đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của địa danh tâm linh ở thành phố huế - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
HOÀNG THỊ THÚY
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ - VĂN HÓA CỦA ĐỊA
DANH TÂM LINH Ở THÀNH PHỐ HUẾ
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60 22 02 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRƯƠNG THỊ NHÀN
Huế, 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản
thân. Các số liệu trong luận văn có được là trung thực và chưa
từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Nếu có kế thừa
kết quả nghiên cứu của các tác giả khác thì đều có trích dẫn cụ
thể, rõ ràng.
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Thúy
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận
được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô, gia
đình, bạn bè và các phòng ban liên quan. Tôi xin bày tỏ
lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến:
Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, Khoa Ngữ
văn, Đại học Khoa học Huế đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn.
TS Trương Thị Nhàn, cô giáo hướng dẫn, người cô kính

26 8
2.2 8
Phân loại địa danh theo tôn giáo, tín ngưỡng 8
27 8
2.3 8
Phân loại địa danh theo tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ 8
29 8
2.4 8
Phân loại địa danh theo tiêu chí cấu tạo 8
36 8
2.5 8
Bảng phân loại địa danh theo tiêu chí trường nghĩa 8
49 8
2.6 8
Phân loại địa danh theo tiêu chí phương thức định danh 8
52 8
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục đích của đề tài 4
4. Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 5
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 6
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 7
7. Cấu trúc của luận văn 7
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
1.1. Khái quát về địa danh 8
1.1.1. Khái niệm địa danh 8
1.1.2. Chức năng của địa danh 9
1.1.3. Phân loại địa danh 11
1.2. Khái niệm từ và cụm từ 13

3.2. Địa danh thể hiện dấu ấn kiến trúc 62
3.3. Địa danh thể hiện dấu ấn lịch sử 64
3.4. Địa danh thể hiện đặc trưng phương ngữ thành phố Huế 69
3.5. Địa danh thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân 74
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng Trang
2.1 Thống kê số lượng địa danh tâm linh ở thành phố Huế 26
2.2 Phân loại địa danh theo tôn giáo, tín ngưỡng 27
2.3 Phân loại địa danh theo tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ. 29
2.4 Phân loại địa danh theo tiêu chí cấu tạo 36
2.5 Bảng phân loại địa danh theo tiêu chí trường nghĩa 49
2.6 Phân loại địa danh theo tiêu chí phương thức định danh 52
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Địa danh là một phạm trù phản ánh nhiều khía cạnh địa lý, lịch sử, văn
hóa, xã hội… Địa danh cũng được xem là những tấm bia lịch sử, văn hóa
bằng ngôn ngữ. Chính vì vậy, để hiểu rõ một vùng đất nào đó ta không thể
không quan tâm đến địa danh.
Địa danh là một đơn vị được cấu tạo từ chất liệu ngôn ngữ, nó là lớp từ
ngữ nằm trong từ vựng của một ngôn ngữ, được dụng để đặt tên cho các đối
tượng địa lý có vị trí xác định trên bề mặt Trái đất. Trong quá trình ra đời, tồn
tại, phát triển địa danh luôn hoạt động và chịu sự tác động theo cơ chế hoạt
động của ngôn ngữ.
Nghiên cứu địa danh giúp soi sáng nhiều mặt cho các ngành khác của

