1
Một số đặc điểm trong sự vận động của
truyện ngắn Việt Nam hiện đại qua truyện
ngắn Đỗ Chu và Nguyễn Huy Thiệp
Đặng Lê Tuyết Trinh
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Văn học
Chuyên ngành: Lý luận văn học ; Mã số: 60 22 32
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Nam
Năm bảo vệ : 2012
Abstract. Trình bày một số vấn đề cơ bản về truyện ngắn, tìm hiểu truyện ngắn Đỗ
Chu và Nguyễn Huy Thiệp trong dòng chảy lịch sử và văn học. Nghiên cứu đặc
điểm vận động về nội dung của truyện ngắn Việt Nam hiện đại qua truyện ngắn Đỗ
Chu và Nguyễn Huy Thiệp. Tìm hiểu những đặc điểm vận động về nghệ thuật của
truyện ngắn Việt Nam hiện đại qua truyện ngắn Đỗ Chu và Nguyễn Huy Thiệp:
nghệ thuật xây dựng cốt truyện và kết cấu; nghệ thuật trần thuật.
Keywords. Lý luận văn học; Truyện ngắn; Văn học Việt Nam; Nghiên cứu văn học
Content.
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
“Văn học là người thư ký trung thành của thời đại”. Xét đến cùng thì bất cứ
nền văn học nào cũng hình thành trên cơ sở hiện thực nhất định, bất kì nhà văn nào
cũng được thoát thai từ một môi trường sống nào đó và bất cứ tác phẩm nào cũng soi
chiếu một vấn đề nào đó trong cuộc sống. Khi hiện thực đời sống có những biến đổi
thì nhà văn sẽ là người “thư ký trung thành” song hành và phản ánh cuộc sống. Sau
“tàm tạm” nhưng cũng có tác phẩm không mấy gây ấn tượng. Tuy nhiên không thể
phụ nhận được rằng các sáng tác của Đỗ Chu đã góp phần làm cho đời sống văn học
dân tộc thêm phong phú và sôi động.
Đề cập đến đặc điểm truyện ngắn Đỗ Chu, Giáo sư Nguyễn Văn Hạnh đã có
một bài nghiên cứu về Truyện ngắn của Đỗ Chu khá cụ thể và chi tiết in trên Tác
phẩm mới (17/9/1971). Ông phân tích cách lựa chọn đề tài, hệ thống nhân vật, bút
pháp miêu tả nhân vật, kết cấu, cốt truyện, ngôn ngữ và khả năng phản ánh hiện thực
trong truyện ngắn của Đỗ Chu. Nhìn chung, truyện ngắn Đỗ Chu có những điểm
mạnh, điểm yếu riêng. Người đọc khen cũng nhiều và chê cũng không ít. Những bài
viết, bài nghiên cứu mang tính nhận định khái quát, hoặc riêng lẻ một tập truyện hay
một truyện ngắn nào đó, hay công phu hơn là đã đi vào nghiên cứu mảng truyện ngắn
như Lê Hương Thủy, Thanh Tú và Phan Cự Đệ. Tuy nhiên các tài liệu này thiên về
nói chung chung, chưa đặt sáng tác của ông trong dòng chảy đổi mới của truyện ngắn
Việt Nam.
2.2. Tình hình nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Huy Thiệp là một nhà văn nở muộn trên văn đàn Việt Nam (năm
1987). Nhưng sau hơn hai mươi năm xuất hiện trên văn đàn, nhà văn Nguyễn Huy
Thiệp đã khiến thế giới dư luận trong và ngoài nước tốn không biết bao nhiêu giấy
mực, người khen, người chê, người say đắm, kẻ hững hờ Nhiều thế hệ đã đọc, suy
ngẫm cùng truyện ngắn của nhà văn này. Chỉ tính riêng trong giới phê bình văn học,
không kể đến những bài báo liên quan đến ông, có lẽ Nguyễn Huy Thiệp là hiện
tượng gây tranh cãi nhiều nhất trong suốt hai mươi năm qua. Nhà phê bình Phạm
Xuân Nguyên còn chủ sự cả tập Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, với rất nhiều ý kiến phê
bình của nhiều tên tuổi uy tín như Hoàng Ngọc Hiến, Đỗ Đức Hiểu, Greg Lockhart,
Lại Nguyên Ân… hay những nhà văn, nhà thơ đứng đối chiều như Trần Đăng Khoa,
Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh 3
2.3. Tình hình nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam sau Đổi mới
4. Phương pháp nghiên cứu
- Trong khoá luận này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích tác
phẩm, phương pháp so sánh.
- Bên cạnh đó, luận văn còn vận dụng một số phương pháp khác như: phương
pháp xã hội học, phương pháp văn hoá học, phương pháp thi pháp học…
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Truyện ngắn Đỗ Chu và Nguyễn Huy Thiệp trong dòng chảy lịch
sử và văn học
- Chương 2: Một số đặc điểm vận động về nội dung của truyện ngắn Việt Nam
hiện đại qua truyện ngắn Đỗ Chu và Nguyễn Huy Thiệp
4
- Chương 3: Một số đặc điểm vận động về nghệ thuật của truyện ngắn Việt
Nam hiện đại qua truyện ngắn Đỗ Chu và Nguyễn Huy Thiệp
Chương 1
TRUYỆN NGẮN ĐỖ CHU VÀ NGUYỄN HUY THIỆP
TRONG DÒNG CHẢY LỊCH SỬ VÀ VĂN HỌC
Chúng tôi trình bày chương này như là sự giải thích một phần cho câu hỏi tại
sao chúng tôi lại chọn hai hiện tượng văn học Đỗ Chu và Nguyễn Huy Thiệp để vẽ
lại đồ thị vận động của truyện ngắn Việt Nam trước và sau Đổi mới. Có thể nhận thấy
hai nhà văn này là hai cây bút tiêu biểu, điển hình cho hai giai đoạn văn học trước và
sau Đổi mới. Từ cái nhìn so sánh, đối chiếu hai thế giới nghệ thuật của hai nhà văn
này, chúng ta có thể nhận thức được tương đối chính xác diện mạo phát triển của
truyện ngắn trong hai thời kỳ văn học trên.
