Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HIỀN
ĐẶC ĐIỂM LỊCH SỬ - VĂN HOÁ
CỦA ĐỊA DANH HUYỆN HOA LƯ - NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
ĐẶC ĐIỂM LỊCH SỬ - VĂN HOÁ
CỦA ĐỊA DANH HUYỆN HOA LƯ - NINH BÌNH
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. HÀ QUANG NĂNG
THÁI NGUYÊN, NĂM 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
2. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các địa danh địa hình thiên nhiên,
đơn vị dân cư, và công trình nhân tạo của huyện Hoa Lư và đặc điểm ngôn
ngữ, văn hóa, lịch sử của một số địa danh thuộc huyện Hoa Lư.
3. Lịch sử vấn đề
3.1. Vấn đề nghiên cứu địa danh trên thế giới
Việc nghiên cứu địa danh được phát triển từ lâu trên thế giới. Ở Trung
Quốc, ngay từ thời Đông Hán (32- 39), Ban Cố đã ghi chép hơn 4000 địa
danh, trong đó một số đã được giải thích rõ nguồn gốc và ý nghĩa.
Ở các nước phương Tây, bộ môn địa danh học chính thức ra đời vào
cuối thế kỉ XIX. Năm 1872, JJ.Eghi (Thụy Sĩ) viết cuốn "Địa danh học”.
Năm 1903, J.W Nagl (Áo) cũng cho ra đời tác phẩm "Địa danh học”. Thời kì
đầu, các tác phẩm địa danh học chú trọng khảo chứng nguồn gốc địa danh.
Từ thế kỉ XX, bước vào giai đoạn nghiên cứu tổng hợp về địa danh,
Gi.Glliénon viết "Át lát ngôn ngữ Pháp”, nghiên cứu địa danh theo hướng
phát triển địa lý học. Năm 1926, A.Dauzat (Pháp) đã viết: "Nguồn gốc và sự
phát triển địa danh”, đề xuất phương pháp văn hóa địa lý học để nghiên cứu
các lớp niên đại của địa danh.
Từ những năm 60 của thế kỉ XX, hàng loạt công trình nghiên cứu về
vấn đề này ra đời, đáng chú ý là các công trình nghiên cứư của các nhà địa
danh học Xô Viết. Chẳng hạn, E.M.Murzaev với tác phẩm "Những khuynh
hướng nghiên cứu địa danh học” (1965). A.V.Superanxkaja với tác phẩm
"Địa danh là gì?” (1985) đã đi sâu vào vấn đề nhận diện và phân tích địa
danh. A.I.Popov (1964) lại đưa ra những nguyên tắc cơ bản của công tác
nghiên cứu địa danh, trong đó chú trọng hai nguyên tắc chính là phải dựa vào
tư liệu lịch sử của các ngành ngôn ngữ học, địa lí học, sử học và phải thận
trọng khi sử dụng phương pháp thành tố để phân tích ngữ vi của địa danh. Tác
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
một vài tên sông" được xem như là người cắm cột mốc đầu tiên trong nghiên
cứu địa danh dưới góc nhìn ngôn ngữ học. Năm 1991, Lê Trung Hoa với tác
phẩm "Địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh" đã đưa ra những vấn đề lý thuyết
làm cơ sở cho sự phân tích và chỉ ra các đặc điểm về cấu tạo, nguồn gốc, ý
nghĩa của các địa danh thuộc thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 1996,
Nguyễn Kiên Trường với luận án PTS "Những đặc điểm chính của địa danh
Hải Phòng" đã phát triển, bổ sung thêm những vấn đề mà Lê Trung Hoa đã
đưa ra trước đó. Tiếp sau đó là luận án TS của Từ Thu Mai "Nghiên cứu địa
danh Quảng Trị” (2004), Phan Xuân Đạm với "Địa danh Nghệ An” (2005).
Ngoài ra còn có khá nhiều các luận văn thạc sĩ, đề tài nghiên cứu khảo sát địa
danh ở nhiều địa phương đã được công bố. Những công trình này đều có
những đóng góp đáng kể trong việc nghiên cứu địa danh học dưới góc độ
ngôn ngữ học.
