Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của rệp xơ bông trắng ceratovacuna Lanigera Zehntner ((Aphididae, Homoptera) hại mía và biện pháp phòng chống hợp lý tại Hòa Bình - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ QUỲNH TRANG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ðẶC ðIỂM BỆNH LÝ CỦA LỢN
MẮC CIRCOVIRUS (PCV2) VÀ ỨNG DỤNG KỸ THUẬT PCR
ðỂ CHẨN ðOÁN BỆNH LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI



Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận
được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô khoa Thú y,
trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô trường Đại học
Nông Nghiệp Hà Nội, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho tôi
suốt thời gian học tập tại trường.
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Lan và TS.
Nguyễn Bá Hiên đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên
cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới thầy cô trong bộ môn Bệnh
lý, các anh chị đang công tác tại Phòng thí nghiệm trung tâm trường ĐH
Nông nghiệp Hà Nội, gia đình và bạn bè đã giúp tôi thực hiện đề tài này.
Tôi xin cảm ơn các chủ trang trại, các hộ chăn nuôi ở các tỉnh Bắc
Giang, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong quá trình thu thập các mẫu bệnh phẩm ở địa phương.
Cuối cùng, tôi xin kính chúc toàn thể các Thầy, Cô trong khoa Thú y
cùng gia đình luôn mạnh khỏe và công tác tốt.
Hà Nội, ngày 30 tháng 07 năm 2013
Học viên Nguyễn Thị Quỳnh Trang
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
ii

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH v

3.4.4. Phương pháp làm và nhuộm tiêu bản vi thể 25
3.4.5. Phương pháp PCR 28
3.4.5.1. Phương pháp tách chiết DNA 30
3.4.5.2. Phương pháp tiến hành phản ứng PCR 31
3.6. Xử lý số liệu 33
Phần IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
4.1. KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH MỘT SỐ TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG CHỦ YẾU
CỦA LỢN NGHI MẮC PCV2 34
4.2. BỆNH TÍCH ĐẠI THỂ CHỦ YẾU CỦA LỢN NGHI MẮC PCV2 38
4.3. TỔN THƯƠNG VI THỂ CHỦ YẾU CỦA LỢN NGHI MẮC PCV2 42
4.4. KẾT QUẢ PCR MỘT SỐ CƠ QUAN CỦA LỢN NGHI MẮC PCV2 49
Phần V: KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 51
5.1. KẾT LUẬN 51
5.2. ĐỀ NGHỊ 51
Phần VI: TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
iv

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1. Các vacxin phòng bệnh 22
Bảng 3.1. Cặp mồi đặc hiệu với đoạn gen ORF1 của PCV2 24
Bảng 3.2. Thành phần và thể tích cho phản ứng PCR 31
Bảng 3.3. Chu trình nhiệt phản ứng PCR với gen ORF1 của PCV2 32
Bảng 4.1. Nguồn gốc các lợn sau cai sữa trong nghiên cứu 34
Bảng 4.2. Triệu chứng lâm sàng của lợn sau cai sữa nghi mắc PCV2 35
Bảng 4.3. Biến đổi bệnh tích đại thể của lợn sau cai sữa nghi mắc PCV2 39
Bảng 4.4. Biến đổi bệnh tích vi thể một số cơ quan lợn sau cai sữa nghi mắc
PCV2 43

Hình 4.20 Thâm nhiễm tế bào bạch cầu ái toan và tế bào khổng lồ ở hạch ( H.E
40X ) 47
Hình 4.21 Tế bào khổng lồ ở lách 47
Hình 4.22 Thận xuất huyết 47
Hình 4.23 Tế bào khổng lồ nhiều nhân ở hạch lympho ( H.E 40X ) 47
Hình 4.24 Ruột thâm nhiễm tế bào viêm 47
Hình 4.25 Kết quả điện di sản phẩm phản ứng PCR 49
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
1