1.1. Một số vấn đề về truyện ngắn
Chưa có một định nghĩa thống nhất về truyện ngắn nhưng từ một số khái niệm
của nhà nghiên cứu Phương Lựu, trong Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả
1.2. Truyện ngắn Đỗ Chu trong dòng chảy lịch sử và văn học trước Đổi mới
1.2.1. Vài nét về tác giả Đỗ Chu
Đỗ Chu tên thật là Chu Bá Bình. Bút danh Đỗ Chu lấy họ mẹ và họ cha ghép
thành. Ông sinh năm 1943 tại Phủ Lạng Thương, Bắc Giang (có một số tài liệu viết là
năm 1944). Đỗ Chu vào nghề viết từ 1962, khi còn ngồi trên ghế nhà trường với
truyện ngắn Ao làng trích trên tạp chí Văn nghệ quân đội. Từ năm 1962, khi những
truyện ngắn đầu tay của Đỗ Chu ra đời, văn đàn đã xôn xao tán tụng. Ông sớm nổi
tiếng với những truyện ngắn đầy phong vị trữ tình. Nối tiếp những thành công từ các
truyện đầu tay đó, các tuyển tập truyện ngắn của Đỗ Chu đã ra đời. Với hơn 40 năm
cầm bút, Đỗ Chu đã miệt mài viết và thử sức với rất nhiều thể loại văn học như tiểu
thuyết, tùy bút, ký sự… nhưng bạn đọc nhớ tới ông nhiều hơn cả vẫn là với truyện
ngắn. Đỗ Chu đã vinh dự được nhận giải Nhà nước về văn học - nghệ thuật năm
2001, giải thưởng Hội Nhà văn năm 2003 với tác phẩm Một loài chim trên sóng,
nhận giải văn học ASEAN năm 2004. Giải thưởng quốc tế này thêm một lần nữa
khẳng định đóng góp của Đỗ Chu đối với văn học dân tộc đồng thời tôn vinh vị thế
của văn học Việt Nam trên bản đồ văn học khu vực. Hai tập truyện ngắn Chuyện màu
hạ và Lão Mai gồm 35 truyện ngắn xuất sắc được chính nhà văn tuyển chọn và được
Nhà xuất bản Văn học in tháng 11/2010.
1.2.2. Dòng chảy lịch sử và văn học trước Đổi mới và vị thế truyện ngắn Đỗ
Chu
Con đường văn nghiệp của Đỗ Chu trải qua hai giai đoạn: trước và sau năm
1975. Hai giai đoạn này đã chứng kiến những đổi mới nghệ thuật và tư duy của nhà
văn.
1.2.2.1 Giai đoạn trước năm 1975
Hiện thực được phản ánh trong văn học 1945-1975 nói chung gắn bó chặt chẽ
với cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc, âm vang hào khí thời đại. Đó là một hiện
thực vận động xuôi chiều và nhìn chung rất lạc quan (trừ một số bài thơ chống Pháp
có nói đến cái bi tráng). Lúc này, văn học là vũ khí đấu tranh làm nhiệm vụ chiến
đấu, hướng tới mục tiêu tất cả cho chiến thắng. Đặc biệt vào những năm đầu của thập
kỷ 60 của thế kỷ trước, cả dân tộc, đặc biệt là thế hệ trẻ miền Bắc vừa như náo nức,
có nhiều trải nghiệm cuộc sống và trải nghiệm văn hóa, để nhìn rõ thêm cuộc đời
bằng con mắt minh triết phương Ðông, chín chắn và tỉnh táo. Những tâm sự đa chiều
của nhiều tầng lớp, nhiều phía được ông rọi chiếu, chứ không bó hẹp ở phạm vi người
lính, kể cả những người do thời cuộc chính trị mà phiêu lạc. Chính vì thế Lão Mai
làm rõ hơn một Ðỗ Chu so với tập 1 – Chuyện mùa hạ: thuần Việt, sâu sắc, đằm thắm
và thâm trầm.
1.3. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp trong dòng chảy lịch sử và văn học
đương đại
1.3.1. Vài nét về tác giả Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Huy Thiệp viết văn khá muộn, tác phẩm đầu tiên của anh ra mắt bạn
đọc khi đã 37 tuổi (Nguyễn Huy Thiệp sinh năm 1950). Con đường đến với văn học
của Nguyễn Huy Thiệp đầy bươn trải, sóng gió nhưng cũng không thiếu hoa hồng.
Ông viết rất nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, kịch bản sân khấu, kịch bản điện
ảnh, tiểu luận văn chương và tiểu thuyết mini nhưng để lại ấn tượng đặc biệt với
người đọc là truyện ngắn. Nguyễn Huy Thiệp đột ngột xuất hiện chùm truyện Những
ngọn gió Hua Tát được đăng trên báo văn nghệ (1987). Tiếp đó truyện Tướng về hưu
đã gây chấn động dư luận xã hội… Dần dần từng bước, bằng tài năng của mình,
Nguyễn Huy Thiệp đã chọc thủng được bức màn vốn dửng dưng, nằm trong trạng thái
tĩnh của công chúng. Nhắc tới anh, người ta nhớ Tướng về hưu gây xôn xao văn đàn
trong một thời gian dài, bởi một cách viết rạch ròi, lạnh lùng đến trần trụi; nhớ Muối
của rừng tưởng như không đâu, tẻ nhạt mà hóa ra lại đượm nhiều ý vị thâm trầm, kín
đáo và sâu sắc; nhớ Một thoáng Xuân Hương với phong cách lịch lãm, mang đậm
phong vị kẻ sỹ Bắc hà; nhớ Con gái thuỷ thần lẫn lộn hư thực, huyền ảo và phiêu
diêu… Với mỗi một truyện ngắn, Nguyễn Huy Thiệp như đang làm một cuộc phiêu
lưu cho ngòi bút mà cũng là tự phác ra chân dung văn học của mình.