Nghiên cứu về địa danh đã có lịch sử từ lâu đời. Có thể thấy, ngay từ
trước Công nguyên con người đã bắt đầu quan tâm đến địa danh. Tuy nhiên, ở
giai đoạn này người ta mới chỉ dừng lại ở việc sưu tầm, thống kê địa danh.
Tiên phong trong lĩnh vực xây dựng hệ thống lý thuyết về địa danh là các nhà
địa danh học Xô Viết. Cụ thể, N. I. Niconovl (1964) trong “Các khuynh
hướng nghiên cứu địa danh” và E.M.Murazev (1964) trong “Những khuynh
hướng nghiên cứu địa danh học” đã cùng quan tâm đến vấn đề khuynh hướng
nghiên cứu chung.
Cùng góp phần cho sự sáng tỏ về lý thuyết có A. I. Popov (1964) đưa ra
“Những nguyên tắc cơ bản của nghiên cứu địa danh”, trong đó chú trọng 2
nguyên tắc chính là phải dựa vào tư liệu lịch sử của các ngành ngôn ngữ học,
địa lý, lịch sử học và phải thận trọng khi sử dụng phương pháp thành tố để
phân tích ngữ vi của địa danh. Ngoài ra còn có Iu. A. Kapenco (1964) với
3
những suy nghĩ khi “Bàn về địa danh học đồng đại” . N. V. PodonXKaja
trong phân tích lý giải “Địa danh mang những thông tin gì” cũng đã góp thêm
những ý kiến cho sự nghiên cứu địa danh, đi sâu vào bản chất bên trong của
đối tượng. Tác phẩm đã đặt ra những vấn đề vừa mang tính vụ thể vừa mang
tính khái quát tổng hợp cao. Ngoài các nhà địa danh học người Xô Viết, các
nhà địa danh ở các nước khác cũng đã góp phần vào sự phong phú, đa dạng
của lĩnh vực này. C-Rostaing (1965) với “Les noms de lieux” đã chú trọng
trong việc nêu ra hai nguyên tắc nghiên cứu địa danh là phải tìm các hình thức
cổ của từ cấu tạo địa danh và muốn biết từ nguyên của địa danh đó thì phải
dựa trên kiến thức ngữ âm của địa phương.
Nghiên cứu địa danh học có những cuốn sách sưu tầm địa danh nổi tiếng
như “Hán thư” của Ban Cố thời Đông Hán, “Thủy Kinh chú” của Lê Đại
Nguyên thời Bắc Ngụy.
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu địa danh cũng ra đời từ khá sớm và để lại
cho chúng ta nhiều tài liệu quý, nhiều công trình có giá trị. Nhiều nhà sử học,
địa phương học đã dày công tìm hiểu tên đất, tên người, phục vụ cho những

Vì vậy, với đề tài này tôi muốn tiếp cận và nghiên cứu địa danh tâm
linh ở thành phố Huế dưới góc nhìn ngôn ngữ học để góp phần hoàn thiện cái
nhìn đa chiều về địa danh của Thừa Thiên Huế nói chung và địa danh tâm linh
của thành phố Huế nói riêng.
3. Mục đích của đề tài
Mục đích của tôi trong đề tài này là nghiên cứu các địa danh tâm linh
của thành phố Huế trên các phương diện định danh, đặc điểm về mặt cấu
tạo, đặc điểm ý nghĩa cùng như những đặc trưng văn hóa qua mối quan hệ
địa danh với lịch sử, địa lý, phương ngữ. Đề tài xin đưa ra những nét đặc
5
sắc trong một nền văn hóa đa dạng và có bề dày của một quá trình phát
triển. Đồng thời sẽ thấy được nguồn gốc của những sinh hoạt văn hóa dân
gian, những tín ngưỡng nằm sâu thẳm trong đời sống tâm linh của người
dân xứ Huế. Từ đó thấy được sự giao thoa giữa ngôn ngữ với văn hóa và
lịch sử của vùng đất này.
Thông qua việc thu thập miêu tả phân tích các địa danh tâm linh ở
thành phố Huế, tôi hy vọng sẽ góp phần hoàn chỉnh kiến thức nghiên cứu địa
danh văn hóa của Việt Nam nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng. Công
trình nghiên cứu có ý nghĩa khái quát một cách có hệ thống các địa danh góp
phần lưu giữ những tài liệu quý giá cho thành phố Huế. Qua đó, quảng bá
nhằm tôn vinh nét đẹp truyền thống của cố đô Huế.
4. Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của bài luận văn là những đặc điểm về ngôn ngữ và văn hóa
của các địa danh tâm linh trên địa bàn thành phố Huế.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Hệ thống các địa danh tâm linh ở thành phố Huế như đền, chùa, nhà
thờ, niệm phật đường, đàn, điện, thánh thất, không tính đến các lăng tẩm, am
miếu nhỏ và nhà thờ họ.
4.3. Nhiệm vụ nghiên cứu