Phần I
MỞ ðẦU
Ngành chăn nuôi ngày càng phát triển và giữ một vai trò quan trọng
trong nền kinh tế. Đặc biệt ngành chăn nuôi lợn đã có nhiều thay đổi đáng kể,
đáp ứng nhu cầu thực phẩm của người dân. Chăn nuôi lợn đã trở thành nguồn
thu nhập quan trọng và là một trong những ngành nghề góp phần dịch chuyển
cơ cấu nền kinh tế nông nghiệp. Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi,
kéo theo đó là sự gia tăng về tình hình dịch bệnh, trong đó có bệnh do
circovirus gây ra.
Circovirus có 2 type porcine circovirus type 1 (PCV1) và porcine
circovirus type 2 (PCV2). PCV1 không có tính gây bệnh, PCV2 được xem là
tác nhân gây hội chứng còi cọc sau cai sữa ở lợn (PMWS - post weaning
multisystemic wasting syndrome). Đã có rất nhiều nghiên cứu về virus này,
trong đó có các nghiên cứu tìm hiểu kiểu gen của PCV2 ở các nước trên thế
giới. Các nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hồng và cs (2006); T.Opriessnig
và cs (2008) đã xác định trình tự nucleotide của PCV1 và PCV2 tương đồng
nhỏ hơn 80% và tương đồng về aminoacid nhỏ hơn 70% đồng thời cũng xác
định được PCV2 có rất nhiều subtype khác nhau như PCV-2a, PCV-2b, PCV-
2c, PCV-2d và PCV-2e. Circovirus không phải là một virus mới. Đây là một
virus rất phổ biến trong chăn nuôi lợn từ trước tới nay, thậm chí có những đàn

- Làm rõ các đặc điểm triệu chứng lâm sàng, bệnh lý đại thể, vi thể của
một số cơ quan trên lợn mắc PCV2.
- Ứng dụng kỹ thuật PCR để chẩn đoán bệnh. Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
3

Phần II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ PORCINE CIRCOVIRUS TYPE 2
2.1.1. Một số nghiên cứu trên thế giới
Từ tháng 5 - 2003 đến tháng 8 - 2005 Zong và cs đã tiến hành thu thập
ngẫu nhiên 1250 mẫu huyết thanh và các mẫu mô lợn nghi nhiễm PCV2 bao
gồm: lách, gan, hạch lympho từ 6 quận huyện ở Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang.
Sử dụng phương pháp ELISA đã phát hiện thấy 40% mẫu huyết thanh dương
tính với PCV2. Đồng thời, bằng phương pháp PCR trên các mẫu mô cho thấy
tại Hàng Châu đang lưu hành ngoài chủng PCV2 Trung Quốc còn lưu hành
rộng rãi các chủng PCV2 khác trên thế giới như: Hà Lan, Canada, Mỹ, Đức
và Vương Quốc Anh.
Năm 2010, Long và cs đã sử dụng phương pháp PCR-RELP đã xác định
được 19 chủng PCV2 đang lưu hành tại Trung Quốc chia làm 3 kiểu gen
trong đó kiểu PCV-2d là kiểu gen mới và kiểu gen PCV-2a, PCV-2b là hai
kiểu gen phổ biến tại Trung Quốc.
Năm 2010, Jun và cs đã gây nhiễm trên 48 chuột chủng Côn Minh cho
thấy virus nhân lên trong chuột, chuột chết sau 7, 14, 28 và 42 ngày gây
nhiễm tương ứng. Bằng phương pháp PCR tìm thấy kháng thể trong huyết
thanh chuột gây nhiễm, virus PCV2 trong mô lympho chuột. Tổn thương vi
thể do PCV2 tập trung và gây suy giảm chức năng các hạch lympho, thỉnh

dương tính ở các mô khác nhau, cao nhất ở hạch lympho sưng lớn (100%),
88% ở lách, 64% tại phổi, 35% tại thận và 15% tại gan.
Khi tiến hành kiểm tra lợn 1-2 ngày tuổi tại 4 trại miền Trung - Tây Hoa
Kỳ cho thấy lợn chỉ nhiễm PCV type 2. PCV2 nhiễm hầu hết trong các mô
bào nhưng tập trung nhiều nhất trong gan và hệ thống thần kinh trung ương.
Não và tủy nhiễm nhiều hơn mô thần kinh khác.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
5