7
1.3.2. Dòng chảy lịch sử - văn học sau Đổi mới và vị thế truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp
Từ sau 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất nhưng cũng là thời kì đầy khó
CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
QUA TRUYỆN NGẮN ĐỖ CHU VÀ NGUYỄN HUY THIỆP
2.1. Sự tiếp cận, chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống
Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực. Mỗi thời kì lịch sử lại mang đến
cho văn học những đề tài, những nội dung khác nhau cũng như đề ra cho văn học
những yêu cầu khác nhau. Văn học thời kì trước 1975 và sau 1975 là hai giai đoạn
điển hình cho đặc điểm này. Hai giai đoạn này đã chứng kiến sự đổi mới rất lớn
trong quan niệm phản ánh hiện thực. Ta có thể thấy điều này trong sự đổi mới về
đề tài, nội dung, chủ đề của các tác phẩm.
8
2.1.1. Sự chiếm lĩnh hiện thực khách quan của Đỗ Chu
Đỗ Chu đã có lần bộc lộ quan điểm của mình: “Cái chân đế của một tác phẩm
chính là sự gắn bó với đời sống”. Cũng chính bởi xuất phát từ ý thức nghệ thuật này
mà sáng tác của ông luôn bám rễ sâu xa từ cội nguồn cuộc sống. Giai đoạn 1945 -
1975 là giai đoạn bão táp nhất của lịch sử dân tộc, vì thế văn học cũng sôi nổi và hào
hùng hơn bao giờ hết. Thời kỳ này, chính đất nước đã vinh danh cho các nhà văn, đã
làm thăng hoa những giá trị lớn lao của dân tộc. Nảy sinh từ mảnh đất hiện thực này,
văn học giai đoạn này nói chung và truyện ngắn Đỗ Chu nói riêng đã thể hiện tư duy
sử thi, cảm hứng ngợi ca, đề tài gắn liền với vận mệnh dân tộc.
Với tâm hồn nghệ sĩ bay bổng, lãng mạn, tinh tế, nhạy cảm nhưng cũng đầy
nhiệt huyết và tinh thần chống giặc ngoại xâm. Đỗ Chu ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn,
những nghĩ suy, trăn trở và thế giới tình cảm phong phú và nhạy cảm của người lính
nơi tuyến lửa như Tuân (Hương cỏ mật), Huân trong Ráng đỏ. Ngoài ra, không trực
tiếp phản ánh hiện thực tàn khốc của chiến tranh, Đỗ Chu hướng ngòi bút vào việc ca
ngợi những con người hậu phương giàu niềm tin và nghị lực. Họ đã cống hiến hết
mình để chung tay xây dựng cuộc sống mới, góp phần chi viện cho tiền tuyến. Tác
phẩm của ông là bức tranh đời sống lao động sản xuất, sinh hoạt bình thường của
người dân trong các làng quê như trong Mùa cá bột, Mận trắng, Phù sa… Có thể thấy
những đề tài thế sự, đời tư.
Nếu như truyện ngắn Đỗ Chu là một bản tình ca mang âm hưởng vừa trữ tình
vừa hào hùng về cuộc sống thì truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp lại là một sân khấu
cuộc đời với đầy đủ trạng thái “hỉ, nộ, ái, ố”, với những đắng cay âm thầm, chua chát
cùng những mảnh vỡ của hiện thực sắc lạnh đến ghê người. Mang trong mình những
biến động âm thầm mà mãnh liệt của đời sống kinh tế, xã hội, tâm lý Việt Nam từ sau
1975, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đã chạm đến chiều sâu cơ cấu xã hội và nhân
tâm. Truyện của Nguyễn Huy Thiệp từ Tướng về hưu, Muối của rừng, Huyền thoại
phố phường, Những bài học nông thôn, Những người thợ xẻ, Không có vua đến Kiếm
sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết… “đều là những tín hiệu thức tỉnh sự chú ý của người đọc”.
Những Không có vua, Những người thợ xẻ, Huyền thoại phố phường… tái hiện hiện
thực cuộc sống dội lên là một thế giới phân rã với đầy xáo trộn, là âm vang của cuộc
khủng hoảng xã hội, là sự rạn vỡ các chuẩn mực truyền thống. Nhà văn đã rọi luồng
ánh sáng cực mạnh vào thế giới hiện thực, lách sâu vào đời sống đào sâu những mạch
ngầm ở trong tâm hồn con người, thăm dò những tầng ngầm bí ẩn của quy luật nhân
sinh nhằm khơi gợi nỗi lo âu và ý thức phản tỉnh sâu sắc ở người đọc. Không còn bị
che phủ bởi hào quang chiến thắng, Nguyễn Huy Thiệp buộc chúng ta đối mặt với
thực trạng xã hội phi lý, đầy bất cập thời hậu chiến, với cơ chế thị trường thực dụng
làm tha hóa tính người, với trạng thái cô độc, lạc loài của cá nhân trong một cộng
đồng xã hội đã đứt tung mối dây liên hệ bền chặt.
Tiểu kết
Nhìn vào văn học nghệ thuật, chúng ta thấy được lịch sử dân tộc trong đó. Mỗi
thời kỳ lịch sử khác nhau ta lại thấy được những cách phản ánh hiện thực khác nhau,
tạo nên nét đặc trưng thẩm mĩ của mỗi giai đoạn văn học. Văn học giai đoạn từ 1986
đến nay có những sự thay đổi trong cách phản ánh và lý giải hiện thực so với giai
đoạn văn học trước 1986. Đó là sự đổi mới cần thiết và cũng là tất yếu trong quá trình
vận động và phát triển của văn học. Soi vào truyện ngắn của Đỗ Chu và Nguyễn Huy
Thiệp, người đọc nhận thấy truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói chung đã có sự
chuyển đổi từ tư duy sử thi với một khoảng cách khó vượt giữa nhà văn và đối tượng
mà nhà nghiên cứu nổi tiếng Bakhtin gọi là “khoảng cách sử thi”, sang kiểu tư duy
kiểu mẫu nhân vật khác nhau trong tác phẩm của mình. Nhân vật chính là chìa khóa
giúp người đọc khám phá thế giới nghệ thuật của nhà văn.