báo, luận văn có liên quan.
Bên cạnh đó, nguồn tư liệu lưu trữ hoàn chỉnh của các phường thuộc
thành phố Huế, tư liệu do học viện Phật giáo, tổng giáo phận Huế, trung tâm bảo
tồn di tích cố đô cung cấp… Đây là nguồn tài liệu quan trọng vì có tính minh xác
cao, đảm bảo tính pháp lý cho những điều được trình bày trong luận văn.
7
Đối với việc thống kê số liệu xin được phép thống kê địa danh ở thời điểm
hiện tại.
Từ những cứ liệu thu thập được chúng tôi sẽ tiến hành phân loại địa
danh và đi sâu vào phân tích những đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của vùng
đất được thể hiện qua tên gọi của địa danh.
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Khi thực hiện đề tài này tôi mong muốn sẽ có những đóng góp cả về
mặt khoa học và thực tiễn.
Về mặt khoa học: luận văn sẽ làm sáng tỏ một số vấn đề về địa danh và
địa danh tâm linh.
Về mặt thực tiễn: luận văn làm sáng tỏ những đặc điểm về ngôn ngữ và
văn hóa của địa danh trên nhưng bình diện như kiến trúc, lịch sử, đặc trưng
phương ngữ, dấu ấn tôn giáo, tín ngưỡng.
Bước đầu luận văn nghiên cứu những đặc điểm về ngôn ngữ và văn hóa
của địa danh trong mối quan hệ với địa lý, lịch sử của thành phố Huế.
Đây sẽ là nguồn tư liệu bổ ích, góp phần bổ sung vào kho tàng lý luận
nghiên cứu địa danh nói chung và địa danh thành phố Huế nói riêng.
Qua việc tìm hiểu những đặc điểm văn hóa thể hiện trong địa danh một
lần nữa luận văn chỉ rõ sự tương đồng về văn hóa và những sự tiếp xúc ngôn
ngữ trên các bình diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của thành phố Huế.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục,
nội dung luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận

quan điểm: “Địa danh là tên đất gồm sông, núi, làng mạc… hay tên đất các
địa phương” [2, tr.5].
Với cách tiếp cận địa danh từ góc độ ngôn ngữ Lê Trung Hoa đã đưa ra
định nghĩa: “Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định được dùng làm tên riêng
của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ (không
có ranh giới rõ ràng) và các công trình xây dựng thiên nhiên về không gian
hai chiều” [15, tr.9]… Nguyễn Kiên Trường thì cho rằng: “Địa danh là tên chỉ
các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái
đất” [25, tr.16]. Trần Văn Dũng thì lại đưa ra định nghĩa: Địa danh là tên gọi
những đối tượng địa lý tự nhiên và địa lý do con người kiến tạo.
Trần Văn Sáng trong luận án tiến sĩ: “Địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ
dân tộc thiểu số ở Tây Thừa Thiên Huế”, đã đưa ra quan niệm: “Địa danh
chính là những từ, cụm từ được sử dụng để gọi tên các đối tượng không gian
địa lý, các đặc trưng địa hình, địa vật nào đó. Địa danh có tác dụng khu biệt,
định vị chính những đối tượng, không gian địa lý, những đặc trưng địa hình,
địa vật được gọi tên đó với những đối tượng, không gian địa lý, những đặc
trưng địa hình địa vật khác trong môi trường xung quanh” [20, tr.19].
Tiếp thu những ý kiến của các học giả đi trước và hiểu biết từ thực tế,
chúng tôi xin đưa ra quan niệm về địa danh: Địa danh là những từ hoặc ngữ
cố định, được dùng để gọi tên cho các đối tượng địa lý, không gian địa lý, các
đặc trưng địa hình địa vật nào đó.
1.1.2. Chức năng của địa danh
Có thể thấy, xét từ góc độ ngôn ngữ học địa danh có các chức năng như sau:
* Chức năng định danh sự vật
Chức năng định danh của địa danh được thể hiện ở chỗ: Nếu thừa nhận
ngôn ngữ là một hệ thống các đơn vị thì địa danh cũng như từ, cụm từ, địa
10
danh cũng là các đơn vị định danh. Chúng làm thành một tiểu hệ thống riêng
biệt và nằm trong hệ thống các đơn vị định danh ấy. Dễ dàng nhận thấy, nếu
như mất đi những tên riêng, mất đi những địa danh là con người đã mất đi

