộng rãi, gắn bó
với các lĩnh vực ngoại giao, quốc phòng, thương mại, dân chính, trắc họa và
nghiên cứu khoa học, ghi lại dấu ấn phản ánh các giá trị văn hóa lịch sử và
đời sống xã hội. Thông qua nghiên cứu địa danh, chúng ta có thể hiểu được
nhiều vấn đề như sự phân bố và di chuyển dân cư, tôn giáo, tín ngưỡng,
văn hóa hay lịch sử ấy chỉ thuần túy là những kết luận mang tính giả định.
Trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, cùng với sự thay đổi của
tổ chức hành chính đất nước, Tam Kỳ cũng có những thay đổi về địa giới và
tên gọi. Trước thế kỷ XV, đây vốn là vùng đất Chiêm Động của vương quốc
cổ Chămpa. Thế rồi trong quá trình mở nước vào phương Nam của dân tộc,
vùng đất này từng bước được sáp nhập vào lãnh thổ của Đại Việt. Ngày nay,
Tam Kỳ là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam, là trung tâm kinh tế, chính
trị, văn hóa, khoa học của tỉnh Quảng Nam, và là địa phương có bề dày truyền
thống yêu nước và cách mạng sâu sắc. Nghiên cứu địa danh Tam Kỳ là góp
phần nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa địa phương, góp phần vào việc nghiên cứu
vùng lãnh thổ, một cách tiếp cận đang được ưa chuộng hiện nay trong các
khoa học xã hội và nhân văn.
Nghiên cứu địa danh là một lĩnh vực hấp dẫn của ngôn ngữ học. Tuy
nhiên ở nước ta, những nghiên cứu đã có cũng chỉ có thể là những công trình
giải quyết những nội dung cụ thể thuộc một vùng lãnh thổ. Vì thế, nghiên cứu
Đặc điểm ngôn ngữ-văn hóa địa danh thành phố Tam Kỳ (Quảng Nam) mà
chúng tôi tiến hành cũng đi theo định hướng ấy, và nhằm góp phần từng bước
hoàn thiện lý thuyết nghiên cứu địa danh trên phạm vi cả nước.
3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Tình hình nghiên cứu địa danh trên thế giới
Vấn đề nghiên cứu địa danh được phát triển từ rất lâu. Tình hình nghiên
cứu địa danh thế giới được Lê Trung Hoa [22] và Trần Văn Sáng [41] tổng
thuật một cách chi tiết. chúng tôi có thể tổng thuật trích lược như sau:
Ở phương Đông, đặc biệt Trung Quốc, một nước liền kề với chúng ta,
địa danh cũng được quan tâm từ rất sớm. Thời Đông Hán, Ban Cố đã ghi chép
hơn 4000 địa danh trong bộ Hán thư, trong đó có một số địa danh đã được
phân tích địa danh. Ngoài việc trình bày cách hiểu về khái niệm địa danh, bà
còn nêu lên các vấn đề khác như tính liên tục của tên gọi, không gian tên
riêng và các loại địa danh (địa danh kí hiệu, địa danh mô tả, địa danh ước
vọng) cũng như tên gọi các đối tượng địa lí theo địa hình. Có thể nói đây là
những công trình lớn, có giá trị tổng kết những kết quả nghiên cứu cơ bản, đặt
nền móng vững chắc cho các công trình nghiên cứu về Địa danh học về sau.
Bên cạnh những công trình của các nhà Địa danh học Xô Viết, các nhà
nghiên cứu địa danh ở một số quốc gia cũng đã có những đóng góp không nhỏ
trong lĩnh vực này. Tại Pháp, học giả Ch.Rostaing (1965) trong tác phẩm Les
noms de lieux đã nêu ra hai nguyên tắc nghiên cứu địa danh. Đó là phải tìm
ra các hình thức cổ của các từ cấu tạo địa danh và muốn biết hình thức từ
nguyên của địa danh thì phải dựa trên kiến thức ngữ âm học địa phương.