2.2.1. Quan niệm nghệ thuật về con người và những kiểu nhân vật trong
truyện ngắn Đỗ Chu
Là một nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, được sống trong
những năm tháng hào hùng của dân tộc, lại được sinh trưởng trên mảnh đất Kinh Bắc
– một trong những cái nôi văn hóa của dân tộc, Đỗ Chu đã sớm định hình cho mình
một quan niệm riêng về con người và cuộc sống. “Với tấm lòng nhân hậu, bao dung
và gần như tuyệt đối tin vào tình người, tình đời, Đỗ Chu có một quan niệm về con
người hết sức trong sáng, nhân ái và vị tha. Trong thế giới nhân vật của Đỗ Chu
không có kẻ ác và rất ít cái xấu”, “hầu như chỉ có nhân vật chính diện”.
Quan niệm về con người này của Đỗ Chu đã chi phối thế giới nhân vật trong
truyện ngắn của ông. Các kiểu nhân vật quen thuộc là:
2.2.1.1. Nhân vật đời thường với những vẻ đẹp thời đại, hòa mình vào
đời sống cộng đồng
Là bộ phận của nền văn học chiến tranh, truyện ngắn Đỗ Chu gắn với kiểu nhà
văn - chiến sĩ, nhà văn - cách mạng. Họ phát ngôn cho tiếng nói thời đại, nhân danh
kinh nghiệm cộng đồng. Giai đoạn này, nhân vật trung tâm của văn học nói chung và
truyện ngắn Đỗ Chu nói riêng là những người có sự kết tinh các phẩm chất cao quý
của cộng đồng, gắn bó số phận mình với số phận đất nước. Đó là những người anh
hùng đại diện cho giai cấp, cho dân tộc và thời đại.
Thời đại mà Đỗ Chu đang sống là thời đại “ra ngõ gặp anh hùng”. Đó là lý do
ta bắt gặp trong sáng tác của Đỗ Chu những đặc tính của người anh hùng. Hình tượng
nhân vật trung tâm trong sáng tác của ông là thế hệ trẻ tuổi, với khát khao và hoài bão
cháy bỏng, những con người mang trong mình lý tưởng sống cao đẹp như người thanh
niên trong Đường qua nhà, Nghĩa trong Một người lính trở về, Trọng trong Tâm sự
người ở lại, Hàm-người lính lái xe và Chuyên – cô thanh niên xung phong làm giao
11
liên trong Ráng đỏ, Liệu trong Tiếng vang của rừng, Quế trong Nhành quế, Cung, An
đó, không cảm thấy cô đơn. Điều này ta nhận thấy rất rõ trong truyện ngắn Đỗ Chu.
Nhưng văn học sau 1975, với sự xuất hiện của con người cá thể, sự bừng tỉnh của ý
thức cá nhân, con người thường xuyên đối diện với chính mình và cảm nhận đặc
biệt trong sự cô đơn. Vì thế khi đọc truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, độc giả nhận
thấy một mẫu hình nhân vật quen thuộc là con người cô đơn như Đăng trong Tâm
hồn mẹ,Chương (Con gái thủy thần), chàng trai (Truyện tình kể trong đêm mưa),
Thuấn (Tướng về hưu), cô gái (Không khóc ở Califorlia), Hồ Xuân Hương (Chút
thoáng Xuân Hương)…
Hình tượng con người bị dục vọng, đồng tiền tha hóa cũng được Đỗ Chu
phản ánh trong những sáng tác sau năm 1975 nhưng với tần suất và cường độ ít hơn
so với Nguyễn Huy Thiệp. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã tái hiện lại một thế giới
12
người không có vua, biển không có thuỷ thần như Thủy (Tướng về hưu), Thiều Hoa
(Giọt máu), gia đình Không có vua…
2.2.2.2. Nhân vật người anh hùng
Không bằng lòng với cách tái hiện hiện thực bằng những con người bình
thường, Nguyễn Huy Thiệp còn tìm cách “lạ hóa” nhân vật bằng cách tạo ra kiểu
nhân vật giả cổ tích, giả huyền thoại, giả lịch sử. Với cách viết này, ông đã hạ bệ
người anh hùng. Dưới con mắt của nhà văn ấy, những nhân vật lịch sử nổi tiếng như
Nguyễn Trãi, Quang Trung, Nguyễn Du, Hoàng Hoa Thám không phải được nhận
thức như chính sử, với những nguyên tắc có sẵn, theo đúng những mô hình đã được
định dạng chắc chắn trong ý thức xã hội, lịch sử mà Nguyễn Huy Thiệp đã “thông
hiểu” người anh hùng theo sự vận động của đời sống tâm linh của mỗi người. Nhà
văn đã bình dân hóa các vĩ nhân, gỡ bỏ hào quang, thế tục hoá các thánh nhân để họ
trở thành những người bình thường trong đại chúng. Với hướng đi xây dựng các hình
tượng người anh hùng như thế, Nguyễn Huy Thiệp đã đi theo đúng xu thế chung của
nhân loại. Bởi trở về với đại chúng, đi vào tâm lý của cá nhân con người, xét tới tận
cùng, đó cũng là qui luật của văn học hậu hiện đại nói riêng và văn học nói chung. Đó
là những sáng tạo nghệ thuật thể hiện tài năng của Nguyễn Huy Thiệp mà khó ai có
nghệ thuật về con người của Đỗ Chu và Nguyễn Huy Thiệp, người đọc phần nào thấy
được phong cách, giọng điệu riêng của hai nhà văn, đồng thời thấy được sự vận động
của truyện ngắn Việt Nam sau Đổi mới. Sau Nguyễn Huy Thiệp, hoàn toàn không
thiên cưỡng để nói rằng, một diện mạo mới của truyện ngắn Việt Nam đã hình thành.