Như vậy, trong bốn chức năng của địa danh thì chức năng định danh và
chức năng cụ thể hóa, cá thể hóa đối tượng được xem là chức năng bản chất, gắn
bó với thuộc tính ngôn ngữ của địa danh. Hai chức năng phản ánh và bảo tồn có
thể được xem là chức năng bổ sung, gắn với thuộc tính văn hóa của địa danh.
1.1.3. Phân loại địa danh
Vấn đề phân loại địa danh là một vấn đề hết sức phức tạp. Cho đến nay,
vẫn chưa có một cách phân loại nào tối ưu cho mọi công trình nghiên cứu. Tùy
vào hướng tiếp cận mỗi nhà nghiên cứu sẽ chia địa danh theo một cách riêng.
A. Dauzat trong “La topony mite Française” (1948) dựa vào tiêu chí
nguồn gốc ngôn ngữ đã chia địa danh thành 4 loại:
1) Địa danh có cơ sở tiền Ấn Âu
2) Địa danh có các từ nguyên Gô-loa La Mã
3) Địa danh từ tiền Latin về nước trong thủy danh học
4) Địa danh Gô-loa La Mã của vùng Auvergne và Velay
Ch. Rostaing trong “Les noms des lieux” lấy tiêu chí sự kết hợp giữa nguồn
gốc ngôn ngữ và đối tượng địa lý để phân loại địa danh thành 11 loại khác nhau.
A.V. Superans Kaja trong “Địa danh là gì” đã chia địa danh thành 8
loại bao gồm: Điểm dân cư (Oiconim); Địa điểm phi dân cư (micro toponim);
Tên gọi sông (ghidronim); Tên gọi núi (Oronim); Tên đường phố (hidronim);
Tên mạng lưới giao thông (dromonim); Tên quảng trường (agronim); Tên các
công trình bên trong đường phố (urbanonim).
12
Trong khi nghiên cứu, nhiều nhà địa danh học Việt Nam đã đưa ra cách
phân loại của mình.
Nguyễn Văn Âu trong “Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam” đã
đưa ra cách phân loại địa danh, kiểu địa danh và các dạng địa danh. Theo ông,
có 2 loại địa danh là địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế - xã hội. Từ 2 loại
này, ông lại chia thành 7 kiểu địa danh là thủy danh, sơn danh, lâm danh, làng
xã, huyện thị, tỉnh thành phố, quốc gia. Từ 7 kiểu đó lại tiếp tục được chia
thành 11 dạng địa danh nhỏ hơn là sông, ngòi, hồ đầm, hải đảo, đồi núi, rừng

Theo F. de Saussure thì: “… từ là một đơn vị luôn luôn ám ảnh tư
tưởng chúng ta như một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ,
mặc dù khái niệm này khó định nghĩa” [21, tr.21].
F.F Fortunator đã định nghĩa: “từ là bất cứ âm nào của lời nói, trong ngôn
ngữ từ có một ý nghĩa ngữ pháp khác với ý nghĩa của những âm cùng là từ khác”.
E. Sapir lại đưa ra định nghĩa: “Từ là một đoạn nhỏ nhất có ý nghĩa hoàn
toàn độc lập và bản thân nó có thể làm thành một câu tối giản” [12, tr.23].
V. M Zhirmunsskiy lại cho rằng: “Từ là một đơn vị nhỏ nhất của ngôn
ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức” [12, tr.23].
Đến với vấn đề từ, các nhà ngôn ngữ học Việt Nam cũng có nhiều ý kiến
khác nhau, và việc phân biệt đâu là từ, cụm từ cũng còn mập mờ, không rõ ràng.
Đỗ Hữu Châu đã nhận định: “Từ tiếng Việt là những phân đoạn ngữ âm
cố định phản ánh một cách trực tiếp theo quan hệ 1/1 số lượng hình vị và
phương thức cấu tạo”.
14
Võ Đức Nghiệu thì định nghĩa từ tiếng Việt như sau: “Từ là đơn vị nhỏ
nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi
tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu”.
Trong khi đó, Nguyễn Thiện Giáp lại nêu quan niệm: “từ của tiếng Việt
là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp
nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong tiếng Việt
và nhỏ nhất để cấu tạo câu” [12, tr.16].
Nguyễn Kim Thản định nghĩa: “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ”
Để nhận diện và phân tích cấu tạo của địa danh trong luận văn, chúng
tôi xin được dựa vào định nghĩa của PGT. TS. Hoàng Tất Thắng trong “Cơ sở
ngôn ngữ học” đã viết: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, có tính thống
nhất về hình thức và độc lập về ý nghĩa” [27, tr.126].
Chính tính hoàn chỉnh về ý nghĩa và khả năng tách biệt của từ là cơ sở
để phân biệt từ và các bộ phận tạo thành của từ (thán từ, phụ tố, thành tố của
từ ghép…) và phân biệt với các tổ hợp vốn do các từ tạo thành (cụm từ).

