Tiểu luận
: Một số vấn đề của gia đình Việt Nam hiện đại -thực trạng và giải pháp
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Đất nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội và đang
thực hiện quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá mà thực chất là sự
chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, nghiệp
vụ và quản lý Kinh tế - xã hội từ lao động thủ công là chính sang sử dụng
một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ hiện đại và tiến bộ
khoa học công nghệ, tạo nên năng suất lao động xã hội cao. Cùng với sự
phát triển của xã hội, nhiều vấn đề mới nảy sinh, trong đó có vấn đề gia
đình cũng có nhiều biến đổi phức tạp. Trong năm quốc tế gia đình
1994(IYE) với chủ đề “Gia đình - các nguồn lực và thế giới đang đổi
thay” là ý tưởng tốt đẹp của cộng đồng thế giới nhằm động viên các quốc
gia cần chú ý hơn nữa đến việc xây dựng và củng cố gia đình. Qua dó cho
thấy gia đình trở thành một vấn đề thời sự được nhân loại quan tâm.
Đảng ta rất coi trọng gia đình, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh: “Nêu cao trách nhiệm của
gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng các thành viên của mình có lối
sống văn hoá, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mọi người và là tế
bào lành mạnh của xã hội”. [9;134]
Trong tình hình chung của đất nước, khi chúng ta đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá vấn đề gia đình cũng có những biến đổi sâu sắc
về mọi mặt. Gia đình là tế bào xã hội, vậy khi tiến theo nhịp độ phát triển
mới lại càng phải chú ý tới việc phát huy những giá trị của các yếu tố
truyền thống trong gia đình, chọn lọc để phát triển mô hình hiện đại trong
quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
truyền thống và hiện đại đối với sự phát triển xã hội.
2
+ Khái quát những vấn đề cơ bản của sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá trong giai đoạn hiện nay.
+ Chỉ rõ những tác động của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá gia đình Việt Nam truyền thống và hiện đại.
+ Đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy những giá trị của gia đình
Việt Nam hiện đại và khắc phục những tiêu cực của nó.
4. Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Tiểu luận nghiên cứu vấn đề trên dựa vào những quan điểm của Chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm chủ trương đường
lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện
đại hoá đất nước.
Cơ sử thực tiễn: thực tiễn quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
và những số liệu, tài liệu phản ánh thực trạng gia đình Việt Nam hiện đại.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Tiểu luận tiếp thu phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để xem xét đối tượng nghiên cứu.
Ngoài ra, trong tiểu luận còn sử dụng phương pháp cụ thể là: phân
tích, tổng hợp, so sánh, logic - lịch sử.
6. Kết cấu:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần
phụ lục, nội dung của tiểu luận gồm hai chương và sáu tiết.
3
NỘI DUNG:
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG.
1.1. KHÁI NIỆM GIA ĐÌNH.
Theo từ điển tiếng Việt (Văn Tân chủ biên, Nxb Khoa học - xã hội
1998) định nghĩa: “Gia đình là đơn vị xã hội thành lập trên cơ sở dòng
máu, bắt đầu có từ thời đại thị tộc mẫu hệ; trong thời đại phong kiến
gia đình cho mọi hoàn cảnh và mọi thời đại.
Ở nước ta, trong hơn 15 năm đổi mới vừa qua, gia đình Việt Nam có
sự chuyển biến hết sức mạnh mẽ. Nhưng về căn bản, nó vẫn được xây
dựng trên cơ sở hôn nhân. Hôn nhân hiện tại vẫn mang ý nghĩa hết sức
thiêng liêng đối với thế hệ trẻ. Hôn nhân được hình thành trên cơ sở tình
yêu của đôi nam nữ, được gia đình hai bên đồng tình và được chính quyền
xãc nhận. Sự đề cao tình yêu và tôn trọng ý kiến cha mẹ và pháp luật,
chứng tỏ lớp trẻ hiện nay đang xây dựng một mô hình gia đình hạnh phúc,
hài hoà giữa truyền thống và hiện tại (đương nhiên bay giờ không còn có
những gia đình không có con cái hoặc không sinh con, chỉ có hai vợ
chồng khác dòng máu sinh sống; có gia đình nhiều chủng loại con cái: con
anh, con tôi, con chúng ta; gia đình chỉ có cha mẹ và con nuôi; có gia đình
chỉ có anh em chăm nuôi lẫn nhau ).