Pallares và cs (2002) phân tích hồi cứu các trường hợp PMWS tại Mỹ
cho biết chỉ 1,9% nhiễm PCV2 trong tổng số các ca khảo sát ở lợn còi cọc sau
cai sữa. Các trường hợp khác phát hiện có 35,5% PCV2 nhiễm kèm
Mycoplasma hyopneumoniae, 51,9% trường hợp PCV2 nhiễm kèm PRRS.
Năm 2002, một nghiên cứu đầu tiên về chẩn đoán lợn mắc PMWS trong
một con lợn nái rừng Châu Âu, nhóm tác giả đã sử dụng kỹ thuật để phát hiện
DNA của virus PCV2 trong các cơ quan khác nhau bao gồm cả tử cung và
trong tổn thương mô bệnh học. Đây là trường hợp đầu tiên phát hiện thấy
PCV2 trong tử cung một con lợn rừng hoang dã. Năm 2005, trên một con lợn
rừng 6-8 tuổi hấp hối, có các triệu chứng gầy còm, khó thở và chết, virus
PCV2 đã được phát hiện trong các mẫu mô, tổn thương mô bệnh học phù hợp
với biểu hiện trong trường hợp mắc PMWS. Hai lợn rừng đều thuộc vùng lân
cận miền Trung Hy Lạp. Virus PCV2 tách từ hai lợn rừng tiến hành phân tích
đặc tính di truyền và so sánh đặc tính di truyền virus PCV2 lợn rừng và virus
PCV2 lợn trong nước, kết quả thấy PCV2 của hai lợn rừng liên quan chặt chẽ
tới nhau và cùng nhóm với chủng phân lập từ lợn rừng Hungari.
John C.S.Harding và cs năm 1998 đã xác định dịch tễ học và triệu chứng
lâm sàng của lợn mắc PMWS: Ở lợn sau cai sữa tỷ lệ tử vong đạt mức cao
nhất vào tháng 9 của dịch (7,67%), sau đó trở lại 16 tháng sau với tỷ lệ 2,1% -
2,5%. Các nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất là còi cọc (giảm cân, hốc
hác), vàng da (bệnh gan) và khó thở (bệnh đường hô hấp).

sát và và tỷ lệ nhiễm ở các trại biến động từ 1,25 – 83,33%.
Nguyễn Thị Thu Hồng và cs (2006) sử dụng kỹ thuật miễn dịch
Peroxidase trên tế bào một lớp IPMA khảo sát 988 mẫu huyết thanh của lợn
nái ở một số tỉnh thành phía Nam cho biết: Tỷ lệ nhiễm PCV2 xuất hiện ở
Việt Nam ít nhất từ năm 2000 và tỷ lệ nhiễm tăng dần: 38,97% năm 2000;
84,90% năm 2003 và 90,26% năm 2005.
Lê Tiến Dũng (2006) khảo sát trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh cho
biết: bằng kỹ thuật PCR đã phát hiện 50,77% (33/65) lợn còi dương tính với
PCV2 tại 17/22 trại khác nhau của 5/6 địa bàn lấy mẫu.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
7

Nguyễn Thị Thu Hồng và cs (2008) phân lập được 2 mẫu virus PCV2
trên lợn còi cọc sau cai sữa. Các PCV2 phát hiện ở Việt Nam khá tương đồng
với nhau trên 96%, và tương đồng với các chủng từ Trung Quốc. Virus PCV2
phân lập từ thực địa có thể gây nhiễm, nhân lên và kích thích sinh miễn dịch trên
lợn thí nghiệm.
Nguyễn Tiến Hà (2008) kiểm tra 1073 mẫu huyết thanh lợn đực giống và
lợn nái ở 8 tỉnh thành phía Nam trong các năm 2000 - 2006; tỷ lệ huyết thanh
dương tính chiếm 38,9% năm 2000 và 96,47% năm 2006.
Trần Thị Dân và cs (2010) cho biết: lợn được chủng ngừa vacxin thể
ORF2 không thay đổi các chỉ tiêu huyết học và ít bệnh tích liên quan PCV2 so
với lợn không tiêm. Hiệu quả kinh tế được cải thiện ở lô đối chứng trong điều
kiện trại bị nhiễm Circovirus.
Nguyễn Thị Thu Hồng và cs (2010) so sánh hiệu giá kháng thể virus
DTL và kháng PCV2, không nhận thấy ảnh hưởng của PCV2 đến hiệu quả
miễn dịch sau tiêm phòng vacxin DTL. Điều này rất có ý nghĩa là loại được
nguyên nhân nghi ngờ có ảnh hưởng đến hiệu quả miễn dịch sau tiêm phòng
vacxin DTL trên đàn lợn có sự hiện diện của PCV2.
Huỳnh Thị Mỹ Lệ và cs (2012) sử dụng kỹ thuật Nested PCR phát hiện