Ngoài ra, còn một số công trình ra đời dưới dạng sách, từ điển, sổ tay
như các công trình của Trần Thanh Tân, Đinh Xuân Vịnh Các công trình
này đều nghiên cứu một cách công phu nhưng nặng về tập hợp tư liệu, tính lý
thuyết chưa cao.
3.3. Vấn đề nghiên cứu địa danh ở huyện Hoa Lư
Địa danh Hoa Lư là đối tượng hết sức mới mẻ, chưa có công trình nào
đi sâu nghiên cứu. Hiện chỉ có một số bài báo, cuốn sách đề cập tới một vài
địa danh nổi tiếng của huyện Hoa Lư như cuốn sách "Cố đô Hoa Lư lịch sử
và danh thắng" (1998) của Lã Đăng Bật, cuốn “Hoa Lư - di tích và danh
thắng” (2009) của Nguyễn Thị Kim Cúc hay những tác phẩm ghi lại những
truyền thuyết liên quan đến một vài vùng đất ở Hoa Lư như "Truyền thuyết
Đinh - Lê" (2000) của Trương Đình Tưởng…
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
5.2. Tư liệu nghiên cứu
Với mục đích phản ánh đầy đủ, trung thực hệ thống địa danh của huyện
Hoa Lư, chúng tôi đã tiến hành tập hợp các tư liệu cần thiết từ những nguồn sau:
- Niên giám thống kê của tỉnh Ninh Bình và huyện Hoa Lư.
- Tư liệu điều tra điền dã để thu thập tư liệu, ghi chép, bổ sung các
thông tin của từng địa danh.
- Bản đồ các loại của huyện Hoa Lư.
- Một số công trình nghiên cứu về kinh tế, văn hóa, lịch sử của huyện
Hoa Lư.
- Những tài liệu lưu giữ ở chính quyền địa phương.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Từ trước tới nay địa danh Hoa Lư hầu như không được khảo sát và
nghiên cứu. Đây là công trình đầu tiên khảo sát, tìm hiểu một cách đầy đủ,
toàn diện, và hệ thống địa danh ở địa bàn này về các phương diện cấu tạo,
phương thức định danh và ý nghĩa các địa danh địa hình thiên nhiên, đơn vị
dân cư và công trình nhân tạo. Bên cạnh đó luận văn cũng chỉ ra một vài đặc
trưng ngôn ngữ - văn hóa - lịch sử của địa danh trong mối quan hệ với địa lý,
lịch sử, dân cư và ngôn ngữ. Kết quả nghiên cứu của luận văn về địa danh có
thể là tư liệu quý cho ngành địa phương học, cho việc nghiên cứu lịch sử -
văn hóa Hoa Lư, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, du lịch của địa
phương. Đồng thời, kết quả nghiên cứu này có thể sử dụng làm tài liệu tham
khảo bổ ích trong việc giảng dạy lịch sử địa phương, trong giáo dục truyền
thống, giữ gìn, phát huy những giá trị lịch sử, văn hóa của địa phương.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm ba chương:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
nhận thức, nhận diện, đều được con người gọi tên, đặt tên theo cách này hay
cách khác tuỳ theo từng mục đích, dựa trên những quy ước nhất định ở trong
từng hoàn cảnh và không gian sinh tồn cụ thể. Do đó, đặt tên, gọi tên là một
nhu cầu thường trực, tất yếu và quan trọng của con người.
Tên đất, tên núi, tên rừng, tên sông, tên biển, tên đường phố… đều là
những địa danh (toponym). Một địa danh, xét về mặt lo gíc học, tương đương
với một khái niệm; xét về mặt ngôn ngữ học, được cấu tạo từ từ, từ những
đơn vị tương đương với từ. Thuật ngữ địa danh, nguyên thuỷ trong tiếng Hy
Lạp có cấu tạo gồm hai bộ phận: topos (địa điểm) và anyma (tên gọi). Như
vậy, ý nghĩa chung nhất của thuật ngữ này là “ tên gọi điểm địa lý”.