Chuyên luận này đã bổ sung những vấn đề mang tính lý luận cho vấn đề mà
A.I.Popov đã nêu ra trước đó.
Nhìn chung, điểm qua một số công trình cơ bản trên, chúng ta có thể
hình dung lịch sử nghiên cứu địa danh học trên thế giới đã hình thành và phát
triển qua ba giai đoạn. Giai đoạn phôi thai ngay từ những năm đầu công
nguyên với việc tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa cũng như diễn biến của địa danh.
Giai đoạn hình thành bắt đầu từ thế kỷ XIX và đến giữa thế kỷ XX giai đoạn
này coi như chấm dứt chuyển sang giai đoạn phát triển và đạt được những
5
thành công đáng kể thì Địa danh học Việt Nam mới bắt đầu dần dần hình
thành.
2.2. Tình hình nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu địa danh cũng được quan tâm từ rất
sớm. Theo Lê Trung Hoa [22] và Trần Văn Sáng [41], các tài liệu cổ thư của
Trung Hoa như Tiền Hán thư, Hậu Hán thư, Tấn thư, trong thời kỳ Bắc
Nam nhất thống chí (biên soạn thời Tự Đức), Đại Nam quốc cương vựng
biên của Hoàng Hữu Xứng (1886), Đồng Khánh địa dư chí (biên soạn thời
Đồng Khánh) và các bộ địa chí địa phương như Bắc Thành địa dư chí của
Lê Chất, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Nghệ An ký, Nam
Định tỉnh địa dư chí...
Nhìn chung, các công trình địa dư được biên soạn trước năm 1945 chủ
yếu tập trung vào phân loại, định hình tên gọi và nghiên cứu nặng về tính
hành chính, lịch sử. Các nhà biên soạn chưa chú tâm vào vấn đề giải thích ý
nghĩa của hệ thống này, vì thế những công trình trên là những tư liệu cần thiết,
bổ túc cho các nhà nghiên cứu địa lý lịch sử, ngôn ngữ học lịch sử và địa danh
học lịch sử.
Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam thực sự có bước tiến đáng kể
từ năm 1960 trở đi. Với công trình Mối quan hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông
Nam Á qua một vài tên sông của Hoàng Thị Châu (1964) được xem như
công trình đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu địa danh từ góc nhìn ngôn
ngữ học. Cùng với công trình của Hoàng Thị Châu, chuyên luận Vấn đề về
Địa danh học Việt Nam của Nguyễn Văn Âu (1978) là công trình mang tính
lý luận đầu tiên dưới góc nhìn Lịch sử - Địa lý - Ngôn ngữ học.
Đặc biệt trong những năm gần đây, việc nghiên cứu địa danh từ góc độ
văn hóa cũng có nhiều khởi sắc tiêu biểu có một số công trình như: Một số
vấn đề về Địa danh học Việt Nam của Nguyễn Văn Âu (1988, tái bản 1998),
Lược khảo nguồn gốc địa danh Nam bộ của Bùi Đức Tịnh (1999), đặc biệt
7
cụm công trình khảo cứu về địa danh của Lê Trung Hoa đã chính thức hình
thành một phương pháp mới mang tính liên ngành văn hoá, ngôn ngữ trong
lịch sử nghiên cứu địa danh ở Việt Nam như: Địa danh thành phố Hồ Chí
Minh (1998), Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh (1999),
nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn ngôn ngữ học, góp phần nghiên cứu vùng
địa danh và phương ngữ cụ thể.