PCV1 phân lập được đầu tiên ở Đức năm 1974 từ dòng tế bào thận lợn
PK15 nhiễm lâu dài virus này, các nghiên cứu huyết thanh ban đầu cho thấy
virus có mặt trong tất cả các con lợn kiểm tra. Những nghiên cứu gần đây, sử
dụng nhiều hơn các phản ứng huyết thanh học cho thấy nhiễm PCV1 không
nhiều như chúng ta đã nghĩ. Kiểm tra những động vật khác nhau chỉ có lợn
nhà, lợn con và lợn rừng có kháng thể. PCV1 được coi là không gây bệnh ở
lợn, tuy nhiên nó được phân lập ở lợn con chết trước khi sinh.
PCV2 phân lập đầu tiên tại Pháp năm 1997 những nghiên cứu tiếp theo
chỉ ra một cách rõ ràng sự hiện diện của kháng thể capsid riêng của PCV2
(PCV2 capsid-specific antibodies) và chính bản thân virus trong mô, huyết
thanh. Virus được phân lập ở hầu hết các vùng trên thế giới - những nơi nuôi
lợn bao gồm: Nam Mỹ, Châu Á, Châu Âu và châu Đại Dương. PCV2 trên
toàn cầu có sự tương đồng là 96% và tương đồng ít nhất 60% với PCV1, sự
khác nhau cơ bản là trên protein capside.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
9

Năm 2008, những thành viên của Hiệp hội các nước châu Âu về bệnh do
Circovirus gây ra trên lợn, bao gồm 15 phòng thí nghiệm ở châu Âu và Mỹ đã
đề xuất một danh pháp tiêu chuẩn hóa cho việc định kiểu gen của PCV2. Đề
xuất này bước đầu đã được thông qua phương pháp dựa trên so sánh trình tự
cặp (PASC) để xác định kiểu gen PCV2. Phân tích PASC được áp dụng cho
trình tự nucleocapsid (ORF2). Dùng phương pháp phân tích này và khoảng
cách ngưỡng 0,035, kiểu gen của PCV2 được gọi tên là PCV2a, PCV2b,
PCV2c.
Tháng 10 năm 2009, Wang và cs xuất bản bài báo “Genetic varition
analysis of Chinese strain of porcine circovirus type 2” trong 40 hệ gen PCV2
được phân lập trong khoảng những năm 2004 – 2008 được so sánh và đưa ra
sự tồn tại của 2 kiểu gen PCV2 mới là PCV2d và PCV2e.
2.2.2. Cấu trúc virus

thiếu ORF3 được thấy là có độc lực kém hơn PCV2 tự nhiên. Sự tương đồng
aminoacid của protein này giữa PCV1 và PCV2 là 61±5 %.
ORF4 mã hóa cho protein có trọng lượng phân tử 6,5 kDa (vị trí
nucleotide khoảng từ 912-733) có sự tương đồng về phân tử protein do ORF4
mã hóa với PCV1 là 83%, protein này giàu cysteine nhưng chưa rõ chức
năng.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
11

2.2.3. Sức ñề kháng
PCV2 có sức đề kháng cao và bền vững với nhiệt độ cao, formalin, pH
thấp. Có thể duy trì tính gây nhiễm trong điều kiện pH < 2 và giảm rõ ràng ở pH
11-12.
PCV2 bất hoạt ở nhiệt độ cao 56
0
C (133
0
F) trong 1h, trong 15 phút ở
75
0
C (167
0
F), và bị diệt ở 80
0
C trong 15 phút. Trong điều kiện khô, virus chịu
được nhiệt độ 120
0
C trong 30 phút.
Do virus có tính đề kháng cao, ngay trong điều kiện khử trùng rất cao,
PCV2 vẫn có thể tìm thấy trong huyết tương lợn sau điều trị.