Về quy mô và loại hình gia đình cũng đang có nhiều chuyển biến
mạnh mẽ. Hiện nay, số người trung bình trong một gia đình chỉ hơn bốn
người chiếm tỷ lệ đa số. Nhìn chung, gia đình ở thị có số người ít hơn gia
đình nông thôn, gia đình ở miền đồng bằng ít hơn gia đình ở miền núi và
5
gia đình trẻ có số người ít hơn gia đình tuổi cao. Đặc biệt là gia đình hạt
nhân có tỷ lệ khá cao, chiếm 68,46% tổng gia đình trong cả nước.
Rõ ràng, gia đình hai thế hệ đang chiếm ưu thế trong các loại gia
đình hiện nay. Điều đáng chú ý là nhóm gia đình trẻ chiếm hầu như đa số
các gia đình hạt nhân, qua điều tra cho thấy họ vừa mong muốn loại gia
đình hai thế hệ, lại vừa muốn được gần gũi bố mẹ. Nghĩa là lớp trẻ vừa
muốn có gia đình độc lập, lại vừa mốn gần gũi, gắn bó chặt chẽ với bố mẹ
và anh em.
Một chuyển biến khá rõ nét trong các gia đình trẻ ở nước ta hiện
nay là sự bình đẳng giữa vợ chồng trong cuộc sống gia đình. người ta vẫn
nghĩ rằng gia đình Việt Nam là gia đình gia trưởng (đành rằng trong gia
đình người đàn ông vẫn được đề cao). Nhưng thực tế, sự phân công lao
Thứ hai: Quan hệ trong gia đình, kính trọng và biết ơn người sinh
thành ra mình “công cha như núi thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong
nguồn chảy ra, một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo
con”. Nề nếp trên, dưới, thương yêu đùm bọc nhau “anh em như thể chân
tay, đói lành đùm bọc, dở hay đỡ đàn”.
Thứ ba: Phụ nữ thủy chung, đảm đang đóng góp cho gia đình, nó thể
hiện ở nhiều phương diện khác nhau trong lao động, chăm lo con cái,
công việc gia đình (Việt Nam người đảm đang nhất là con dâu trưởng).
Bên cạnh đó, gia đình Việt Nam truyền thống còn có những mặt hạn
chế:
Hạn chế đầu tiên là việc kết hôn do người trên nhất là do bố mẹ sắp
đặt không chú ý đúng mức dến tình yêu của con cái (bố mẹ đặt đâu con
ngồi đấy). Về hôn nhân thì “trai năm thể bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ
có một chồng”. Trong gia đình phong kiến theo tục tam tòng: tại gia tòng
phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử.
Tiếp theo, phụ nữ không được coi trọng, suốt ngày gắn bó với nội
trợ, chăm sóc chồng con, gia đình nhà chồng không có điều kiện tham
gia vào các công việc của xã hội. Vai trò của người phụ nữ chỉ được bó
7
hẹp trong gia đình. Sự bất bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình
diễn ra, trên bảo dưới phải nghe, phụ nữ không có ý kiến gì.Tư tưởng
đông con, càng đông con bao nhiêu càng phúc bấy nhiêu (trời sinh voi trời
sinh cỏ, con đàn cháu đống).Lễ nghi trong gia đình như cưới xin, ma
chay, giỗ chạp còn rườm ra, tốn kém không văn hoá.
Vì vậy, việc xây dựng gia đình là một trong những vấn đề quan
trọng của sự nghiệp cách mạng Xã hội Chủ nghĩa. Gia đình mới của Chủ
nghĩa xã hội ra đời trên sự kế thừa những nét đẹp gia đình truyền thống,
đồng thời tiếp thu những tiến bộ của thời đại về gia đình. Gia đình truyền
thống được hun đúc lâu đời trong lịch sử dân tộc, bước vào thời kỳ đổi
mới, gia đình ấy bộc lộ nhiều tích cực và cả tiêu cực. Nghệ thuật quản lý
đình.
Như vậy, cùngvới sự phát triển chung của đất nước, đời sống vật
chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện, kinh tế gia
đình đang tiếp cạn nhanh chóng với công nghệ, khoa học kỹ thuật và phát
triển ổn định lâu dài thì đó sẽ là điều kiện để gia đình thực sự là nguồn
lực to lớn của sự phát triển đất nước.Gia đình là nơi tái sản xuất ra con
người, tái sản xuất sức lao động và nuôi dưỡng con người, tạo ra con
người có thể chất tốt.