2.3. Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Quảng Nam và thành phố Tam Kỳ
Nếu kể cả những công trình nghiên cứu văn hóa, địa lý, lịch sử có đề
cập đến các địa danh ở các tỉnh Trung Trung Bộ thì xưa nhất phải kể đến Ô
Châu cận lục của Dương Văn An đời Mạc chép về sông núi, thành trì, phong
tục của xứ Thuận Quảng, từ Quảng Bình đến Quảng Nam. Kế đến là Phủ
biên tạp lục của Lê Quý Đôn tập hợp những tài liệu về địa lý, chính trị, kinh
tế, văn hóa trong thời gian làm đô đốc xứ Thuận Hóa cuối thế kỷ
XVIII. Ngoài ra, các công trình về địa lý, lịch sử như Đại Nam nhất thống
chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ
Liên... cũng rải rác có đề cập đến các địa danh ở Nam Trung Bộ.
Đầu thế kỷ XX, đặc biệt từ sau 1945 đến nay, đã có nhiều công trình, bài
báo liên quan đến các địa danh Quảng Nam - Đà Nẵng. Các công trình
Quảng Nam, địa lý, nhân vật, lịch sử (2000) của Lâm Quang Thự, Quảng
Nam, đất nước và nhân vật (2000), Biến đổi địa danh ở vùng Quảng Nam Đà Nẵng (2001) của Võ Hoàng... Đặc biệt, các chuyên khảo Đất nước Việt
Nam qua các đời (1978) của Đào Duy Anh, Đi thăm đất nước (1989) của
Hoàng Đạo Thúy... cũng đã rải rác có đề cập đến một số địa danh thuộc các
tỉnh Nam Trung Bộ. Gần đây nhất, công trình Sổ tay địa danh du lịch các
tỉnh Trung Bộ do tập thể các tác giả ở Huế biên soạn để giới thiệu trên 70 địa
danh từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi.
9
Nói về Quảng Nam có rất nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu nhưng chủ
yếu nói về vùng đất, con người, văn hóa, ẩm thực xứ Quảng… chứ chưa có
công trình nào tìm hiểu về địa danh Tam Kỳ một cách cụ thể và hệ thống.
Những công trình đề cập ít nhiều đến địa danh Quảng Nam cũng như
Tam Kỳ chủ yếu là những công trình lịch sử Đảng bộ trong tỉnh.
Kỳ trên các mặt: đặc điểm cấu tạo, phương thức định danh, đặc điểm về ý
nghĩa của các yếu tố, một vài đặc điểm về nguồn gốc biến đổi địa danh, một
số đặc trưng văn hóa gắn với địa danh thành phố Tam Kỳ.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích
- Thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng ta sẽ góp phần bảo tồn, phát
huy văn hóa truyền thống của một vùng lãnh thổ.
- Thông qua việc miêu tả và phân tích địa danh ở thành phố Tam Kỳ trên
các mặt: đặc điểm cấu tạo, phương thức định danh, đặc điểm ý nghĩa, nguồn
gốc và sự biến đổi địa danh, những nét đặc trong ngôn ngữ - văn hóa gắn với
địa danh ở thành phố Tam Kỳ, đề tài sẽ góp phần nghiên cứu văn hóa xã hội
của vùng đất này, cung cấp những dữ liệu góp phần cho việc nghiên cứu lý
thuyết về địa danh trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và cả nước.
4.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có 4 nhiệm vụ cần được giải quyết:
- Trình bày cơ sở lí luận về địa danh học và tổng quan nghiên cứu địa
danh, vấn đề địa danh, địa bàn nghiên cứu, phương pháp, cách tiếp cận đặc
điểm ngôn ngữ - văn hóa các địa danh ở thành phố Tam Kỳ.
- Điền dã, khảo sát địa danh thuộc các loại hình khác nhau được phân bố
và tồn tại theo các đối tượng địa lí trong phạm vi địa bàn thành phố Tam Kỳ.
- Thống kê, miêu tả đặc điểm cấu trúc các địa danh ở thành phốTam Kỳ
trên các phương diện: mô hình phức thể địa danh, các đặc điểm ngữ pháp,
nguồn gốc của thành tố chung và tên riêng địa danh.