Trong giai đoạn mới, truyện ngắn đã phát huy được khả năng tiếp cận và phản ánh
hiện thực con người một cách nhanh nhạy và sắc bén. Với đặc trưng cơ bản của thể
loại, truyện ngắn đã tạo cơ sở cho sự biểu hiện những thay đổi trong quan niệm nghệ
thuật về con người. Với tầm nhìn mới phóng chiếu vào quá khứ và hiện tại, các tác
giả trẻ sau năm 1975 đi sâu khám phá về đời tư của cá nhân. Nhà văn cũng không bị
chìm vào các sự kiện, không khí lịch sử. Trọng tâm chú ý của nhà văn là từng con
người, từng số phận. Văn học sau 1975 hướng đến khám phá và tạo dựng con người
thế sự - đời tư, con người cá nhân với những phức tạp và bí ẩn của nó. Nhân vật thực
sự là điểm mấu chốt trong sự đổi mới của văn học nói chung và truyện ngắn đương
đại nói riêng. Sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người đã phá bỏ truyền
thống của những sự phân tuyến tốt – xấu; cao cả- thấp hèn… rạch ròi; con người cá
nhân thay thế cho con người cộng đồng, được nhìn nhận từ nhiều góc độ, nhiều chiều.
Khác với hình tượng phổ biến của văn học giai đoạn 1945 - 1975 về những con người
lạc quan, yêu đời, sống hòa mình vào cái ta chung, một bộ phận lớn truyện ngắn sau
đổi mới 1986 khai thác hình ảnh con người cô đơn như một loại hình nhân vật tiêu
biểu của thời hiện đại. Sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người này đã chứng
minh cho luận điểm của Milan Kundra: “con người là hiền minh của lưỡng lự”, con
người quả là đa dạng, phong phú. Chính điều này đã khiến cho nhân vật trong truyện
ngắn thời kỳ Đổi mới đã có những đặc trưng khác biệt so với giai đoạn trước: đa dạng
và phong phú với nhiều kiểu dạng nhân vật, tính cách. Điều này thể hiện rõ hơn khả
năng nhạy bén trong việc tiếp cận và khai thác hiện thực của các nhà văn, đồng thời
thấy được hiện thực cuộc sống luôn bộn bề và phức tạp. Nó thể hiện cái nhìn toàn
vẹn, đa chiều về đời sống bằng tính đa nguyên của nghệ thuật. Có thể nói chưa bao
giờ trong văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng, con người lại được khai thác ở
nhiều chiều kích và bình diện đến vậy. Tiếp cận với thế giới nhân vật trong các sáng
tác, người đọc như được tiếp xúc với những con người có thực ở ngoài đời, cũng sinh
Chu, những chi tiết, biến cố, sự kiện không phải là chất kết dính duy nhất mạch
chuyện kể. Có thể nói Đỗ Chu là nhà văn mạnh về trực giác.
Những truyện ngắn như Hương cỏ mật, Mùa cá bột, Tiếng vang của rừng…
không phải không có một “biến cố” nào đó làm cơ sở cho cốt truyện, có điều “biến
cố” đó là những xung động hết sức nhỏ nhẹ, khẽ khàng trong tâm lý của một hoặc
một tập thể nhân vật. Cốt truyện kiểu này phù hợp để nhà văn Đỗ Chu thể hiện chủ đề
ân tình ân nghĩa, nó nhằm thể hiện những nhận thức và xúc cảm bên trong hơn là
những tương quan và xung đột bên ngoài.
b. Cốt truyện có những tình huống, chi tiết bất ngờ và thường đưa đến kết thúc
có hậu.
Cốt truyện kiểu này xuất hiện nhiều trong các sáng tác của Đỗ Chu từ sau năm
1975 như Họa mi hót, Đất bãi, Mê lộ… Có lẽ chính hiện thực xã hội phức tạp, bộn bề
sau năm 1975 đã kích thích nhà văn có những sáng tạo tình huống độc đáo “thoát ra
ngoài khuôn khổ” như thế. Tình huống mà người đọc nhận thấy khá nhiều trong kiểu
cốt truyện này là tình huống trở về – bất ngờ gặp lại và cuối cùng nhân vật tìm thấy
hạnh phúc. Nhân vật chính trong những truyện này thường là người lính trở về sau
những năm tháng chiến tranh ác liệt như Nhuần (Đất bãi), Trữ (Mê lộ), Thiêm (Hoạ
mi hót), Nhưỡng (Cánh đồng không có chân trời) Xây dựng cốt truyện như vậy tác
giả Đỗ Chu đã thể hiện tấm lòng nhân hậu và niềm tin của nhà văn trước cuộc đời và
con người.
3.1.1.2. Cốt truyện trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Khảo sát qua tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, có thể thấy phần lớn truyện
ngắn của ông có cách tổ chức thành phần cốt truyện không theo lối truyền thống.
Điều đặc biệt là cách sắp xếp cốt truyện của nhà văn rất linh hoạt, ở mỗi truyện đều
không giống nhau. Nhưng tựu trung lại, có thể phân loại cách xây dựng cốt truyện
15
của Nguyễn Huy Thiệp tập trung thành hai loại chính là: cốt truyện kết thúc không có
hậu và cốt truyện phức tạp.
a. Cốt truyện kết thúc thường không có hậu:
Kết cấu theo GS. Hà Minh Đức: “Kết cấu tác phẩm là toàn bộ tổ chức tác
phẩm phục tùng đặc trưng nghệ thuật và nhiệm vụ nghệ thuật, không tách rời nội
dung cuộc sống và tư tưởng trong tác phẩm”.