Khái niệm địa danh cần phải hiểu theo đúng phạm vi xuất hiện của nó.
Nếu hiểu đúng theo lối chiết tự thì “địa danh” là tên đất. Tuy nhiên, khái niệm
này cần phải hiểu rộng hơn vì đây chính là đối tượng nghiên cứu của một
ngành khoa học. Cụ thể, địa danh không chỉ là tên gọi của các đối tượng địa lý
tồn tại trên trái đất. Nó có thể là tên gọi của các đối tượng địa hình thiên nhiên,
đối tượng địa lý cư trú hay là công trình do con người xây dựng tạo lập nên.
Địa danh là lớp từ ngữ nằm trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ, được
dùng để đặt tên, gọi tên các đối tượng địa lý. Vì thế, nó hoạt động và chịu sự
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
tác động, chi phối của các quy luật ngôn ngữ nói chung về mặt ngữ âm, từ
vựng - ngữ nghĩa và ngữ pháp.
Hiện nay, có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những định nghĩa khác nhau
về địa danh. Nhà ngôn ngữ học người Nga A.V.Superanskaja trong cuốn
“Địa danh là gì?” đã cho rằng: địa danh là những từ ngữ biểu thị tên gọi
“những địa điểm, mục tiêu địa lý”, “ những địa điểm, mục tiêu địa lý đó là
những vật thể tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị xác định trên bề mặt trái
đất” [41, tr.13].
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã tiếp cận địa danh từ hai góc độ
danh là những từ hoặc ngữ cố định dùng làm tên riêng của địa hình thiên
nhiên, các công trình xây dựng thiên nhiên về không gian hai chiều, các đơn
vị hành chính, các vùng lãnh thổ” [28, tr.21]. Định nghĩa này thiên về việc
chỉ ra ngoại diên các khái niệm, đồng thời chỉ ra cách phân loại các địa danh
vốn đa dạng trong thực tế vào trong định nghĩa phân loại này.
Nguyễn Kiên Trường là người đầu tiên đưa ra định nghĩa nêu giới hạn
ngoại diên của địa danh chỉ thuộc về những gì ở trên trái đất một cách hiển
ngôn. Dựa trên tiêu chí mà Lê Trung Hoa đưa ra, Nguyễn Kiên Trường chia
địa danh thành từng loại nhỏ. Bên cạnh đó, ông còn tiến hành phân loại theo
nguyên ngữ, theo chức năng của địa danh.
Từ Thu Mai cho rằng, khi xác định khái niệm địa danh cần chú ý đến
những vấn đề trong nội tại bản thân khái niệm. Định nghĩa của Từ Thu Mai có
điểm xuất phát từ cách hiểu địa danh của A.V.Superanskja.
Chúng ta thấy rằng, mặc dù nằm trong hệ thống những loại hình khác
nhau nhưng các đối tượng địa lý bao giờ cũng xuất hiện trong thực tế với
những cá thể độc lập. Đầu tiên người ta thường sử dụng các tên chung để định
danh cho một đối tượng cụ thể, được xác định. Nó chính là đơn vị định danh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
bậc hai trên cơ sở vốn từ chung. Vì vậy, khi xác định khái niệm địa danh cần
phải chú ý đến những vấn đề nội tại trong bản thân địa danh. Trước hết, mỗi
địa danh đều phải có tính lý do, phải xác định được nguyên nhân đặt tên đối
tượng. Chức năng gọi tên và các thể hoá, khu biệt đối tượng là tiêu chí thứ
hai. Tiêu chí thứ ba là các đối tượng được gọi tên phải là các đối tượng địa lí
tồn tại trên bề mặt trái đất và ngoài trái đất. Các đối tượng này có thể là đối
tượng địa lí tự nhiên hay không tự nhiên.