Việc tái sản xuất ra con người có chất lượng không ai có thể làm
thay chức năng của gia đình được. Cho nên, ở đây không phải chỉ là sinh
đẻ, truyền giống mà còn là vấn đề nuôi dưỡng, tạo ra những con người
Việt Nam cường tráng về thể lực, cao đẹp về tâm hồn thuộc về bổn phận
và trách nhiệm của mỗi gia đình Việt Nam ngày nay.Với chức năng giáo
dục, gia đình là nơi nuôi dướng bảo vệ con người một cách toàn diện nhất
đối với thế hệ tương lai của gia đình.Gia đình được coi là trường học đầu
tiên của mỗi cá nhân và cha mẹ là người thầy dạy đầu tiên cho con người
lòng nhân ái, tình yêu thương, tính thiện, lòng vị tha Từ tình yêu thương
tha thiết, cha mẹ cần phải dạy cho con thành người có ích cho xã hội, biết
yêu thương con người, có hiếu với cha mẹ và các bậc tiền nhân. Thời đại
ngày nay ngoài thể lực khoẻ mạnh, con người cần phải có trí tuệ, nhân
9
cách đạo đức và cha mẹ là người phát hiện những năng lực, sở trường của
con để khuyến khích, bồi dưỡng và phát huy.
Hiện nay, quan niệm về chức năng giáo dục của gia đình vẫn được
coi là truyền thống và gia giáo. Gia đình có ý nghĩa đặc biệt dường như
không thể là tạo lập nhân cách cho con người. Những vấn đề bức xúc của
tệ nạn xã hội, của sự gia tăng ly hôn trong những năm qua càng khẳng
định quan điểm giáo dục gia đình là rất quan trọng.Ngoài ra, gia đình còn
có chức năng kinh tế, chức năng tiêu dùng, chức năng giữ gìn và truyền
thụ các giá trị văn hoá truyền thống để giáo dục, bồi dưỡng nhân cách các
nuôi với con nuôi, bố với con dâu
Ở nước ta việc kết hôn phải đăng ký và do cơ quan nhà nước thực
hiện, hiện nay ở nước ta có 92,3% các cuộc hôn nhân nào được đăng ký,
thành phố là 93,5%, đồng bằng là 92,2%, miền núi 91,7%. Hiện tượng tảo
hôn ở địa phương vẫn còn, nữ là 2,41%, năm 2,15%. Cưỡng ép kết hôn là
10%, tình trạng không đăng ký kết hôn là 6,8%.
Về việc cưới xin tuy có định hướng và dư luận chấp nhận nhưng vẫn
diễn ra phức tạp, tốn kém đặc biệt tình trạng ly hôn ngày càng tăng; năm
11
1991 có 22.632 vụ, năm 1992 có 29.252 vụ, năm 1993 có 30.000 vụ.
Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1996 - 2000 có 45.044 vụ. Trong đó, tỷ lệ
ly thân trong dân cư từ 13 tuổi trở lên là 0,7%, ngày nay là 1%.
b. Số lượng gia đình tăng nhanh, kết câu và quy mô gia đình nhỏ
dần.
Qua mỗi một giai đoạn số lượng gia đình hàng năm ở nước ta tăng:
năm 1921 dân số nước ta có 15,58 triệu người, năm 1960 là 30,17 triệu
người, năm 1986 là 60,47 triệu người, hiện nay là hơn 80 triệu. Tốc độ
phát triển gia đình tang nhanh hơn tốc độ phát triển kinh tế: năm 1979
nước ta có 9,7 triệu hộ gia đình, năm 1989 là 13 triệu hộ, năm 1992 là
13,7 triệu, đầu năm 2004 là 16 triệu hộ.
Hiện nay hầu như không có gia đình năm thế hệ mà chủ yếu là gia
đình hai thế hệ gọi là gia đình hạt nhân; ở thành phố gia đình hạt nhân
82,3%, đồng bằng 81,7%, miền núi và trung du 80,6%. Thành phố gia
đình ba thế hệ là 33,3%, đồng bằng 13%, miền núi và trung du 18%. Gia
đình bốn thế hệ ở thành phố là 0,3%, đồng bằng 0,7%, miền núi và trung
du là 0,4%.
c. Chức năng gia đình biến đổi từ khép kín đến xã hội hoá.
- Chức năng kinh tế và tiêu dùng.