3.1.2.1. Kết cấu trong truyện ngắn Đỗ Chu
a. Kết cấu giản dị, tự nhiên, tuân thủ những nguyên tắc truyền thống:
Đỗ Chu từng tâm sự: “với tôi cốt truyện không thành vấn đề lắm”. Có lẽ chính
vì vậy mà truyện ngắn của ông thường có lối kết cấu tự nhiên, giản dị. Đã có lần ông
từng bộc bạch rằng trong quá trình sáng tác, ông thường không có thói quen xây dựng
kết cấu truyện mà kết cấu thường xuất hiện cùng một lúc với ý đồ nghệ thuật của nhà
văn, “có truyện ban đầu chỉ đến với tôi bằng một cái tên Hương cỏ mật, Mùa cá bột,
16
tôi nghĩ ra những cái tên ất trước, thấy hay hay, rồi liên tưởng ra nhân vật và cốt
truyện. Có truyện chỉ bắt đầu từ một khung cảnh. Như trường hợp truyện Phù sa…
Hoặc Ráng đỏ thì truyện bắt đầu từ những số phận tôi gặp trong đời sống”.
b. Kết cấu truyện lồng trong truyện
Đọc truyện ngắn Đỗ Chu, ta bắt gặp một lối kết cấu khá phổ biến là hình thức
truyện lồng trong truyện. Người đọc dễ dàng tìm thấy trong hàng loạt các truyện ngắn
mang kết cấu này như Hương cỏ mật, Đường qua nhà, Chuyện mùa hạ, Gió qua
thung lũng, Ráng đỏ, Trung du, Tháng hai, Hoạ mi hót, Chiến sỹ quân bưu, Chân
trời… Lồng ghép những mảnh đời vào câu chuyện, tác giả đã làm đa dạng hóa kết
cấu trần thuật. Với cách kết cấu này, người đọc có hình dung ra những câu chuyện
trên như những bông hoa đang chớm nở. Ta phải bóc dần từng cánh từng cánh để
thấy được cái nhụy bên trong – một cái nhụy mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc như
một hạt giống lành để lại mùa sau.
c. Kiểu kết cấu truyện đơn tuyến
Kết cấu tác phẩm phản ánh quá trình tư duy của nhà văn, quá trình vận động
của tư duy ấy. Khi tư duy nghệ thuật của nhà văn có sự biến đổi, vận động thì tất yếu
kết cấu tác phẩm cũng có sự thay đổi. Truyện ngắn Đỗ Chu thể hiện khá rõ nét đặc
điểm này.
cách kết thúc mở, đa nghĩa hoặc bỏ lửng. Khảo sát truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp,
chúng tôi nhận thấy ông đã sáng tạo ra nhiều kiểu kết thúc không khép kín khá độc
đáo: kết thúc bỏ lửng, kết thúc với nhân vật chính tiếp tục ra đi, kết thúc mở ra nhiều
kiểu khác nhau trong việc giải quyết các xung đột và số phận nhân vật, kết thúc đảo
ngược so với cổ tích, và thực tế lịch sử… Những truyện ngắn như Con gái thủy thần,
Vàng lửa, Không có vua, Chăn trâu cắt cỏ… mở ra chân trời liên tưởng rộng lớn cho
độc giả đồng thời tạo sự đa thanh trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
3.2. Sự vận động về nghệ thuật trần thuật
3.2.1. Ngôn ngữ
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp đặc thù của con người. Nó giúp cho con
người có thể hiểu được những tâm tư tình cảm của nhau, từ đó có thể xây dựng nên
một xã hội bền vững, phát triển. Văn học, với tư cách là một một bộ môn nghệ thuật
đặc biệt cũng dùng ngôn ngữ làm phương tiện biểu đạt.
3.2.1.1. Ngôn ngữ truyện ngắn Đỗ Chu
a. Ngôn ngữ giàu chất thơ
Ngôn ngữ của Đỗ Chu tươi đẹp, hiền hòa chứ không cốt phô diễn cá tính
mạnh mẽ như nhà văn Nguyễn Tuân. Truyện ngắn Đỗ Chu vì thế mang đậm tính chất
trữ tình, giàu chất thơ, thứ thơ thanh cao và bình dị. Người đọc cảm nhận được rằng
tác phẩm của ông thể hiện sự quan sát tinh tế của nhà văn trước thiên nhiên và cuộc
sống. Đọc truyện ngắn Đỗ Chu, độc giả không chỉ biết được cuộc sống mà còn cảm
được nó nhờ vào lối viết nên thơ của nhà văn. Nhìn chung, giai đoạn trước 1975, thứ
văn xuôi giàu chất thơ của Đỗ Chu chảy tràn trên từng câu chữ đã mang lại cho lòng
người một thứ tình cảm ấm áp, tin yêu.
b. Ngôn ngữ giàu chất khẩu ngữ
Từ sau 1989, bên cạnh những trang văn giàu chất thơ, văn Đỗ Chu có khi cũng
thô mộc, sù sì, đậm chất hiện thực. Ngôn ngữ trở nên “đời” hơn do nhu cầu phản ánh
đa dạng các góc cạnh phức tạp của đời sống. Ông định danh, định tính sự vật, hiện
tượng bằng câu từ chính xác, không cầu kỳ, trau chuốt. Nhờ sự suồng sã, thân mật mà
các đối tượng phản ánh trở nên chân thực hơn bao giờ hết, khắc họa được sinh động,
sắc nét cá tính, chân dung các nhân vật. Một số truyện ngắn qua hai tuyển tập Mảnh
những truyện ngắn của họ chính là những dấu hiệu sắc nét thể hiện sự vận động của
truyện ngắn Việt Nam hiện đại nhìn từ góc độ ngôn ngữ trần thuật.
3.2.2. Giọng điệu trần thuật
Giọng điệu “là thái độ, tình cảm của nhà văn đối với sự việc, hiện tượng được
miêu tả mà người đọc có thể cảm nhận qua sắc thái biểu cảm của lời văn”.
3.2.2.1. Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Chu
Có thể nhận thấy, trước 1975, Đỗ Chu thiên về bộc bạch cảm xúc, tâm trạng
và những nghĩ suy trước thực tế lớn của đất nước. Nó được lọc qua một cái “tôi” trữ
tình của tác giả hoặc của nhân vật. Cho nên ta bắt gặp hầu hết trong sáng tác của Đỗ
Chu trước 1975 là giọng điệu trữ tình, đằm thắm. Từ sau 1975, do sự khám phá, phát
hiện các bề trái của hiện thực cuộc sống nên xuất hiện thêm giọng chiêm nghiệm, suy
tư và giọng điệu mỉa mai, châm biếm.