số vi khuẩn gây bệnh khác như: Streptococcus suis, Pastereulla mutocida,
Actinobacillus pleuromoniae (APP), Mycoplasma hyopyneumoniae (MH),
Haemophilus parasuis
Theo Taner KARAO và cs (2011), PDNS (Porcine Dematitis and
Nephropathy Syndrome) - Hội chứng viêm da và viêm thận: phát hiện ra lần
đầu tiên vào năm 1993 tại Anh và sau đó là hàng loạt các nước có ngành công
nghiệp chăn nuôi lợn khác. Bệnh gây ra các tổn thương trên da, thận, phổi, dạ
dày, các hạch lympho. Biểu hiện bệnh lý đặc trưng viêm ống thận, viêm cầu
thận. Căn nguyên chưa được xác định rõ, người ta thấy nó gắn liền với
PRRSV, Pasteurella mutocida và PCV2.
PRDC (Porcine Respiratiory Diseases Complex) – Bệnh phức hợp hô
hấp trên lợn với các triệu chứng biểu hiện như lợn suy nhược, bỏ ăn, hắt hơi,
ho, khó thở, chảy nước mắt, đi đứng khó khăn do bị viêm đa khớp và có khi
lợn bị co giật.
2.3.1. Loài mắc bệnh
Zimmerman và cs (2012) cho biết PCV2 phổ biến trên đàn lợn trên toàn
thế giới, lợn nhà và lợn hoang dã đều là vật chủ tự nhiên của nó, có nghĩa là
khi nhận dạng phân tích nucleotide của PCV2 phân lập từ lợn rừng giống
hoàn toàn khi phân lập từ lợn nhà, bao gồm cả PCV2a và PCV2b.
Những loài khác, bao gồm cả con người không dễ mắc PCV2. Không
thấy có các bệnh tích đại thể và tổn thương vi thể sau khi gây nhiễm PCV2
trên cừu hoặc bê, kháng nguyên không tìm thấy ở trong các mô. Bằng phản
ứng ELISA, John A.Ellis và cs (2001) đã chứng minh ngựa, trâu, bò thịt, bò
sữa không cảm nhiễm với căn bệnh.
Chuột là một ngoại lệ, có nghĩa là PCV2 có khả năng nhân lên và lây
truyền giữa các con, nó đóng vai trò là vật chủ thay thế hoặc là một vectơ
truyền bệnh.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
13


Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
14

2.3.4. ðường xâm nhập
Sự lây nhiễm có thể xảy ra do tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp.
Tiếp xúc trực tiếp với con vật mắc bệnh hoặc phân, nước tiểu, dịch
miệng, mũi của con vật mắc bệnh.
Tiếp xúc gián tiếp thông qua dụng cụ chăn nuôi như: máng ăn, máng
uống, nền chuồng…
Lợn cũng có thể nhiễm khi ăn mô sống của động vật có virus trong máu.
Việc lây nhiễm qua nhau thai xảy ra ở lợn nái mang thai 3 tuần trước khi
sinh.
Lợn nái thụ tinh nhân tạo với tinh dịch có chứa PCV2 gây xảy thai và
thai của chúng bị nhiễm virus. Tuy nhiên vẫn chưa biết được lượng tinh dịch
thải ra đủ để gây nhiễm cho lợn nái và con của chúng.
2.3.5. Cơ chế sinh bệnh
Tế bào đích của PCV là tế bào đơn nhân lớn/tế bào dòng đại thực bào và
các tế bào trình diện kháng nguyên, tế bào đuôi gai; ở mức thấp hơn là các tế
bào biểu mô ống thận, tế bào phế quản và tế bào tiểu phế quản; ngoài ra, các
tế bào nội mô, tế bào gan, tế bào lympho khác cũng là tế bào đích.
Tế bào lympho nhiễm virus làm thay đổi hình thái vi thể của các nang
lympho và các hạch lympho, hạch amidan, mảng Peyer và lách (Magar và cs,
2000). Sự thâm nhiễm PCV2 trong tế bào thực bào, tế bào võng lưới nội mô
và các tổn thương u hạt do miễn dịch tế bào là đặc trưng của lợn sau cai sữa
mắc PCV2.
Trong dòng tế bào đại thực bào, tế bào đại thực bào phế nang là tế bào
đích đầu tiên của PCV2. Các đại thực bào nhiễm PCV2 giảm khả năng kiểm
soát sự xâm nhiễm các virus khác, các tế bào đại thực bào phế nang nhiễm
PCV2 giảm khả năng sản sinh O
-

do kết hợp với virus tác động đến tủy xương hoặc do suy dinh dưỡng.
Các biểu hiện lâm sàng khác có thể có của lợn trước khi chết do PMWS
là: què quặt, suy tim, viêm khớp, chết đột ngột, co giật.
Nghiên cứu của Welch J và cs (2006); Yilmaz A và cs (2004), trong đàn
với triệu chứng PMWS ở mức nhẹ, dấu hiệu ở mức độ khác nhau tùy thuộc
vào quá trình quản lý chăm sóc, nhưng dễ nhận thấy nhất là dũi mõm liên tục.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
16