11
- Miêu tả đặc điểm định danh các địa danh thành phố Tam Kỳ ở các khía
cạnh phương thức định danh, đặc điểm ngữ nghĩa và giá trị phản ánh hiện
thực của địa danh; đặc trưng văn hóa thể hiện qua thành tố chung và tên riêng
trưng văn hóa tộc người, một nhiệm vụ tối quan trọng khi nghiên cứu địa danh.
Bên cạnh sử dụng phương pháp nghiên cứu điền dã để thu thập thêm tư
liệu trên hiện trường và phương pháp miêu tả, trong quá trình viết chúng tôi
còn sử dụng một số phương pháp, thủ pháp chung của các ngành khoa học
khác, như: Phương pháp quy nạp, diễn dịch, mô hình hóa, thủ pháp thống
kê… để làm rõ hơn các đặc điểm của địa danh ở địa bàn nghiên cứu.
Trong một chừng mực nhất định, phương pháp so sánh lịch sử cũng
được áp dụng để chỉ ra những chuyển biến về âm thanh, ngữ nghĩa và lí do
ban đầu của địa danh qua sự tiếp xúc ngôn ngữ và văn hóa trên địa bàn.
5.2. Nguồn tư liệu của luận văn
5.2.1. Tư liệu thành văn
Tư liệu thành văn được tập hợp từ các nguồn quan trọng sau:
(1) Danh mục địa danh khảo sát qua hệ thống bản đồ được soạn thảo vào
các thời kỳ với nhiều tỉ lệ khác nhau. Đặc biệt, chúng tôi chú ý tới cách ghi
địa danh trên bản đồ quân sự. Đây là nguồn cứ liệu góp phần lí giải cách ghi
khác nhau về địa danh, qua đó đặt vấn đề chuẩn hóa chính tả địa danh.
(2) Danh mục địa danh được thu thập từ các loại hình văn bản khác nhau
trong tiếng Việt. Trong đó, nguồn tư liệu địa danh được thu thập từ danh mục
các đơn vị hành chính các cấp ban hành là quan trọng, đây là nguồn tư liệu
thành văn chính thống, phần lớn được dùng cố định, lâu dài; còn danh mục
địa danh thu thập trong các tài liệu văn bản khác như sách, báo, địa chí, từ
điển, công báo… thường xuyên có những thay đổi, tồn tại nhiều cách viết
khác nhau không thống nhất.
5.2.2. Tư liệu điền dã
Nguồn thông tin tư liệu về địa danh được điều tra điền dã tại địa bàn là
nguồn thông tin tư liệu hết sức quan trọng. Chúng tôi cho rằng, chỉ có phương
pháp điều tra điền dã, bám sát địa bàn nghiên cứu để thu thập thông tin dưới
nhiều hình thức khác nhau về địa danh mới có thể lí giải được nguồn gốc và ý
14
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ HỮU
QUAN VỀ ĐỊA DANH THÀNH PHỐ TAM KỲ
1.1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH
1.1.1. Về khái niệm địa danh
Địa danh (toponym) là tên gọi của địa hình thiên nhiên, các công trình
xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ nào đó. Thuật ngữ địa
danh trong tiếng Hy Lạp có cấu tạo gồm hai bộ phận: topos (địa điểm) và
onoma/onima (tên gọi chung nhất với ý nghĩa “tên gọi địa lý”). Địa danh,
hiểu theo nghĩa hẹp, là tên gọi của các đối tượng địa lý gắn với từng vùng đất
cụ thể.