3.2.2.2. Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Nếu giọng điệu chủ đạo của truyện ngắn Đỗ Chu là giọng trữ tình, thì giọng
Nguyễn Huy Thiệp là sự giễu nhại, khách quan, sắc lạnh. Đây là chất giọng tiêu biểu
của thể loại tự sự, nó phá vỡ khoảng cách sử thi, đưa văn học về gần với hiện thực
cuộc sống. Giọng lu loa, sừng sộ, tiếng gầm gào cuộn réo trong văn học thời đổi mới
không thể cất lên thành tiếng hát. Cái vô lí, phi lí, chất văn xuôi và vẻ đẹp của đời
sống phồn tạp chỉ có thể hoá thân vào tiếng cười trào tiếu, giễu nhại để văn học thế
sự biến thành tiếng nói nghệ thuật.
Với phương thức giễu nhại, nhà văn đã miêu tả cuộc đời giống như một kịch
trường như để muốn thức tỉnh lòng người trước những vấn đề về cuộc sống hiện đại.
Ẩn giấu đằng sau sự giễu nhại của Nguyễn Huy Thiệp người đọc cảm nhận được một
cảm giác tái tê, một nỗi đau âm thầm, lặng lẽ mà sâu sắc, một nỗi hoài nghi về trật tự
xã hội và về chính con người. Đó chính là lớp trầm tích đằng sau một thế giới nhại có
19
phần lạnh lùng của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Tóm lại, giọng trào lộng đã thể
hiện rõ chức năng chỉnh lý hình tượng bằng tiếng cười, là một trong những nỗ lực
khám phá tích cực và toàn diện cuộc sống của người viết. Nó góp phần mang lại sự
ngắn gọn, trần trụi, bảo đảm tính khách quan tối đa cho ngôn ngữ trần thuật.
Ngoài ra, nhịp điệu của lời đối thoại gọn, nhanh, không cần bất cứ sự che
chắn, trợ giúp ngoài ngôn ngữ nào. Lời dẫn truyện cũng bị gọt tỉa đến mức tối đa.
Điều đó tạo nên hiệu quả thẩm mĩ tích cực. Sự dồn nén thông tin như vậy đem đến
cho câu văn của Nguyễn Huy Thiệp những khoảng lặng, khoảng mở cần thiết để
người đọc tự do suy tưởng và tưởng tượng. Những câu văn dài xuất hiện chẳng qua là
sự chắp nối của những đoản ngữ cô đặc ngắn gọn, được ghép lại liền mạch với một
nhịp điệu dồn đập như chính nhịp chảy sôi động, gấp gáp của cuộc sống hiện đại.
20
Tiểu kết
Trần thuật là một phương diện cơ bản của tự sự, bao gồm rất nhiều vấn đề liên
quan đến tổ chức và cấu trúc một văn bản. Khảo sát truyện ngắn Đỗ Chu và Nguyễn
Huy Thiệp, luận văn bước đầu ghi nhận một số xu hướng đổi mới nghệ thuật trần
thuật như hiện tượng phân rã cốt truyện; ngôn ngữ trần thuật giàu chất hiện thực đời
thường; nhịp điệu trần thuật nhanh, tính thông tin cao; truyện ngắn vận dụng nhiều
hình thức trần thuật, trong đó tính chất phức điệu của giọng trần thuật biểu hiện ở sự
pha trộn các lời nói khác nhau là một trong nguyên nhân dẫn đến tính đa thanh, phức
điệu của các giọng trần thuật…
Khám phá truyện ngắn Đỗ Chu và Nguyễn Huy Thiệp từ phương diện nghệ
thuật, độc giả đã nhận diện được hai phong cách độc đáo, góp phần làm nên diện mạo
của truyện ngắn Việt Nam đa dạng, nhiều vẻ. Các tác giả viết truyện ngắn trong thời
kỳ Đổi mới đã thổi vào truyện ngắn một luồng gió mới, trần trụi hơn, thật hơn, đời
hơn. Cấu trúc truyện ngắn của họ không chỉ là mặt phẳng, mà đã có cái gì như thể
không gian đa chiều.
Sự đổi mới của nghệ thuật viết truyện ngắn ấy xuất phát từ con đường mở cửa
với các nền văn hóa trên thế giới của nước ta. Đây là một điều kiện thuận lợi để nền
văn học dân tộc tiếp thu những tinh hoa thế giới, tiến lên nhịp bước với những nền
sáng tạo, một sự sáng tạo miệt mài, không ngừng nghỉ. Đỗ Chu và Nguyễn Huy
Thiệp với tư duy nghệ thuật và cá tính khác nhau đã mang hai phong cách nghệ
thuật độc đáo riêng. Đỗ Chu và Nguyễn Huy Thiệp, một đằng là cái tinh tế, mượt
mà, giàu chất thơ, lãng mạn, thậm chí có thể gọi là “đóa hoa hiền nõn nà của một
mùa xuân non dại và ngây thơ”; một đằng là sự cô đặc của một kiếp người, một thời
đại lịch sử với những bi kịch con người và lịch sử dữ dội ác liệt. Qua hai hiện tượng
truyện ngắn này, độc giả đã phác thảo được biểu đồ lịch sử văn học Việt Nam nói
chung và sự vận động của truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói riêng. Nhìn tổng thể,
sự vận động của truyện ngắn sau 1975 đã diễn ra giống như một cuộc nhận đường
toàn diện và sâu sắc: từ ý thức nghệ thuật đến hành vi sáng tạo, từ tư tưởng đến thi
pháp. Sự vận động ấy hướng mạnh mẽ đến những nỗ lực cách tân nhằm đổi mới thể
loại truyện ngắn. Và việc nghiên cứu, giải mã sự vận động của truyện ngắn bằng
cách đối chiếu, so sánh hai hiện tượng truyện ngắn tiêu biểu, điển hình ở hai thời kì
khác nhau như Đỗ Chu và Nguyễn Huy Thiệp là một hướng nghiên cứu mới, phù
hợp với xu hướng phê bình văn học hiện đại hiện nay. Nó góp phần tạo nên một góc
nhìn mới về thể loại truyện ngắn, truyện ngắn Đỗ Chu, truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp đặt trong cách nhìn lịch đại và đồng đại.