Khi có các yếu tố stress, nuôi chung lợn các lứa tuổi làm tăng nguy cơ mắc
bệnh và biểu hiện PMWS trầm trọng hơn.
Hội chứng viêm da và viêm thận (PDNS)
PDNS xảy ra ở lợn con, lợn thịt và lợn trưởng thành (11 – 14 tuần tuổi).
Tỷ lệ nhiễm khoảng dưới 1% nhưng đôi khi có thể cao hơn. Tỷ lệ chết có thể
lên đến 100% ở đàn lợn trên 3 tháng tuổi nhưng chỉ khoảng 50% với lợn nhỏ
hơn. Lợn chết chỉ sau một vài ngày có biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Những
con sống sót có thể tăng trọng trở lại sau 7 – 10 ngày.
Lợn mắc PDNS có biểu hiện mệt mỏi, ủ rũ, bỏ ăn, sốt (41
0
C) hoặc không
sốt, nằm một chỗ, lười vận động và/hoặc đi lại khó khăn, cứng nhắc. Triệu
chứng rõ nhất là trên da xuất hiện những đám phát ban có màu đỏ tía, không
có hình dạng nhất định, bắt đầu ở vùng chân sau và mông, có trường hợp nốt
phát ban lại phân tán khắp cơ thể. Bệnh tiến triển, hình thành đám vẩy sẫm ở
những nơi có bệnh tích, sau đó nhạt màu dần, đôi khi để lại sẹo.
Hội chứng rối loạn sinh sản ở lợn
PCV2 có liên quan đến hiện tượng sảy thai và thai chết non, tuy nhiên
trong thực tế hiếm gặp. Điều này có thể giải thích do tỷ lệ huyết thanh dương
tính với PCV2 ở lợn trưởng thành cao và do đó lợn sinh sản thường không
mẫn cảm với bệnh. Trong những trường hợp rối loạn sinh sản do PCV2, lợn

Bệnh tích vi thể: Các tổn thương vi thể tìm thấy trong các cơ quan
lympho: hạch lympho, amidan, mảng Peyer ruột và lách. Trong mô lympho,
tổn thương đặc trưng là suy giảm tế bào lympho sự xuất hiện của thể vùi và tế
bào khổng lồ đa nhân.
Các tổn thương ngoài cơ quan lympho là: Viêm phổi kẽ, viêm và thâm
nhiễm tế bào đơn nhân ở gan ở mức độ khác nhau, viêm thận kẽ.
Hoại tử biểu mô đường hô hấp, viêm tiểu phế quản với sự xâm nhập của tế
bào bạch cầu đơn nhân lớn và bạch cầu trung tính. Tổn thương phổi đặc trưng bởi
sự hình thành u hạt kẽ phổi, xâm nhập tế bào đại thực bào, tế bào lympho vào các
phế nang. Virus tìm thấy trong các tế bào biểu mô đường hô hấp.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
18

Thận có thâm nhiễm các tế bào lympho trong tế bào tổ chức u nang thận
và viêm hạch vùng vỏ và tủy thận, rải rác hoặc một vùng rộng.
Trong đường tiêu hóa các u tuyến (villous) từ nhẹ đến nặng. Thường
virus xâm nhập và nhân lên trong tế bào lympho biểu mô tuyến và lớp dưới
biểu mô. Kháng nguyên virus phát hiện thấy tại tế bào biểu mô, niêm mạc và
hạ niêm mạc ruột non.
2.3.8. Chẩn ñoán
Chẩn đoán PCV2 ở lợn hoặc nhóm lợn con sau cai sữa khi có đầy đủ cả
3 tiêu chuẩn sau:
(1) Sự xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng còi cọc và giảm cân, có hoặc
không có dấu hiệu khó thở, hạch bẹn nông sưng và thỉnh thoảng xuất hiện
triệu chứng vàng da.
(2) Có các tổn thương mô bệnh học bao gồm: Sự suy giảm các tế bào
bạch cầu, viêm u hạt các cơ quan gồm mô lympho, phổi, gan và thận.
(3) Tìm thấy kháng nguyên PCV2 trong các mô tổn thương.
Chẩn đoán PCV2 chỉ có các dấu hiệu lâm sàng và tổn thương bệnh lý là
không đủ, và không có dấu hiệu lâm sàng và tổn thương bệnh lý cũng có thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status