Hiện vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về địa danh, vì mỗi định
nghĩa đều có điểm riêng tùy theo cách lập luận và hướng tiếp cận của từng
tác giả. Theo A.V. Superanskaja, địa danh là “toàn bộ những tên gọi địa lý,
đôi khi còn có những tên gọi khác...” [44, tr.3] và “những địa điểm, mục tiêu
địa lý đó là những vật thể tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị, xác định trên
bề mặt trái đất, từ những vật thể lớn nhất (các lục địa và đại dương) cho đến
những vật thể nhỏ nhất (những ngôi nhà, vườn cây đứng riêng rẽ) đều có tên
gọi” [44, tr. 13]. Theo quan niệm của tác giả, địa danh là tên gọi các đối
tượng địa lý khác nhau, địa hình trên bề mặt trái đất. Địa danh đánh dấu các
tên gọi địa lý bằng các từ. Địa danh gần gũi với tên người, tên động vật. Tác
giả Từ Thu Mai cũng đồng ý với quan điểm của Superanskaja: “Địa danh là
những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lý có vị trí xác định trên bề
mặt trái đất” [31, tr.21].
Ở Việt Nam, với cách hiểu từ Hán Việt, địa danh có nghĩa là tên đất.
Quan niệm về địa danh nhìn từ góc độ địa lý - văn hóa, Đào Duy Anh cho
rằng: “Địa danh là tên gọi các miền đất” [2, tr.220]. Nguyễn Văn Âu cũng cho
16
những cách phân loại khác nhau về địa danh. Dưới đây là một số cách phân
loại địa danh của các tác giả nước ngoài.
Tác giả A.V.Superanskaja [44] chia địa danh thành 8 loại: 1. Phương
danh; 2. Thuỷ danh; 3. Sơn danh; 4. Phố danh; 5. Lộ danh; 6. Viên danh; 7.
Đạo danh; 8. Nơi cư dân ít. Theo Lê Trung Hoa [22], tác giả A. Dauzat phân
chia các địa danh cụ thể thành 4 phần: 1. Những vấn đề chung cơ sở ngôn ngữ
tiền Ấn - Âu; 2. Các danh từ tiền La tinh về nước trong thủy danh học; 3. Các
từ nguyên Gôloa - La Mã; 4. Địa danh học Gôloa - La Mã của vùng Auvergne
và Velay. Còn Ch.Rostaing, thì xem xét các vấn đề trong địa danh như: 1.
Những cơ sở tiền Ấn - Âu; 2. Các lớp tiền Xêtích; 3. Lớp Gôloa; 4. Những
phạm vi Gôloa - La Mã; 5. Những sự hình thành La Mã; 6. Những đóng góp
của tiếng Giécmanh; 7. Các hình thức của thời phong kiến; 8. Những danh từ
có nguồn gốc tôn giáo; 9. Những hình thái hiện tại; 10. Các địa danh và tên
đường phố; 11.Tên sông núi.
Có thể thấy, các nhà địa danh học phương Tây và Xô Viết trước đây đã
phân loại địa danh dựa theo hai tiêu chí: Nguồn gốc ngôn ngữ cấu thành địa
danh và đối tượng địa lý mà địa danh phản ánh. Trong đó, cách phân chia địa
danh của tác giả A.V.Superanskaja [44] là cụ thể và rõ ràng nhất.
1.1.2.2. Cách phân loại địa danh của các tác giả trong nước
Tác giả Nguyễn Văn Âu [4] tiến hành sắp xếp địa danh thành các kiểu
khác nhau, theo đối tượng địa lý tự nhiên và kinh tế - xã hội. Ông chia địa
danh ra: 2 loại, 7 kiểu và 12 dạng địa danh. Loại địa danh: 1. Địa danh tự
nhiên như sông Hồng, Trường Sơn, Côn Đảo. 2. Địa danh kinh tế - xã hội
như: làng Thượng Cát, huyện Sa Pa. Các kiểu địa danh: 1. sơn danh; 2. lâm
danh; 3. làng; 4. xã; 5. huyện; 6. thị và 7. thành phố và quốc gia. Các dạng địa
danh như: sông ngòi, hồ, đầm, đồi núi, hải đảo, rừng. Cách phân chia này
làm 2 loại: địa danh thuần Việt toàn dân và địa danh thuần Việt là tiếng địa
phương Quảng Trị.