Trước hết, sự thay đổi trong chiếm lĩnh hiện thực khách quan và quan niệm
nghệ thuật về con người là một bước chuyển quan trọng cho truyện ngắn. Từ năm
1945 đến năm 1975, những nhiệm vụ lịch sử đặt văn học vào quỹ đạo hiện thực chủ
nghĩa, vì vậy một mô hình văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng đặc thù của
giai đoạn này là những tác phẩm mang tinh thần sử thi, diễn đạt kinh nghiệm cộng
đồng. Nhưng sau năm 1975, đất nước trở lại quỹ đạo hòa bình và đổi mới, hội nhập
mở ra những tiền đề quan trọng cho truyện ngắn vận động. Giai đoạn này, truyện
ngắn vừa mở rộng đề tài vừa cố cưỡng lại “từ trường” của khuynh hướng sử thi để
gia tăng chất đời tư và thế sự. Con người trong truyện ngắn thời kì này không còn
nhất phiến, đơn trị mà đa trị phân mảnh. Không phải sự kiện lịch sử mà chính con
người với số phận cá nhân của nó đã đóng vai trò chi phối cấu trúc truyện ngắn.
Truyện ngắn thời kì đổi mới đã nhanh nhạy trong cách tiếp cận và phản ánh cuộc
sống con người dưới cái nhìn đa chiều kích. Để đi sâu, mở rộng sự chiếm lĩnh hiện
niệm nhân văn về con người với những nỗ lực vượt thoát khỏi ràng buộc của các
dạng thức tự sự truyền thống đưa nền văn học nước ta phát triển ở một tầm mới.
Sự đổi mới trong truyện ngắn Việt Nam nói riêng và văn học Việt Nam nói chung
đã thể hiện sự dân chủ trong cách nghĩ của nhà văn, sự đa dạng, nhiều chiều trong
cách viết. Đó là sự tất yếu và hợp với quy luật phát triển trong dòng thác đổi mới
nói chung của lịch sử và đất nước: đời sống văn học đã được dân chủ hóa và sự
đổi mới tư duy. Đời sống văn học Việt Nam sau 1986 đã thực sự “sung túc” hơn
trong bầu không khí dân chủ. Trên thực tế, văn học nước nhà đã thoát khỏi quán
tính của những “khuôn vàng thước ngọc” cũ để hoà nhịp cùng văn học thế giới.
Truyện ngắn là một thể loại có khả năng biến hóa linh hoạt luôn biến đổi
không ngừng. Ngày nay truyện ngắn vẫn đang vận động, vẫn đang định hình và
luôn bám sát mọi biến chuyển của đời sống bằng các phương tiện của thời hiện đại.
Vì vậy con đường khám phá, nghiên cứu sự vận động của thể loại này vẫn là một
hành trình chưa có hồi kết và hứa hẹn nhiều điều thú vị cho các nhà nghiên cứu
cũng như bạn đọc hôm nay và mai sau.
References.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÁC PHẨM
1. Đỗ Chu (2010), Chuyện mùa hạ, Nxb Văn học, H.
2. Đỗ Chu (2010), Lão Mai, Nxb Văn học, H.
3. Nguyễn Huy Thiệp (2004), Nguyễn Huy Thiệp truyện ngắn, Nxb Hội nhà
văn, H.
SÁCH THAM KHẢO
4. Lại Nguyên Ân (biên soạn) (1999), 150 từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội, H.
23
5. Hà Minh Đức - Đỗ Văn Khang - Phạm Quang Long - Phạm Thành Hưng -
Nguyễn Văn Nam – Đoàn Đức Phương - Trần Khánh Thành – Lý Hoài Thu
21. Lại Nguyên Ân, “Tiểu thuyết và lịch sử”, http:// www.vietnamnet.vn
22. Văn Chinh (2001), “Nhà văn Đỗ Chu: Con người phải được yêu mến và
kính trọng”, Báo Văn nghệ, số (7).
23. Trần Cương (1995), “Nhân vật nông dân trong một số tác phẩm văn xuôi
thời kì đổi mới”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 12.
24. Phan Huy Dũng (2007), “Đỗ Chu chiêm nghiệm về nghề văn và nghệ
thuật”, Tạp chí Nhà văn, số tháng 3.
25. Nguyễn Đăng Điệp, “Cuốn theo chiều văn Nguyễn Huy Thiệp”,
.
24
26. Hồng Thanh Quang (2004), “Nhà văn Đỗ Chu: Cô đơn được càng tốt”, báo
An ninh thế giới cuối tháng, .
27. Nguyễn Kiên (1996), “Về chất thơ trong truyện ngắn”, Tạp chí Văn học, số
(3).
28. Lưu Thị Thu Hà (2008), Sự vận động của truyện ngắn Việt Nam từ 1986
đến nay, nhìn từ góc độ thể loại, luận văn Thạc sĩ văn học, Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN), Hà Nội.
29. Nguyễn Hòa, “Văn chương - Hy vọng về những điều tốt đẹp”,
http://203.162.0.19:8080/show-content.pl.
30. Tô Hoàng, “Đỗ Chu – một tài năng nở sớm”, .
31. Tô Hoàng, “Nhà văn Đỗ Chu – 40 năm tung hoành văn trường”,
.
32. Tô Hoàng (17/05/2009), “Đỗ Chu: Nhà văn binh nhì của chúng tôi”,
.
33. Hà Khải Hưng, “Nhà văn Đỗ Chu: Dù được nhớ tới ở thể loại nào cũng là
quý”, .
34. Cao Kim Lan (2006), “Lịch sử trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp và dấu
vết của hệ hình thi pháp Hậu hiện đại”, http: //vienvanhoc.org
35. Tôn Phương Lan (2001), “Một vài suy nghĩ về con người trong văn xuôi