Về mặt tiêu dùng trong gia đình sản xuất nước ta đáp ứng nhu cầu
thiết yếu của nhân dân, nhu cầu tiêu dùng có xu hướng tăng nhanh.
rất phức tạp. Gia đình thiếu thành phần, chưa đầy đủ là gia đình thiếu vợ
hoặc thiếu chồng, gia đình không thể có con, gia đình có hiện tượng ly
thân ly hôn, gia đình có vợ hoặc chồng đi công tác xa, con cái đi xa vài
năm Gia đình hỗn hợp, gia đình có “con anh, con tôi, con chúng ta”, ở
những gia đình này có nhiều việc cần phải giải quyết tế nhị thận trọng để
được yên ổn gia đình.Gia đình có yếu tố nước ngoài do yếu tố ngoại giao
gia đình có yếu tố nước ngoài không chỉ là chồng lấy vợ nước ngoài, cho
con làm con nuôi nước ngoài. Ngoài ra còn có các hình thức gia đình khác
như gia đình nông dân, gia đình đa giai cấp, đa thành phần kinh tế, gia
13
đình đa dân tộc, gia đình đồng tính luyến ái, gia đình hôn nhân thử, gia
đình không con.
e. Gia đình là hạt nhân văn hoá.
Trong tính truyền thống, tính hiện đại và cả tính đặc thù gia đình
luôn là hạt nhân của tiếp biến văn hoá truyền thống và hiện đại, nó bao
gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của dân tộc Việt Nam đã
được hun đúc, vun đắp qua lịch sử dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu
nước nồng nàn, tinh thần tự lực dân tộc, tinh thần đoàn kết ý thức cộng
đồng gắn kết cá nhân gia đình làng xã với nhau, cộng đồng làng xã nước
ta bền chặt là bản sắc của văn hoá Việt Nam “thuận vợ thuận chồng tát
biển đông cũng cạn”. Lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa đạo lý, giá trị
này có thể coi là một trong những nội dung là cơ sở để giải quyết vấn đề
gia đình.
Ngày 16/7/1998 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã an hành nghị
quyết Hội nghị lần thứ năm (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn
hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. nghị quyết chỉ rõ: “ làm
cho văn hoá thấm sâu vào tòn bộ đời sống và hoạt động xã hội vào từng
người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng. Từng địa bàn dân cư vào
mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời
sống tinh thần cao đẹp. Trình độ dân trí cao phục vụ đắc lực sự nghiệp
các thế hệ trước đây như cuốn tiểu thuyết dài với nhiều chương hồi còn
tình yêu bây giờ giống như một truyện ngắn. Họ làm quen nhanh hơn, trao
nhau nụ hôn nhanh hơn, quyết định đi đến hôn nhân nhanh hơn và đi đến
ly dị cũng nhanh hơn.
Ngoài ra có các nguyên nhân khác như tâm lý muốn có con trai lối
dõi, di dân tự do Từ những vấn đề này cho thấy trong thực tế gia đình
mới ở nước ta đang ở mức báo động. Do vậy yếu tố gia đình mới và cũ
còn tồn tại xen kẽ vào nhau. Xã hội với cơ cấu giai cấp không thuần nhất
và cơ cấu kinh tế nhiều thành phần nên gia đình cũng có nhiều dạng khác
15
nhau bị chi phối bởi tư tưởng và tâm lý các giai tầng khác nhau đối với sự
phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay.
2.3. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN GIA ĐÌNH HIỆN ĐẠI
TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT
NƯỚC.
Qua các phần đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rõ gia đình có tầm
quyết định quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia nói chung và
sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước ta nói riêng. Song như
phần trên đã trình bày thực trạng gia đình Việt Nam còn nhiều bất cập,
hạn chế, nhìn chung chưa đáp ứng được nhiệm vụ phát triển của nước ta
hiện nay và cả trong tương lai. Trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội,
các điều kiện để hình thành gia đình mới không xuất hiện và có tác dụng
đầy đủ lập tức mà chỉ có thể hoàn chỉnh dần từng bước. Đòi hỏi phải có
những giải pháp thích hợp để phát triển gia đình Việt Nam hiện đại trong
quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
2.3.1. Giải pháp về kinh tế, việc làm.
Cần phải có những chính sách nhằm tạo nhiều công ăn việc làm cho
người lao động mà trước hết phải thực hiện nhất quán chính sách kinh tế
nhiều thành phần nhằm phát huy mặt mạnh của các thành phần kinh tế
góp phần giải quyết công ăn việc làm, giải quyết số lao động dưa thừa và
bệnh dịch, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, và phát động mạnh mẽ
phong trào thể dục thể thao trong quần chúng bên cạnh vấn đề sức khoẻ
thì nâng cao chất lượng dân số cũng cần được quan tâm và phát triển.Quan
tâm một cách thiết thực và toàn diện hơn nữa đến phụ nữ, phụ nữ vừa là
mục tiêu vừa là điều kiện quan trọng để xây dựng và củng cố gia đình Việt
Nam hiện đại. Những quan điểm lớn về giải phóng phụ nữ đã được ghi
nhận trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước. Cần tích cực hơn để đạt
được trong những thực tế mục tiêu là có kế hoạch này đưa ra. Qua đó, phụ
nữ Việt Nam có điều kiện làm tốt công việc gia đình và làm tròn trách
nhiệm xã hội.