Trong ngôn ngữ, có hai lọai cụm từ là cụm từ tự do và cụm từ cố định.
Trong đó, cụm từ tự do là các đơn vị ngữ pháp, cụm từ cố định là những đơn
vị từ vựng (thành ngữ, quán ngữ).
Tiếng Việt là ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập, âm tiết tính giá trị, ý
nghĩa của từ nằm bên ngoài từ thể hiện qua quan hệ ngữ pháp nên việc xác
định từ và cụm từ là khó khăn lớn. Để thuận lợi cho việc nhận diện, chúng tôi
theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu. Trong đó, xác định cụm từ tự do là những
nhóm gồm hai thực từ trở lên, kết hợp tạm thời theo quy luật ngữ pháp để
diễn đạt một khái niệm nào đó. Cụm từ cố định là những đơn vị sẵn có như
16
những từ trong ngôn ngữ. Chúng có tính hoàn chỉnh về nội dung và hình thức
được dùng để cấu tạo câu. Cụm từ cố định mang tính biểu trưng, tính dân tộc,
tính biểu thái, tính hình tượng và tính cụ thể.
* Đặc điểm cấu tạo cụm từ trong tiếng Việt
Ở đây chúng tôi xem cụm từ cố định như những đơn vị từ nên việc xem
xét cấu tạo chỉ xin bàn luận về cụm từ tự do. Mô hình cấu trúc của cụm từ là:
Phần phụ trước + phần trung tâm + phần phụ sau
Trong khi nghiên cứu, các tác giả đã phân biệt ba loại cụm từ: Cụm từ
liên hợp, cụm từ chính phụ và cụm từ chủ vị.
1.3. Các khái niệm tâm linh, địa danh tâm linh
1.3.1. Khái niệm tâm linh
Khi được bàn về khái niệm tâm linh, đã có nhiều người đưa ra những
quan điểm khác nhau.
Theo Osho, một bậc thầy tâm linh thế kỷ 20 thì: “Tâm linh là không bị
đồng nhất với những gì bạn thấy, cái gì có thể là một đối với bạn- sao cho
chung cuộc bạn chỉ còn là chủ thể. Tính chủ quan thuần khiết là tâm linh…
Với tôi tâm linh là sống một cách toàn bộ, mãnh liệt, đốt cháy ngọn đuốc của
bạn từ hai đầu”.
Theo quan niệm của Phật giáo thì tâm linh nghĩa là:
“Chỉ cho cái gì cao cả nhất, sâu sắc nhất trong tâm người”

1.4. Mối quan hệ giữa tâm linh, tín ngưỡng và tôn giáo
1.4.1. Khái niệm tín ngưỡng
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên “tín ngưỡng là lòng tin
theo một Tôn giáo nào đó”.
Tín ngưỡng Tôn giáo, quyền tự do tín ngưỡng.

Trích đoạn Địa danh mang dấu ấn tôn giáo, tín ngưỡng Địa danh thể hiện dấu ấn kiến trúc Địa danh thể hiện dấu ấn lịch sử Địa danh thể hiện đặc trưng phương ngữ thành phố Huế Địa danh thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status