Phan Xuân Đạm có quan niệm khá độc đáo, khác với những người đi
trước. Cách hiểu của ông về địa danh rất hợp lý, tiến bộ theo hướng chức
năng của địa danh. Về cách phân loại địa danh, cũng như Từ Thu Mai, tác giả
phương diện của tín hiệu ngôn ngữ là một việc làm hết sức cần thiết và quan
trọng. Địa danh học là một bộ môn ngôn ngữ học chuyên nghiên cứu nguồn
gốc, ngữ nghĩa, cấu tạo, sự biến đổi, lan toả, phân bố địa danh.
1.2. PHÂN LOẠI ĐỊA DANH
Hiện nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới, các nhà ngôn ngữ học có
những cách phân loại khác nhau về địa danh. Chẳng hạn, G.P.Smolichnaja và
M.V.Gorbanevskij cho rằng địa danh có bốn loại: Phương danh (tên các địa
phương), sơn danh (tên núi, gò, đồi…), thuỷ danh (tên các dòng chảy, ao,
ngòi, sông vũng…), phố danh (tên các đối tượng trong thành phố). Còn nhà
khoa học Nga A.V.Superanskja lại chia làm bảy loại: phương danh, thuỷ
danh, sơn danh, phố danh, viên danh, lộ danh, đạo danh (tên các đường giao
thông trên đất, dưới đất, trên nước, trên không).
Ở Việt Nam, Nguyễn Văn Âu quan niệm: “phân loại địa danh là sự
phân chia địa danh thành các kiểu, nhóm khác nhau dựa trên các đặc tính cơ
bản về địa lý cũng như về ngôn ngữ và lịch sử” [3, tr.37]. Ông đã chia địa
danh Việt Nam thành hai loại: địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế - xã hội
với bảy kiểu: thuỷ danh, lâm danh, làng xã, huyện thị, tỉnh, thành phố, quốc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
gia ; và mười hai dạng: sông ngòi, hồ đầm, đồi núi, hải đảo, rừng rú, truông -
trảng, làng - xã, huyện - quận, thị trấn, tỉnh, thành phố, quốc gia. Mỗi dạng
lại có thể phân chia thành các dạng: sông, ngòi, suối… Cách phân loại này
của tác giả nghiêng về tính dân gian, dễ tiếp thu song hơi sa vào chi tiết, thiếu
tính khái quát, đối tượng nghiên cứu và tên gọi đối tượng nghiên cứu chưa
được làm rõ.
Lê Trung Hoa phân loại địa danh dựa vào nguồn gốc của chúng. Cách
phân loại của ông dựa vào hai tiêu chí tính tự nhiên và không tự nhiên. Đây là
cách phân loại thường gặp và tương đối hợp lý, có tính bao quát. Ông phân
loại địa danh thành: địa danh chỉ địa hình thiên nhiên, địa danh chỉ công trình
Xét về phương diên ngôn ngữ học, nhìn vào toàn bộ hệ thống định danh
một vùng đất có thể thấy rõ các đặc điểm sau đây:
1.3.1. Địa danh là một hệ thống tên gọi đa dạng
Nếu so sánh với nhân danh và vật danh thì hệ thống địa danh vừa đa
dạng, vừa phức tạp. Về loại hình địa danh, có những địa danh biểu thị địa
hình thiên nhiên (núi, sông, ao, hồ…), có những địa danh biểu thị tên gọi của
các đơn vị hành chính, đơn vị dân cư do Nhà nước đặt ra (huyện, xã, thôn,
xóm…), lại có những địa danh là tên gọi các công trình xây dựng trên bề mặt
đất hay dưới lòng đất (cầu, cống, đường, hầm, đê, đập…). Về cấu tạo, địa
danh vừa có cấu tạo đơn vừa có cấu tạo phức (vừa có từ vừa có cụm từ, vừa
có từ vừa có danh ngữ). Trong cấu tạo đơn, có địa danh đơn tiết có địa danh
đa tiết. Trong cấu tạo phức, giữa các yếu tố trong địa danh có các mối quan
hệ: quan hệ đẳng lập, quan hệ chính phụ và quan hệ chủ vị. Về nguồn gốc
ngôn ngữ, có những địa danh có nguồn gốc tiếng dân tộc thiểu số và cả những
địa danh vay mượn từ tiếng nước ngoài.