2.2.3. Giải pháp về giáo dục.
17
Giáo dục trẻ em là điều kiện tất yếu để xã hội tồn tại và phát triển.
Muốn xã hội ngày càng một tiến lên, người lớn đồng thời phải làm hai
công việc có quan hệ khăng khít hỗ trợ lẫn nhau: đẩy mạnh lao động sản
xuất để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và chăm lo nuôi dạy con cái
để đào tạo kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Giáo dục con em ta thành lớp người lao động mới là trách nhiệm
của toàn Đảng toàn dân trong đó có các bậc cha mẹ có vai trò và trách
nhiệm hết sức nặng nề, vẻ vang. Gia đình là một trong những lực lượng
giáo dục quan trọng “gia đình - nhà trường - xã hội” tạo nên một vòng
tròn khép kín của quá trình giáo dục có những chỗ mạnh, những khả năng
khác nhau đối với việc hình thành nhân cách trẻ em. Hồ Chủ Tịch đã dạy:
“Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia
đìnhvà ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”. Thật vậy, gia đình
có vai trò và trách nhiệm rất to lớn trong cả hai quá trình có quan hệ
khăng khít: nuôi - dạy. Gia đình là đơn vị giáo huấn đầu tiên của đứa trẻ,
là nơi hun đúc tâm hồn con người Việt Nam mới cho đứa trẻ. Giáo dục gia
đình góp phần đặt nền móng đầu tiên cho nhân cách từng người trong gia
đình. Gia đình còn là nơi chăm sóc giáo dục trẻ em thường xuyên lâu dài
của nó, vừa tuân thủ quy luật và cơ chế chung của xã hội. Đó là cầu nối
giữa con người thành viên của gia đình với xã hội nhiều thông tin ở ngoài.
Gia đình là tổ ấm tức là đem lại hạnh phúc cho mỗi con người trong
gia đình, các cá nhân được đùm bọc về mặt vật chất, về tâm hồn, về giáo
dục, trẻ thơ có điều kiện an toàn và khôn lớn, người gia có chỗ nương tựa,
người lao động được phục hồi về sức khoẻ và thoải mái về tinh thần. Ở đó
thường ngày diễn ra mối quan hệ thiêng liêng và sâu đậm nghĩa vợ chồng,
cha con, anh em, đó là những người đồng tâm, đồng cảm và nâng đỡ nhau
suốt cả cuộc đời.
Hiện nay, có rất nhiều vấn đề mà ở ngoài xã hội không giải quyết
được, hoặc giải quyết không hiệu quả, nhưng nếu đưa vào gia đình lại giải
quyết có hiệu quả cho nên khi nào yên ấm gia đình hữu ái trong xã hội thì
cá nhân mới thực sự yên tâm và sáng tạo Chính vì những lẽ ấy, việc xây
dựng gia đình mới là một trong những sự nghiệp quan trọng trong sự
nghiệp cách mạng Xã hội Chủ nghĩa ở nước ta, đặc biệt là trong quá trình
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam 1993, Văn kiện hội nghị lần thứ VII Ban
chấp hành TW khoá II, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1993, Văn kiện đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX - Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội năm 2001.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện hội nghị lần thứ II Ban chấp
hành TW khoá III, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội.
5. Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb Chính trị quốc gia Hà
Nội 2003.
6. Chủ nghĩa xã hội khoa học (trích tác phẩm kinh điển) Nxb Sách
giáo khoa Mác-Lênin năm 1997
b. Số lượng gia đình tăng nhanh, kết câú và quy mô
gia đình nhỏ dần. 15
c. Chức năng gia đình biến đổi từ khép kín đến xã hội hoá. 16
d. Hình thức gia đình ngày càng phong phú phức tạp. 17
e. Gia đình là hạt nhân văn hoá. 18
2.2. Nguyên nhân của thực trạng. 19
2.3. Các giải pháp nhằm phát triển gia đình hiện đại trong quá trình
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. 20
2.3.1. Giải pháp về kinh tế, việc làm. 20
2.3.2. Giải pháp về các chính sách xã hội. 21
22
2.2.3. Giải pháp về giáo dục. 22
KẾT LUẬN 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
23