1.3.2. Địa danh thƣờng diễn ra hiện tƣợng chuyển hoá
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Chuyển hoá là lấy tên gọi một đối tượng địa lý này để gọi một đối
tượng địa lý khác. Hiện tượng này có thể xảy ra các trường hợp như:
- Chuyển hoá trong nội bộ từng loại địa danh. Ví dụ:
Đình Tuân Cáo → Chùa Tuân Cáo.
Đình Đông Hội → Đền Đồng Hội.
Đền Khả Lương → Chùa Khả Lương.
- Chuyển hoá giữa các loại địa danh. Ví dụ:
Động Thiên Tôn → Thị trấn Thiên Tôn.
Núi Bích Động → Chùa Bích Động
Núi Am Tiêm → Chùa Am Tiêm.
- Chuyển hoá nhân danh thành địa danh. Ví dụ:
nguồn gốc, cấu tạo, ngữ nghĩa, sự biến đổi, sự lan toả, phân bố của địa danh.
Người chuyên nghiên cứu về địa danh được gọi là nhà địa danh học.
Như vậy, một nhà địa danh học thường phải nghiên cứu, giải quyết
những công việc chính sau đây:
- Tìm hiểu nguồn gốc lịch sử của địa danh.
- Tìm hiểu ngữ nghĩa của địa danh.
- Tìm hiểu các mô hình địa danh, các phương thức quá trình tạo địa
danh.
- Tìm hiểu sự nảy sinh, lan toả, sự phân bố của địa danh qua các không
gian, các khoảng thời gian khác nhau.
- Chuẩn hoá các địa danh.
Trong những vấn đề lớn trên, người ta lại chia nhỏ thành nhiều vấn đề
khác nhau để nghiên cứu.
Về quan điểm tín hiệu học, địa danh có tính lý do. Vậy, vấn đề quan
trọng là cội nguyên, ngữ nghĩa của địa danh. Điều này ta thường thấy trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
định nghĩa địa danh học: là bộ môn nghiên cứu về nguồn gốc ngữ nghĩa của
địa danh.
Dựa trên hướng nghiên cứu, người ta chia ra các bộ phận nhỏ như:
Ngôn ngữ địa danh học, địa lí địa danh học, lịch sử địa danh học, đối chiếu
địa danh học… Ngôn ngữ địa danh học chú ý nhiều đến những diễn tiến về
mặt ngôn ngữ của địa danh, đặc điểm cấu tạo ngôn ngữ của địa danh, ngữ
nghĩa của địa danh, các mô hình cấu tạo của địa danh…; địa lí địa danh học
chú ý sự phân bố về địa danh, sự liên quan giữa sự phân bố của địa danh đối
với các vùng, các đối tượng không gian địa lí…; lịch sử địa danh học chú ý
nhiều đến các quá trình hình thành địa danh, sự phát triển của địa danh, sự
phân bố của địa danh có liên quan đến các tộc người; đối chiếu địa danh học
nghiêng về sự đối sánh để tìm ra những nét tương đồng và dị biệt giữa hệ
giữa miền Bắc và miền Trung, giữa đồng bằng châu thổ sông Hồng và miền
núi rừng Tây Bắc. Hoa Lư nằm trên hai đường giao thông thuỷ, bộ quan trọng
nhất của đất nước theo cả bốn hướng Bắc - Nam - Đông - Tây. Về đường bộ,
có quốc lộ 1A đi qua các xã Ninh Giang, Ninh Mỹ, Ninh An dài gần 20km;
đường 12C đi qua các xã Ninh Mỹ, Ninh Hoà, Trường Yên đi Rịa (Nho
Quan). Bên cạnh quốc lộ 1A là đường xe lửa Bắc - Nam đoạn qua xã Ninh An
dài gần 10km. Về đường thuỷ, mỗi con sông trên đất Hoa Lư như mãi hiện
lên hình ảnh về một thời Hoa Lư là Cố đô của nhà Đinh, nhà Lê và buổi đầu
dấy nghiệp của nhà Lý. Đó là sông Đáy chảy qua Hoa Lư từ cầu Gián Khẩu
(Ninh Giang) tới thành phố Ninh Bình xuôi ra biển Đông. Sông Hoàng Long
từ huyện Gia Viễn chảy ra các xã Trường Yên, Ninh Giang tới cầu Gián Khẩu
vào sông Đáy. Sông Xuyên Thuỷ Động (là chi lưu của sông Hoàng Long) từ
Trường Yên chảy qua các xã Ninh Xuân, Ninh Thắng rồi nhập vào sông
Tranh. Sông Tranh (cũng là một chi lưu của sông Hoàng Long) chảy qua các
xã Ninh Giang, Ninh Hoà qua các xã Ninh Mỹ, Ninh Xuân rồi nhập vào sông
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
Vân. Sông Vạc từ cầu Yên chảy qua Ninh An, thành phố Ninh Bình rồi qua
Yên Mô, Yên Khánh, Kim Sơn.
Hoa Lư có gần 4000 ha núi đá. Vùng núi đá vôi của Hoa Lư với trữ
lượng lớn, nằm gần đường giao thông thuỷ, bộ, đường sắt thuận tiện cho khai
thác, là một tiềm năng kinh tế lớn để phát triển các ngành công nghiệp khai
thác, chế biến và sản xuất vật liệu xây dựng. Vùng núi đá Hoa Lư có nhiều
hang động đẹp, kì thú như động Thiên Tôn (thị trấn Thiên Tôn), Xuyên Thuỷ
Động (Trường Yên), Tam Cốc - Bích Động (Ninh Hải), Bàn Long (Ninh
Xuân) … cùng hàng trăm ngôi đền, chùa, danh thắng khác, biến Cố đô Hoa
Lư thành một trung tâm du lịch lớn của tỉnh Ninh Bình và cả nước. Vùng núi
Hoa Lư từ xưa đến nay còn là căn cứ địa trọng yếu trong các cuộc đấu tranh
bảo vệ và giải phóng quê hương, đất nước trong suốt chiều dài lịch sử đấu
Vĩ, Phúc Sơn, Gia Phú, Gia Hộ, Hoàng Sơn; tổng Đa Giá gồm 6 xã: Đa Giá
Hạ, Cam Giá, Lực Giá, Tải Nhân, Kiêm Đa, Phú Gia. Bốn tổng của huyện
Yên Khánh là: tổng An Đăng gồm 4 xã: An Đăng, Đại Đăng, Cổ Loan, Bích
Đào, 3 thôn: Phúc Chỉnh, Phúc Trì, Phúc Am và phường Khương Lộc; tổng
Thiện Trạo gồm 4 xã: Thiện Trạo, Trầm Hương, An Phúc, An Khoái; tổng Vũ
Lâm gồm 4 xã: Vũ Lâm, Văn Lâm, Khê Đầu, Tuân Cáo; tổng Dương Vũ gồm
10 thôn: Hoàng Sơn, Đông Hội, Mai Xá, Đông Trang, Xuân Áng, Bộ Đầu,
Chấn Lữ, Côn Lăng Thượng, Côn Lăng Hạ, Phú Lăng.
Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, để phù hợp với nhiệm vụ xây
dựng đất nước trong hoà bình, tháng 9 - 1954 các xã Gia Thanh, Gia Trường
thuộc huyện Gia Viễn; các xã Dưỡng Thiện, Đam Khê, Hải Nham thuộc
huyện Yên Mô được sáp nhập vào huyện Gia Khánh. Năm 1977, huyện Gia
Khánh và thị xã Ninh Bình hợp nhất thành huyện Hoa Lư. Năm 1981, huyện
Hoa Lư lại chia tách thành thị xã Ninh Bình (nay là thành phố Ninh Bình) và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
huyện Hoa Lư như hiện nay. Huyện Hoa Lư trước kia có 17 xã: Trường Yên,
Ninh Hoà, Ninh Giang, Ninh Khang, Ninh Mỹ, Ninh Khánh, Ninh Tiến, Ninh
Nhất, Ninh Xuân, Ninh Thắng, Ninh Hải, Ninh Vân, Ninh An, Ninh Phong,
Ninh Sơn, Ninh Phúc, Ninh Thành. Sau nhiều lần chia tách, nhiều xã của
huyện Hoa Lư sáp nhập vào thị xã Ninh Bình (nay là thành phố Ninh Bình).
Đến nay, huyện Hoa Lư có diện tích 102,9Km
2
(2008) với 10 xã và 1 thị trấn:
Ninh Giang, Ninh Hoà, Ninh Xuân, Trường Yên, Ninh Mỹ, Ninh Khang, Ninh
Thắng, Ninh Hải, Ninh Vân, Ninh An và thị trấn Thiên Tôn (thị trấn Thiên
Tôn được tách ra từ xã Ninh Mỹ năm 2004).
Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, tiêu biểu là thế kỷ X, hàng
nghìn nông dân Hoa Lư đã gia nhập nghĩa binh Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 xứ
khi chúng đặt chân xâm lược nước ta. Hàng nghìn nông dân Hoa Lư đã tham
gia nghĩa quân của Phạm Văn Nghị, Bùi Cẩm (Ninh Giang), Đinh Công
Tráng; tham gia phong trào Cần Vương do cụ Bang Tương (Ninh Nhất) và cụ
Ba Chu (Ninh Hoà) cầm đầu. Năm 1885, các ông Đặng Văn Hài, Hoàng Văn
Kênh (Trường Yên) đã tổ chức lực lượng đánh địch ở phố Nứa (Ninh Bình).
Từ cuối những năm 1920, phong trào yêu nước và cách mạng ở trong
nước nói chung cũng như ở Hoa Lư nói riêng đã có những bước phát triển
mới. Tháng 10 năm 1927, chi bộ của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng
chí hội được thành lập ở xã Trường Yên. Đến tháng 10 năm 1929, chi bộ này
đã chuyển thành chi bộ Đông Dương Cộng sản đảng. Đây là một trong ba chi
bộ đảng đầu tiên của tỉnh Ninh Bình. Đầu năm 1931, các chi bộ Đảng ở Trung
Trữ (Ninh Giang), Thanh Khê (Ninh Hoà) được thành lập. Các chi bộ Đảng
này là bộ tham mưu lãnh đạo phong trào cách mạng Hoa Lư phát triển và tiến
tới cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám lịch sử (1945).
Để bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân còn non trẻ, bảo vệ nền độc
lập và thành quả cách mạng, chống lại sự xâm lược của đế quốc Pháp và bọn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
can thiệp Mỹ, nhân dân Hoa Lư lại cùng cả nước bước vào cuộc chiến đấu
mới, Hoa Lư vừa là hậu phương, vừa là tiền tuyến trong suốt 9 năm (1945-
1954) trường kỳ kháng chiến. Những chiến công vang dội của dân quân, du
kích các xã Trường Yên, Ninh Giang, Ninh An, Ninh Xuân, Ninh Hoà… mãi
mãi là niềm tự hào của nhân dân Hoa Lư, góp phần cùng quân dân cả nước
làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”.
Trong bảng vàng chiến thắng chống Pháp, từ tháng 3 năm 1948 đến
tháng 2 năm 1954, quân và dân huyện Hoa Lư - Gia Khánh đã đánh 300 trận,
loại khỏi vòng chiến đấu 1281 tên địch, bắt sống 264 tên, tiêu diệt 630 tên,
phá huỷ 74 xe cơ giới, bắn rơi 20 máy bay, bắn cháy 64 tầu thuyền,thu 261
khẩu súng. Trong 9 năm kháng chiến Hoa Lư có 4621 thanh niên xung phong